Quyền năng của Thiên Chúa
Tại sao lại có Năm Đức Tin? Đây không phải là câu hỏi tu từ và xứng đáng với một câu trả lời, nhất là xét theo bình diễn bên ngoài của sự khao khát mong đợi điều mà đang được soạn thảo trong Giáo Hội cho một sự kiện như vậy.
ĐTC Benedict XVI đã đưa ra một động cơ thúc đầy đầu tiên khi Ngài tuyên bố: “Sứ vụ của Giáo Hội, giống như đức Ki-tô, chủ yếu để nói về Thiên Chúa, nhớ quyền tối cao của Người, hồi tưởng tất cả, đặc biệt Ki-tô hữu, những người đã đánh mất tính cách nhân của chính mình, của quyền hạn Thiên Chúa đối với những gì thuộc về Người, đó là, của chúng ta. Một cách chính xác là để ban cho một xung lương lành mạnh trước sứ vụ của toàn Giáo Hội dẫn dắt con người ra khỏi miền hoang dã trong cái mà tự họ thường thấy đối với địa vị của đời sống, tình bằng hữu với Chúa Giê-su đã cho chúng ta đời sống đầy đủ.”
Đây là mục đích chính, để mà không quên những gì mô tả đặc điểm của đời sống chúng ta: niềm tin. Ra khỏi sa mạc, mang theo sự im lặng của những ai không nói chúng ta lãnh nhận niềm vui của đức tin, cách đó nói về nó trong một đường lối được hồi sinh.
Do đó năm nay trọng tâm nhắm vào toàn bộ Giáo Hội để xét theo bề ngoài của sự khủng hoảng đức tin đầy kịch tính tác động đến nhiều Ki-tô hữu, Giáo Hội lại có thể lại một lần nữa bày tỏ với sự hang hái hồi sinh dung mạo đích thực của Đức Ki-tô mà Giáo Hội kêu gọi sequela của mình.
Đó là năm dành cho tất cả chúng ta bởi qua cuộc hành trình không ngừng của đức tin chúng ta cảm thấy sự cần thiết để những bước đi của chúng ta đầy nghị lực vào lúc mà làm cho chúng ta mệt mỏi và chậm chạp, và để cho chúng ta cương quyết nhất. Những ai hiểu được sự yếu đuối của mình thường mang bóng dáng lãnh đạm và thuyết bất khả tri luận để tìm thấy ý nghĩa bị đánh mất và hiểu được giá trị một thành viên của một cộng đồng, sự khuây khỏa thực sự của sự trơ trụi thuộc chủ nghĩa cá nhân của thời đại chúng ta không thể ngăn cản được.
Trong “Porta fidei”, ĐTC Benedict XVI viết rằng “cánh cửa của đức tin luôn mở rộng.” Điều này có ý nghĩa rằng không ai có thể cảm thấy mình bị cản trở khỏi sự tự vấn về ý nghĩa của cuộc sống và những câu hỏi quan trọng gieo vào chúng ta bởi sự cố chấp của một sự khủng hoảng phức tạp mà làm tăng sự nghi ngờ và làm mờ hy vọng.
Yêu cầu nghi vấn về đức tin không có nghĩa là tự tách rời thế giới, đúng hơn nó có nghĩa là tỉnh táo có ý thức trách nhiệm mà duy nhất có trong sự quan tâm đối với nhân loại và thời cơ lịch sử này.
Năm mà việc cầu nguyện và sự suy gẫm có thể trở nên dễ dàng hơn để liên kết với sự hiểu biết về đức tin, điều mà phải trở nên cấp bách và cần thiết cho tất cả. chúng ta không thể kể đến những người có đức tin tôn giáo để lao vào những lĩnh vực khác của khoa học tạo công việc của họ chuyên nghiệp hơn, lẽ ra tự họ phải tìm ra sự yếu đuối và thiếu hiểu biết về đức tin. Một sự thiếu cân bằng không thể tha thứ, điều mà không cho phép tính đồng nhất của chúng ta phát trểện, điều mà ngăn cản chúng ta khỏi việc trao trách nhiệm đối với sự lựa chọn đặt ra.
(Nguồn: L’Osservatore Romano)
Jos. Tú Nạc, NMS
Lòng tin của những nhà thông thái
Chẳng lẽ họ tin bởi vì đó là tiêu chuẩn và họ chịu nhượng bộ áp lực từ những người có quyền thế và những người cùng địa vị xã hội với họ sao? Tôi không nghĩ vậy. Những nhà tư tưởng vĩ đại thường không dễ chịu khuất phục. Họ thường là cái gai trong mắt những người có quyền hành và những thể chế thủ cựu. Tâm trí sắc bén và sáng tạo của họ thường khiến cho những người có quyền thế và những người cùng địa vị xã hội với họ phải lúng túng khi họ trình bày những bài diễn thuyết trí tuệ, đưa ra những lý thuyết cấp tiến, và giải quyết những vấn đề tưởng như không có giải pháp.
Và tôi không có ý chỉ nói đến những tín hữu hoặc những người theo thuyết độc thần. Trở lại thời Ai Cập cổ đại, một người tên Imhotep được công nhận là kỹ sư, kiến trúc sư (ông chính là người xây nên kim tự tháp đầu tiên), và nhà vật lý học đầu tiên trong lịch sử, cũng như nhà thơ, triết gia và là vị tư tế đứng đầu trong tôn giáo Ai Cập. Ông là một người rất khôn ngoan, và tất cả những gì ông viết mà chúng ta tiếp cận ngày hôm nay cho chúng ta biết rằng ông không hề thấy có bất kỳ sự mâu thuẫn nào giữa kiến thức và lòng tin của ông.
Và rồi những người Hy Lạp khôn ngoan, những người mang đến cho chúng ta toán học, nghệ thuật, nền dân chủ, triết học… Ngày nay, có thể chúng ta nghĩ họ thật ngớ ngẫn khi tin vào những vị thần và những câu chuyện xem ra chẳng có ý nghĩa gì đối với bất cứ ai trong thế giới hiện đại, nhưng không phải đã họ mê tín một cách ngu xuẩn. Họ đã tin vì họ kết luận rằng có một thế giới thần linh vượt xa sự hiểu biết của họ.
Hãy nghĩ về những nhà tư tưởng Do Thái, Maimonides và Spinoza, cả hai đều là triết gia vĩ đại - một người bảo thủ, người kia cấp tiến hơn - và cả hai đều là những người có lòng tin, dù là khác thường.
Và lẽ dĩ nhiên vẫn có và tiếp tục có những nhà tư tưởng Kitô giáo vĩ đại như Tôma Aquinô, Augustinô, Leo Tolstoy, C.S Lewis, G.K. Chesterton, và rất nhiều những người khác nữa, không ai trong số họ cho rằng lòng tin của họ mâu thuẫn hoặc gây trở ngại cho trí tuệ của họ bay cao.
Thiên Ân dịch
Tôi chọn lòng tin
Một người bạn của tôi nghiên cứu rộng một số tôn giáo, và chúng tôi thường có những cuộc thảo luận sâu về những kiểu niềm tin khác nhau - những cuộc bàn luận lúc nào cũng đề cập đến những niềm tin của chính chúng tôi.
Một lần, bạn tôi nói: “Tôi tôn trọng những ai tin vào Chúa, nhưng bản thân tôi không thể. Tôi không cảm nhận được. Tôi cũng không hiểu tất cả những điều thuộc về siêu nhiên và tinh thần ấy”.
Tôi có thể hiểu. Không phải khía cạnh không tin vào Chúa, nhưng chính là khía cạnh không cảm nhận hoặc không hiểu về những gì thuộc về siêu nhiên, và đây cũng là điều rất nhiều người đánh đồng với lòng tin.
“Bản thân tôi cũng không cảm nhận được” - tôi nói với anh ta - “Tôi tin vì tôi chọn lựa như thế. Đối với tôi, tin chính là một sự lựa chọn”.
Và từ hôm ấy, tôi suy nghĩ rất nhiều về cuộc trò chuyện và câu trả lời của mình. Tôi lớn lên trong một môi trường đức tin, nhưng trải qua những giai đoạn hoài nghi của tuổi niên thiếu. Rất nhiều người bạn của tôi, cả những người dày dạn kinh nghiệm và những người đồng trang lứa, đã nói với tôi về những trải nghiệm giúp xây dựng lòng tin của họ. Rất nhiều trong số họ tập trung vào những sự việc siêu nhiêu - những dấu chỉ, những giấc mơ, những điều huyền bí, những sự việc không thể giải thích được, mà họ gọi là phép lạ. Bản thân tôi chưa bao giờ có được bất kỳ một trải nghiệm nào thuộc những dạng này, và đôi khi tôi nghĩ về những giải thích logic cho những điều ấy.
Tuy nhiên, những gì tôi nhìn thấy chính là một chút bày tỏ tình yêu và chăm sóc của Chúa trong cuộc sống hằng ngày của mình. Mặc dù một số tình huống cũng có thể được giải thích như là những sự trùng hợp hạnh phúc hoặc những hành động tốt lành từ phía ai đó, nhưng chúng đúng với những gì tôi đọc và được dạy về bản tính và điều cốt lõi của Chúa. Qua đó, tôi cảm nhận mình được yêu và được quan tâm, rằng ai đó đang trông chừng tôi. Tôi đã chọn tin rằng chính Chúa đang hoạt động trong cuộc sống của tôi, mặc dù tôi không cảm nghiệm được những gì mang đến cảm giác thăng hoa thuộc về tinh thần hoặc nhìn thấy những chùm pháo hoa đẹp mắt như một số người. Điều tôi có chính là một ngọn lửa dịu nhẹ, nhưng nó đã sưởi ấm tôi qua những tháng năm cho đến tận lúc này.
Tôi sống một cuộc sống hơi khác thường, nhưng Chúa luôn để mắt đến tôi, và tận thâm tâm, tôi có được một sự bảo đảm rằng Ngài sẽ tiếp tục trông chừng tôi. Cuộc sống của tôi ở trong đôi tay Ngài. Tôi tin bởi vì tôi chọn lựa như thế.
An Nhiên
Lòng tin và những vùng an toàn
Mọi người thường nói về “thoát ra khỏi vùng an toàn của bạn”. Tôi ghét điều ấy. Phải thú nhận rằng tôi thích những vùng an toàn của tôi. Tôi không thích làm những điều mới, đặc biệt những điều tôi không hiểu hoặc không nghĩ mình sẽ làm tốt. Tuy nhiên, dạo gần đây, tôi thường bị đẩy ra khỏi vùng an toàn của mình. Tôi nghĩ về tầm quan trọng của một số dự án mới, và tôi bắt đầu quặn lòng và muốn thoái lui.
Tôi bàn luận một dự án với người bạn, và anh ta cho ý kiến. Anh ta thuộc tuýp người nhìn xa trông rộng - anh ta hoàn toàn không hoảng sợ trước những khả năng phải làm việc cực nhọc và những rủi ro. Đối với anh ta, dự án càng lớn, càng phiêu lưu càng tốt. Khi anh ta thảo kế hoạch, tôi bắt đầu cảm thấy quá sức. Anh ta nhận ra khi tôi ngồi đờ mắt ra.
“Chuyện gì thế?”
“À…”, tôi lắp bắp, và cố gắng tỏ vẻ ủng hộ, “một kế hoạch hay, nhưng dường như hơi lớn và hơi quá sức đối với mình.”
“Bạn biết không, mọi thứ dường như có vẻ quá sức đối với bạn lúc này. Có thể bạn cần thêm một chút lòng tin.”
Đúng thế, tuy nhiên, tôi không muốn thừa nhận điều đó.
Sau đó, khi tôi trò chuyện với Chúa, Ngài xác nhận rằng tôi hơi nhút nhát. Kế đến, Ngài chỉ cho tôi 3 bước cho chương trình xây dựng lòng tin.
1. Nuôi dưỡng lòng tin. Cũng như thân xác của tôi không thể sống được nhờ vào những thức ăn thiếu dinh dưỡng hoặc không thường xuyên được bồi bổ, lòng tin của tôi cũng không thể sống được cũng như không thể phát triển mạnh nếu tôi không thường xuyên nạp vào những thức ăn tinh thần bổ dưỡng (x. Rm 10,17). Khi tâm hồn tôi tràn ngập những lời hứa của Chúa, lòng tin của tôi sẽ không dễ dàng giao động.
2. Củng cố lòng tin. Lòng tin không phát triển khi mọi việc dễ dàng, khi tất cả những nhu cầu của tôi đều được chu cấp, khi tôi có thể tự xoay sở mọi việc, hoặc khi tôi biết trước sự việc. Tôi làm tốt trong những hoàn cảnh như thế; chỉ khi sự việc trở nên khó khăn, khi tôi không thể tự mình gánh vác, khi tôi phải phó thác mọi việc cho Chúa và tin tưởng Ngài thực hiện những gì tôi không thể, chính lúc ấy lòng tin của tôi mới được củng cố. “Hãy hết lòng tin tưởng vào Đức Chúa, chớ hề cậy dựa vào sự hiểu biết của con. Hãy nhận biết Người trong mọi đường đi nước bước, Người sẽ san bằng đường nẻo con đi” (Cn 3,5-6). Khi tôi cậy dựa vào Chúa và đặt niềm trông cậy của tôi nơi những lời hứa của Ngài, lòng tin của tôi trở nên mạnh mẽ hơn.
3. Kéo giãn lòng tin. Một khi lòng tin của tôi đã được củng cố, tôi phải bước ra để thực hiện những điều tưởng chừng như quá sức. Nói cách khác, thoát ra khỏi vùng an toàn của mình. Một lần nữa, lòng tin không có cơ hội để phát triển khi mọi việc diễn tiến một cách thông thường. Đôi khi, những khó khăn và thử thách tự xảy đến, nhưng nếu tôi thật sự muốn lòng tin của mình phát triển, tôi cần lựa chọn thử những điều mới; tôi cần lựa chọn để cho mình bị thử thách; tôi cần lựa chọn để mình bị kéo giãn.
Trong Kinh Thánh, một số người bị đặt vào những hoàn cảnh khó khăn, họ bị buộc phải kéo căng lòng tin, nhưng những người khác chủ động hơn vì họ trông đợi những điều lớn lao hơn từ Chúa, và Ngài giúp họ vượt qua. Một số trong những điều lạ thường nhất xảy ra khi người ta bước đi bằng lòng tin và làm những việc tưởng chừng như điên rồ trong mắt những người khác.
Chẳng hạn như, một lần khi các môn đệ của Chúa Giêsu đang trên thuyền, cách bờ biển khoảng vài dặm, Chúa Giêsu đã đi trên mặt nước để đến với họ. Đó là một phép lạ lớn, nó củng cố lòng tin của các môn đệ. Sau đó, bằng lòng tin, Phêrô đã bước ra khỏi thuyền, đi trên mặt nước để đến với Chúa Giêsu. Phêrô không bắt buộc phải làm như thế, nhưng tôi chắc điều ấy làm tăng lòng tin của ông lên rất nhiều khi ông cũng có thể bước đi trên mặt nước, dù chỉ trong chốc lát (x. Mt 14,22-32).
Vậy đức tin mạnh mẽ hơn ở mức độ nào? Chúa Giêsu đã nói rằng đức tin chỉ cần lớn bằng hạt cải cũng có thể làm được những điều trọng đại. Đôi khi, đó là tất cả những gì chúng ta có thể gom lại - lòng tin lớn bằng một hạt cải - nhưng những lúc đó, Chúa sẽ sử dụng những gì chúng ta có. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng Ngài không muốn đức tin của chúng ta chỉ dừng lại ở mức độ nhỏ bé ấy. Tôi nghĩ Ngài mong muốn lòng tin của chúng ta phát triển lên khi chúng ta nhìn thấy Ngài giúp chúng ta vượt qua được hết lần này đến lần khác.
Chúa có những kế hoạch lớn cho mỗi chúng ta, và Ngài mang chúng ta vào trong những hoàn cảnh để chúng ta chuẩn bị sẵn sàng cho những kế hoạch ấy. Tuy nhiên, cần lòng tin để bước đi, để hành động, để tin cậy vào những gì Ngài mong muốn nơi chúng ta. Nếu chúng ta chần chừ cho đến khi mọi việc có vẻ an toàn, chúng ta có thể bỏ lỡ mất cơ hội.
Một định nghĩa về lòng tin chính là “tin tưởng hoặc kỳ vọng nơi khả năng của người khác.” Lòng tin chính là biết rằng bản thân chúng ta không thể, nhưng vẫn làm những gì Chúa bảo chúng ta làm, bởi vì chúng ta tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa sẽ làm thông qua chúng ta. “Không phải chúng tôi đủ khả năng nên nghĩ rằng mình làm được gì, nhưng khả năng của chúng tôi là do ơn Chúa” (2 Cr 3,5). “[Chúa Giêsu] quả quyết với tôi: ‘Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối’” (2 Cr 12,9).
Thiên Ân dịch
Lòng tin là một ân huệ
Vào
khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. Thấy
người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi
la lên. Đức Giêsu liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng
sợ!” Ông Phêrô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin
truyền cho con đi trên mặt nứơc mà đến với Ngài”. Đức Giêsu bảo ông:
“Cứ đến!” Ông Phêrô từ thuyền bứơc xuống, đi trên mặt nước, và đến với
Đức Giêsu. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông
la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông
và nói: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?” Khi thầy trò đã
lên thuyền, thì gió lặng ngay. Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và
nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!” (Mt 14,25-33)
(EMTY) - Khi đọc Kinh Thánh, có thể chúng ta bỏ qua những điều đơn giản, luôn có những câu trả lời cho mọi câu hỏi mà chúng ta đặt ra. Rất nhiều khi chúng ta thắc mắc: “Cần gì để nhận được ân huệ mà Chúa Giêsu đã ban cho những người được chữa lành trong Kinh Thánh?”
Nếu đọc kỹ, chúng ta sẽ nhìn thấy được rằng điều chính yếu để nhận được ân huệ của Chúa chính là “có lòng tin”. Ân huệ của Chúa luôn dành cho chúng ta, chúng ta chỉ cần nhận lấy nó và mang nó vào trong cuộc sống của chúng ta; và cách duy nhất chúng ta có thể làm được như thế chính là khiêm hạ trước Chúa và đón nhận bằng lòng tin. Nhờ sự khiêm tốn, chúng ta sẽ có thể chấp nhận bất cứ kết quả nào, và chúng ta có thể từ bỏ sự kiêu ngạo và quyền điều khiển của mình. Khi chúng ta có lòng tin, chúng ta sẽ tiếp tục bước đi trong ân huệ của Chúa, nhờ điều này, chúng ta có thể làm được những việc mà bản thân chúng ta không thể làm. Thông qua sự khiêm tốn và ân huệ của Ngài, Thiên Chúa được tôn vinh và chúng ta được làm cho nhỏ bé lại. Nhưng cũng chẳng sao, bởi vì chúng ta được bước đi cùng với Ngài và trải nghiệm cuộc sống theo cách chúng ta chưa từng được trải nghiệm trước đây.
Khi chúng ta bước đi bằng lòng tin và vâng phục Chúa, chúng ta có thể tin tưởng rằng bất cứ điều gì chúng ta làm đều sẽ được bao bọc trong ân sủng và ân huệ của Ngài.
Bạn thấy đấy, để nhận được ân huệ của Chúa, học được cách bước đi trong ân huệ ấy và được bao bọc trong ân sủng Ngài, chúng ta cần phải có lòng tin và loại bỏ sự sợ hãi.
Chính lòng tin đã khiến Phêrô bước đi trên mặt nước, và chính sự sợ hãi đã làm cho ông bị chìm. Không phải nhờ vào khả năng của chính mình mà Phêrô có thể bước đi trên mặt nước, nhưng chính nhờ vào ân huệ của Chúa. Phêrô đã tự rời xa ân huệ Chúa khi ông bắt đầu sợ hãi.
Khi chúng ta bước đi trong sợ hãi chính là lúc chúng ta không bước đi trong ân sủng của Chúa. Nếu chúng ta mang những ước muốn của chúng ta đặt trước Chúa, thì chúng ta tận dụng ân huệ của Ngài.
Ân huệ của Chúa chính là một điều tuyệt đẹp, nó luôn ở quanh ta. Bạn sẽ làm gì với ân huệ của Chúa? Bước đi trong nó, hay quay lưng lại với nó, hay xem thường nó?
Nếu chúng ta bước đi trong lòng tin cùng với ân huệ của Chúa, chúng ta cần phải loại bỏ sự sợ hãi và tin tưởng rằng Chúa là Đấng như Ngài đã nói về Ngài.
Áp dụng vào cuộc sống
Những sợ hãi gì đang ngăn cản bạn bước đi trong lòng tin?
Hãy liệt kê 3 điều mà bạn nhìn thấy được ân sủng Chúa đang hoạt động và hiện diện trong cuộc sống của bạn.
Hãy liệt kê 3 lý do tại sao bạn có thể tin tưởng Chúa và 3 lý do tại sao bạn không tin tưởng Chúa?
Bạn có tin rằng quyền năng chữa lành của Chúa Giêsu vẫn có thể được tìm thấy nơi thế giới ngày nay không? Tại sao có và tại sao không?
Bạn tin Chúa có thể làm gì trong cuộc sống của bạn nếu bạn có được lòng tin bằng hạt cải?
An Nhiên
Kiên trì trong gian nan, thử thách
Những khó khăn mà bạn đối mặt trong cuộc sống định hình nên tính cách. Đó là những công cụ Chúa dùng để giúp bạn trở nên những tôi nam tớ nữ mà Ngài cần bạn trở thành, và là người bạn ao ước trở thành. Chúa biết bạn nghĩ rằng sẽ tốt hơn rất nhiều nếu không có những khó khăn xuất hiện trên đường đời của bạn, và rằng tất cả những khó khăn ấy cản trở việc bạn thi hành ý định của Chúa, nhưng bạn cần tin tưởng rằng Chúa biết điều tốt nhất cho bạn.
Chúa không đặt ý định của Ngài trước mặt bạn như một hộp bánh cookies ngon tuyệt và nói: “Đây, hãy nhận lấy.” Ý định của Ngài thường được đặt rất cao, rất khó với, và bạn phải nỗ lực rất nhiều mới đạt được mục tiêu - đó chính là những gì Chúa dùng để làm bạn trở thành một người mà bạn cần phải trở thành.
Chúa biết rõ những gì bạn trải qua, và những khó khăn, “những gian nan trong cuộc sống” chính là những gì xuất hiện trong quá trình nỗ lực thi thành thánh ý Ngài và trở thành người mà Ngài muốn nơi bạn. Ngay cả những điều như xây dựng một cuộc hôn nhân bền vững, nuôi dạy con cái, có một cuộc sống tinh thần vững vàng, và làm gương sáng, làm chứng cho những ai chưa biết Chúa, chính là những việc bạn phải làm để tôn vinh Chúa, và bạn thường thiếu sót, gặp khó khăn, thử thách và cảm thấy bị chỉ trích khi làm những việc ấy.
Bạn muốn làm tất cả những gì Chúa yêu cầu nơi bạn, nhưng cuộc sống lại không suôn sẻ, mọi việc lại quá khó khăn. Chính Ngài là Đấng đã nói: “Hãy chinh phục độ cao này” và Ngài cũng là Đấng để mưa, tuyết và những trở ngại chen vào con đường của bạn. Vì thế, đừng cảm thấy lo lắng hoặc chỉ trích.
Chúa muốn bạn chiến đấu để với tới được thánh ý của Ngài, nhưng Ngài cũng để cho những khó khăn và trở ngại xuất hiện đồng thời, và Ngài dùng những khó khăn và thử thách như công cụ của Ngài trong cuộc sống của bạn. Còn điều gì khác giữ bạn khiêm tốn và cậy dựa vào Chúa? Còn điều gì khác dạy bạn những bài học bạn cần học? Chúa biết, đôi lúc bạn ước gì Chúa mang những chướng ngại và thử thách đến trong cuộc sống của bạn dễ hiểu hơn, hợp lý hơn, dễ dàng chống chọi hơn, hữu dụng hơn, thay vì những điều có vẻ rất kỳ quặc mà Ngài bảo bạn làm.
Bạn phải biết rằng bất cứ vết thương hay mất mát nào xảy đến trong cuộc sống của bạn, đều có lý do, và như lời Ngài đã hứa, tất cả rồi sẽ nên tốt đẹp để sinh ích, ngay cả khi những điều xảy ra ấy dường như rất tiêu cực và chẳng ích lợi gì.
Chúa biết bạn đang phải đối mặt với những khó khăn khiến bạn mệt mỏi và bạn ước gì chúng biến mất để bạn có thể tập trung vào những việc to lớn hơn, những việc tốt hơn, những việc có vẻ như đáng được khâm phục hơn, nhưng kế hoạch của Ngài dành cho bạn chính là nỗ lực vượt qua những chướng ngại bạn đối mặt ngày hôm nay, cho dù chúng là gì và đến từ đâu; kế hoạch của Ngài chính là muốn bạn không nản lòng khi làm việc thiện hoặc chỉ trích về nguyên nhân do đâu xuất hiện khó khăn.
Nếu Chúa cất chén ấy khỏi bạn - chén chứa tất cả những thử thách nhỏ nhặt của cuộc sống, những trận chiến nhỏ nhặt bạn không muốn chiến đấu - bạn sẽ không bao giờ trưởng thành được theo cách bạn phải trưởng thành, và bạn không bao giờ có thể là những người an ủi, chỉ dẫn và là sức mạnh cho người khác.
Hãy nhớ, những cuộc chiến dài hạn thường mang đến những chiến thắng dài hạn. Có thể cuộc chiến không chấm dứt trong một hai ngày, nhưng nó có thể rút ngắn bớt khi bạn hiểu rõ hơn và biết rõ hơn cách chiến đấu. Một số những chiến thắng đạt được dần dần cùng với từng tiến bộ nhỏ của bạn, cho đến cuối cùng bạn nhận ra rằng bạn đang đứng một mình giữa chiến trường khi kẻ thù của bạn tan tác và bị đánh bại.
Thân xác bạn mệt mỏi với những cuộc chiến dài và quá đau đớn, những cuộc chiến kéo dài chống lại những kẻ thù tầm thường. Bạn muốn chiến đấu với điều gì đó giá trị hơn, điều gì đó có thể khiến bạn cảm thấy tự hào, điều gì đó cho bạn cảm giác xứng đáng.
Nếu không có những khó khăn và thử thách, đức tin của bạn sẽ không được rèn luyện. Thật tự hào và vẻ vang khi chiến đấu với một tên khổng lồ, nhưng để chiến đấu với một điều nhỏ nhặt - như việc nhổ cỏ dại trong vườn chẳng hạn - cần đến sự khiêm tốn, nhẫn nại và kiên trì.
Bạn cảm thấy mình mới thật sự là chiến binh khi đương đầu đối với những tên khổng lồ (những điều tồi tệ to lớn) và đánh bại chúng, nhưng bạn lại cảm thấy mình như kẻ thấy bại khi mồ hôi nhễ nhại và cần mẫn trong vườn để nhổ bỏ cỏ dại.
Thiên Chúa kêu gọi chúng ta cho cả hai kiểu chiến đấu ấy. Chúng ta phải hiểu rằng cả hai kiểu chiến đấu đều đòi hỏi chúng ta phải chiến đấu bằng cả tâm hồn và tâm trí (“Không một thử thách nào xảy ra cho anh em mà lại vượt quá sức loài người. Thiên Chúa là Đấng trung tín, Người sẽ không để anh em bị thử thách quá sức, nhưng khi để anh em bị thử thách, Người sẽ cho kết thúc tốt đẹp, để anh em có sức chịu đựng” - 1 Cr 10,13). Chúa mang đến những trận chiến to lớn, rất ấn tượng để thử thách lòng tin và sự can đảm của chúng ta, và Ngài cũng mang đến những trận chiến kéo dài, nhạt nhẽo, không cao trọng gì để thử thách sức mạnh, quyết tâm và sự kiên trì của chúng ta, và dạy chúng ta đức tính khiêm nhường. Bằng sự khôn ngoan, Ngài rèn luyện bạn trở thành một chiến sĩ tài ba, sẵn sàng chiến đấu trong bất kỳ trấn chiến nào, dù nhỏ hay lớn, cao trọng hay không cao trọng, và chiến thắng trong bất kỳ tình huống nào.
Chúa chính là Đấng khởi đầu và kiện toàn lòng tin của chúng ta, vì thế, hãy tin tưởng Ngài, trông chờ Ngài, và biết rằng Ngài sẽ không để chúng ta chịu đựng quá sức. Nếu chúng ta làm phần việc của mình, lòng tin của chúng ta sẽ được củng cố, chúng ta sẽ trưởng thành và sâu sắc hơn nhờ trải nghiệm, và Khi Ngài nhận thấy đã đến lúc thích hợp để giải thoát bạn, bạn sẽ trở nên như vàng đã được tinh luyện.
Thiên Chúa không phải là Đấng vô cảm khi nhìn thấy bạn phải đối mặt với quá nhiều “gian nan trong cuộc sống”. Ngài biết rõ những khó khăn và gian nan ấy, và trong hiện tại, chúng chẳng có gì là vui mừng. Nhưng Ngài mong bạn hiểu rằng luôn có lý do khi Ngài để sự việc xảy ra, nhờ thế, bạn có thể ngợi khen Ngài trong những lúc gian nan, và có thể để cho niềm vui của Ngài luôn hiện diện nơi bạn mặc cho những khó khăn và thử thách.
Việc đạt tới những mục tiêu lớn lao, chính là bạn nói với Chúa rằng: bạn muốn những phần thưởng lớn nhất và những phần lợi tức cho sự đầu tư của bạn. Bạn nhắm đến những mục tiêu cao cả, nỗ lực hết sức để hoàn thành những gì bạn biết Chúa yêu cầu nơi bạn, và bạn hoàn toàn có thể trông đợi việc ngài thực hiện phần việc của Ngài, và ban ơn lành, những phần thưởng và phép lạ cho bạn.
Hãy ngợi khen trong mọi lúc khó khăn, và “hãy tự cho mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều. Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn” (Gc 1,2-3). Điều này nói đến việc không chỉ hãy tự cho mình là chan chứa niềm vui trong cuộc chiến trở nên công chính, mà còn cả khi gặp thử thách gian nan, kể cả những lỗi lầm của chính bản thân hoặc những điều bực dọc và trái ý nhỏ nhặt trong cuộc sống.
Quá trình trưởng thành và trải nghiệm có thể gian khó, nhưng kết quả cuối cùng rất tuyệt vời. Vì thế, hãy học vui vẻ ngay trong những lúc khó khăn, bởi vì chúng không hoàn toàn biết mất hết. Dù bạn sẽ giành được những chiến thắng và mãi mãi để những khó khăn lùi vào quá khứ, nhưng bạn vẫn sẽ tiếp tục gặp những thử thách mới, và đôi khi bạn sẽ phải giữ thái độ của người chiến thắng cho dù những hoàn cảnh không có gì thay đổi. Nếu bạn hướng lòng trí mình lên Chúa, bạn có thể vượt lên trên những khó khăn, và không để chúng cướp mất niềm hạnh phúc của bạn.
Và khi bạn cảm thấy mệt mỏi, hãy đến bên Chúa; Ngài sẽ ban cho bạn được nghỉ ngơi cũng như an ủi và khích lệ bạn. Cho dù bạn có cảm thấy mình đang đối mặt với trận chiến đáng được thừa nhận hay không, tình yêu của Ngài dành cho bạn vẫn không thay đổi. Hãy tiếp tục chiến đấu bằng sức mạnh của Ngài, vì bạn biết rằng cuối cùng rồi thì chiến thắng cũng sẽ đến, bởi vì Ngài đã hứa như thế.
An Nhiên
Vượt qua sự hoài nghi của lòng tin
Hỏi: Đâu là lời khuyên tốt nhất để vượt qua những mối hoài nghi “sẽ như thế nào nếu…”? Tôi nhận thấy đây chính là trở ngại lớn nhất mà tôi gặp phải. Tôi nhận xét một lý lẽ nào đó, và rồi tự hỏi “nhưng sẽ thế nào nếu…”. Điều này không ngừng lặp đi lặp lại. Tôi biết lý do một phần là do tôi sợ nếu mình đặt quá nhiều niềm tin vào một điều gì đó và rồi điều ấy không xảy ra. Đó không phải là do tôi kiêu ngạo, nhưng lòng tin của tôi bị tổn hại. Tôi đã trải qua kinh nghiệm như thế trước đây khi lòng tin tôi bị giao động. Không ai có được kết luận cho điều gì nếu họ không ngừng hỏi “sẽ thế nào nếu…”. Tôi biết rõ điều này. Vậy làm thế nào để vượt qua? Đối với một số người, điều này có vẻ rất đơn giản. Chỉ đơn giản ngừng hỏi “sẽ thế nào nếu…”? Nhưng đối với những ai đã trải qua nỗi sợ hãi sẽ hiểu rõ khó khăn như thế nào. Vậy, đối với những người đang mắc chứng “sẽ thế nào nếu…” - chúng ta phải làm gì?
Trả lời: Tôi hoàn toàn hiểu rõ mối hoài nghi này! Một trong những điểm yếu của tôi chính là tôi luôn thắc mắc mọi thứ. Tôi không muốn đưa ra quyết định tồi, ngay cả trong những vấn đề rất nhỏ nhặt. Vì thế, tôi thường thắc mắc, nghi ngờ khi phải đưa ra những quyết định quan trọng.
Và cũng như thế, rất nhiều lần, tôi hoài nghi niềm tin tín hữu của mình. Tôi tự hỏi bản thân: “Tôi đã bị tẩy não ư? Tôi không thể suy nghĩ khách quan chỉ bởi vì tôi được nuôi dưỡng trong đức tin ngay từ nhỏ sao? Sẽ thế nào nếu tôi sai?” Tôi có được bình an mà Tông đồ Phaolô diễn tả rằng chính Thần Khí chứng thực tôi thuộc về Thiên Chúa (x. Rm 8,16). Nhưng làm thế nào tôi có thể biết liệu bình an của tôi có thực sự đến từ Chúa không? Đó là một câu hỏi khó. Và nói thật, tôi vẫn chưa có được câu trả lời cho câu hỏi này.
Dưới đây là tóm tắt lại 4 việc bạn có thể thực hiện khi đối mặt với sự hoài nghi.
Bước 1: Nhận biết rằng việc hoài nghi là điều hoàn toàn bình thường. Ông Abraham đã gặp Chúa, Người đã nói với ông rằng ông sẽ có một người con trai, và từ đây, một đất nước hùng mạnh sẽ xuất hiện. Tuy nhiên, khi cuộc sống gặp nguy hiểm tại Ai Cập, để thoát nạn, ông đã nói dối rằng bà Sarah là em gái ông và cho Pharao lấy bà làm vợ, mặc dù ông biết lời hứa của Chúa ban cho ông một đứa con trai vẫn chưa được thực hiện (x. St 12). Ai đó sẽ nghĩ lẽ ra ông Abraham phải tin tưởng rằng Chúa sẽ cứu thoát ông. Nhưng ngược lại, ông đã nói dối, và Đức Chúa đã phải can thiệp để mang Sarah vợ ông về lại cho ông. Lướt nhanh đến chương 20, Abraham đối mặt với một tình huống tương tự. Lần này, lẽ ra, ông nên biết mình phải tin tưởng Đức Chúa sẽ bảo vệ ông mà không cần phải tự mình giải quyết và nói dối. Nhưng một lần nữa, ông lại nghi ngờ lời hứa của Thiên Chúa và lặp lại sai lầm. Ông đã nói dối với vua rằng bà Sarah là em gái mình, cũng giống như với Pharao trước đó, và vua đã bắt bà Sarah mang về hậu cung, và một lần nữa Thiên Chúa lại phải can thiệp (x. St 20). Tuy nhiên, Abraham được xem là người có lòng tin mạnh mẽ và được liệt kê trong Mẫu gương đức tin của các tổ phụ (x. Dt 11).
Gioan Tẩy Giả là người bà con của Chúa Giêsu, được sinh ra trong hoàn cảnh kỳ diệu. Về sau, chính Gioan Tẩy Giả đã làm phép rửa cho Chúa Giêsu, nhìn thấy Thần Khí Chúa đậu xuống trên Ngài, và nghe thấy giọng nói từ trời khẳng định vị thế của Ngài. Sau đó, Gioan bị bắt vào tù, và trong thời gian ở đây, ông đã sai một số môn đệ của ông đến để hỏi Chúa Giêsu liệu Ngài có thật sự là Đấng Mêsia không, hay họ còn phải chờ đợi ai đó khác. Làm thế nào Gioan có thể hỏi câu hỏi như thế, khi ông đã được biết về sự hạ sinh kỳ diệu của ông và của cả Chúa Giêsu và đã chứng kiến những dấu chỉ thần linh khi làm phép rửa cho Chúa Giêsu? Cảm giác bị bỏ rơi trong tù đã khiến Gioan có những hoài nghi về mặt cảm xúc. Ông biết rõ bằng chứng. Nhưng cuộc sống đã không như ông trông đợi - hơi khó khăn vào lúc ấy. Chúa Giêsu biết điều ấy. Ngài đã bảo những môn đệ của Gioan về kể lại cho Gioan nghe những phép lạ mà họ đã thấy Ngài làm (x. Lc 4,16-21). Chúa Giêsu nói gì với những người vừa mới nhận ra rằng người dọn dường cho Ngài giờ đây đang hoài nghi?
Anh em ra xem gì trong
hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Thế thì anh em xem gì?
Một người mặc gấm vóc lụa là sao? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở
trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng?
Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa.
Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: “Này Ta sai sứ
giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến”. Tôi nói
thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao
trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. (Mt 11,7-11; Lc 7,24-28).
Hãy chú ý rằng Chúa Giêsu đã không quở trách Gioan Tẩy Giả về hành động nghi ngờ của ông. Thay vào đó, Ngài đưa ra bằng chứng để động viên ông, và đã khen ngợi ông khi nói rằng không ai cao trọng hơn ông - trong khi tất cả đều biết rằng Gioan đang hoài nghi.
Nếu Tổ phụ Abraham và cả Gioan Tẩy Giả còn hoài nghi và vẫn được Thiên Chúa thương yêu, thì rõ ràng rằng Thiên Chúa hiểu những cảm xúc của chúng ta và kiên nhẫn với chúng ta. Rất nhiều những tín hữu không bao giờ hoài nghi. Tuy nhiên, đối với những ai hoài nghi như chúng ta, thật là một sự an ủi khi biết rằng chúng ta có được những vị tiền nhân cũng trải qua như thế. Những người hoài nghi không phải là những công dân hạng hai trong Vương Quốc của Thiên Chúa!
“Ồ! Điều ấy có thể có tác dụng với những ai đã nghe trực tiếp từ Chúa và nhìn thấy những phép lạ của Người. Nhưng không có ích gì đối với tôi, bởi vì tôi chưa được nhìn thấy phép lạ của Ngài”. Tôi hiểu. Đây chỉ mới là bước đầu tiên khi đối mặt với hoài nghi: Biết rằng hoài nghi là hoàn toàn bình thường.
Bước 2:Biết rằng bằng chứng rõ ràng và hữu hiệu chứng minh lẽ thật Kitô giáo. Mặc dù chúng ta không thể leo lên cổ máy thời gian và quay trở lại quá khứ để chứng kiến những phép Chúa Giêsu đã làm, nhưng chúng ta có được bằng chứng lịch sử rất hùng hồn rằng phép lạ của Ngài thực sự đã xảy ra: Sự Phục Sinh của Ngài.
Nếu Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết, vậy Kitô giáo hoàn toàn là thực. Có thể bạn lại nghĩ: “Nhưng sự sống lại của Ngài được ghi lại trong Kinh Thánh. Làm thế nào tôi biết Kinh Thánh có thật không? Tôi phải chấp nhận nó hoàn toàn bằng lòng tin sao?” Nghiên cứu mang tính khoa học và lịch sử cũng không thể mang đến cho chúng ta một sự chắc chắn tuyệt đối. Chúng ta phải tìm kiếm những dữ liệu có sẵn để có được lời giải thích tốt nhất và chấp nhận với sự chắc chắn thoả đáng hoặc có lý, cũng giống như cách chúng ta hành động với những quyết định quan trọng khác trong cuộc sống. Phần còn lại chính là lòng tin, và điều này đúng với bất cứ niềm tin nào. Tuy nhiên, sự sống lại của Chúa Giêsu không thể nào so sánh với bất cứ bằng chứng mạnh mẽ nào dùng để xác nhận bất cứ niềm tin nào.
Bước 3: Biết rằng sự chắc chắn tuyệt đối là một sự trông đợi không hợp lý. Một số người sống bằng niềm tin không chút hoài nghi. Đó là điều tuyệt vời. Nhưng một số trong chúng ta thật kỳ lạ khi không thể như thế. Cách đây vài năm, tôi chợt nhận ra rằng niềm tin của tôi cũng giống như một trong số rất nhiều điều tôi bình luận sau khi kết quả đã rõ ràng. Tôi nghi ngờ rất nhiều những quyết định mà tôi đã đưa ra từ rất… rất lâu. Ở đây, chúng ta không chỉ đề cập đến những quyết định quan trọng, chẳng hạn như người chúng ta lấy làm vợ/làm chồng. Đôi khi, tôi ngẫm nghĩ lại, ngẫm đi ngẫm lại những quyết định chẳng có gì là quan trọng, chẳng hạn như về những món đồ tôi đã mua: một chiếc đồng hồ, một chiếc xe, hoặc một chai dầu thơm... Đối với tôi, sự chắc chắn tuyệt đối là một sự trông mong không hợp lý. Vì thế, tôi tập sống bằng lòng với sự chắc chắn hợp lý vừa phải.
Bước 4: Biết rằng lòng tin không phải làm cảm giác và không hề có hoài nghi. Lòng tin chính là một sự tuyên thệ. Một người đàn ông đến nhờ Đức Giêsu chữa lành cho người con trai bị quỷ ám của ông. Ông tin nhưng lại xin Chúa Giêsu giúp lòng tin yếu kém của ông (x. Mc 9,24). Ông tin Chúa Giêsu chữa lành cho con trai ông. Ông Phêrô bước đi trên mặt nước và bắt đầu chìm khi ông hoảng sợ trước cơn sóng và sự ngờ vực (x. Mt 14,28-31). Nhưng, Phêrô đã bước ra khỏi thuyền trong khi những người khác vẫn ở trên thuyền nhìn theo. Đối với những người theo Đức Kitô, lòng tin chính là phó thác chính mình cho Ngài. Là một người theo Đức Kitô có nghĩa là khi tôi đối mặt với một quyết định mang tính đạo đức, tôi lựa chọn làm theo những gì Chúa Giêsu đã dạy. Tôi vâng lời Chúa Giêsu bởi vì tôi tin Ngài. Có thể tôi vẫn có những lúc hoài nghi. Nhưng niềm tin mà tôi có được sẽ giành chiến thắng và quyết định cho hành động của tôi trong đời sống đức tin. Như Thánh Giacôbê đã viết: “Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin” (Gc 2,18).
Tóm lại, 4 bước khi đối mặt với sự hoài nghi:
- Biết rằng hoài nghi là điều bình thường.
- Biết rằng bằng chứng hữu hiệu tồn tại chứng thực cho lẽ thật Kitô giáo.
- Biết rằng sự chắc chắn tuyệt đối là một sự trông mong không hợp lý.
- Biết rằng lòng tin không phải là cảm giác hoặc không hề có nghi ngờ. Lòng tin là một lời tuyên thệ.
- Biết rằng bằng chứng hữu hiệu tồn tại chứng thực cho lẽ thật Kitô giáo.
- Biết rằng sự chắc chắn tuyệt đối là một sự trông mong không hợp lý.
- Biết rằng lòng tin không phải là cảm giác hoặc không hề có nghi ngờ. Lòng tin là một lời tuyên thệ.
Nghi Ân
Kiến thức Tôn Giáo và Sống Đạo
Từ xưa, khi nghe đến những anh em trong các Giáo phái Tin Lành, ai nấy đều đồng ý rằng họ là những người được giáo dục kỹ về Kinh Thánh, sách, đoạn, câu cú nhớ thuộc lòng, đừng nói chi đến các mục sư, đã vậy, một mục sư có bản vị tiến sĩ, địa vị không những riêng gì về trong giáo xứ của ông, nhưng ông còn là một trong những vị mục sư được biết nhiều trên diễn đàn quốc gia, thì đối diện với ông ta để chia sẻ về Kinh Thánh, đặc biệt nhất là việc bàn về con người lịch sử của Đức Giêsu thì quả là một cuộc mạo hiểm. Trên website, chúng ta sẽ không thấy Mục sư Mason với danh hiệu tiến sĩ, hay gì khác, ngoại trừ một cái tên rất khiêm nhượng: George. Khi gặp nhau, Mục sư cũng giới thiệu tên với tôi là: George. Người điềm đạm, giọng nói ấm áp, đầy sinh lực, trẻ hơn tôi vài tuổi, nhưng sự khiêm nhường và tâm tình cởi mở của ông đã tạo cho bầu không khí trao đổi giữa đông-tây, giữa hai văn hoá dị biệt, giữa hai kiếp người hoàn toàn đối chọi, giữa hai kinh nghiệm sống đạo hoàn toàn khác nhau, tự dưng, như hoà hợp nên một.
Tôi khởi đầu bằng lý lịch ngắn gọn của tôi, rồi đi ngay vào đề tài. Chúng tôi đi chia sẻ một vài sách vở chung quanh xã hội và thời đại của Đức Giêsu, những sử liệu, sử gia bên ngoài bộ sách Kinh Thánh. Ông đã đưa tôi thoáng xuyên qua quá trình hình thành của bộ Kinh Thánh, chính xác từng năm, niên đại, tác giả. Tôi cũng đưa ra những thắc mắc về tông tích, lai lịch, gia thế của Đức Giêsu. Ông đã vui vẻ và ân cần chia sẻ một cách thân tình.
Cuộc mạn đàm có thể kéo dài, nhưng tôi cảm thấy như tìm được một đồng môn, người sẵn sàng bỏ giờ để cùng nhau nhìn về một hướng, hành trình về một điểm, nghiên cứu về một nhân vật mà hàng tỷ người, trong đó có tổ tiên chúng ta, và chính chúng ta đang tôn thờ: Đức Giêsu.
Theo thống kê của Pew Research Center thì khoảng 50 phần trăm người Kitô giáo không am tường về giáo lý của tôn giáo mình. Lắm người không nắm vững tên tác giả của bốn phúc âm. Có người lại không biết nơi sinh trưởng của Đức Giêsu. Buồn hơn nữa là khoảng 50 phần trăm người công giáo Hoa kỳ không biết rằng, bánh và rượu sau khi linh mục truyền phép đã không còn là bánh và rượu nữa, nhưng đó đã trở thành chính Mình và Máu Đức Giêsu.
Nhìn về lịch sử Kitô giáo (công giáo, giáo hội đông phương và các giáo phái tin lành), người tín hữu đã được nhồi sọ với những tín điều, giáo lý, lắm khi xung khắc với nhau, thành ra người công giáo cách riêng, bị răn dạy cách ly với những sinh hoạt tôn giáo hay các giáo phái khác, nhất là nền giáo dục về đức tin của những giáo phái tin lành, do đó, sự hiểu lầm vẫn duy trì, vẫn in hằn mãi trong tâm thức của không biết bao nhiêu thế hệ người công giáo. Cho đến hôm nay, tôi chưa có dịp được chứng kiến những sinh hoạt hợp quần, hợp tác trong tầng lớp giáo dân của các giáo phái kitô giáo, công giáo-tin lành, cách riêng việc nghiên cứu và học hỏi Kinh Thánh.
Thỉnh thoảng, tôi thăm dò kiến thức của những người công giáo trẻ, không có ai biết được ngôn ngữ hay tiếng mẹ đẻ của Đức Giêsu. Ngạc nhiên thay, theo nghiên cứu của Pew Research Center, người Do Thái, giáo dân thuộc giáo phái Mormons và lạ lùng nhất là những người bị cho là vô thần (atheists) lại thuộc vào ba nhóm người có kiến thức cao về hai lãnh vực Kinh Thánh cũng như về các tôn giáo lớn trên hoàn vũ.
Đại đa số người Mỹ trong cuộc nghiên cứu cho thấy kiến thức của họ rất kém về giáo lý, tín điều, cung cách hành đạo, lịch sử và những lãnh đạo tôn giáo của các tôn giáo lớn khác.
Cũng có nhiều người trong các Giáo phái Tin Lành thờ ơ đến nỗi họ không biết chính 95 luận án (thesis) của tu sĩ công giáo Martin Luther là nền tảng cho sự khai sinh của các giáo phái tin lành vào năm 1517 (Protestant Reformation). Nhưng rồi không biết có mấy ai bên công giáo đã đọc qua 95 luận án này hoặc nghiên cứu sâu về giai đoạn khủng hoảng của giáo hội Roma vào thời điểm này. Và có tới 47 phần trăm ngưới Mỹ không hề biết Dalai Lama là người phật giáo, đừng nói chi đến cương vị một Phật sống hay phật pháp.
Về phương diện Kinh Thánh và giáo dục nhà trường, có đến 67 phần trăm người Mỹ nhận thức sai lầm rằng, Kinh Thánh không được đọc nơi nhà trường. Nhiều người Việt, nhất là những người công giáo vẫn đoan quyết điều này, trong khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã khẳng định Kinh Thánh vẫn được sử dụng trong việc giáo dục nhà trường về giá trị lịch sử và văn chương (Supreme Court has clearly stated that the Bible may be taught for its “literary and historic” qualities.)
Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy đại đa số người Mỹ vẫn không tìm tòi nghiên cứu gì thêm về tôn giáo của họ, ngoại trừ cuốn Kinh Thánh. Và 70 phần trăm không hề tìm hiểu gì thêm các tôn giáo khác. Đây cũng là yếu tố gây nhiều ngộ nhận về tôn giáo, nhất là đối với Hồi giáo.
Người Việt có một truyền thống giữ đạo hết sức đặc biệt, đó là việc kinh kệ. Cuốn sách kinh dày cộm, nhưng từ già đến trẻ, lắm người đều thuộc lầu. Ước gì người công giáo Việt và ngay cả dân Tây theo Kitô giáo chịu chuyển sang một nấc sống đạo mới, đó là đọc và học hỏi Kinh Thánh cũng như sách vở, tài liệu lịch sử khác để nhận diện ra chính Đức Giêsu, và sống từng ngày, từng giờ, từng phút giây, và từng hơi thở gần với Ngài qua chính những bài học sống Ngài dạy.
Nếu chúng ta chịu khó và biết hành trình xa hơn một chút xíu, chúng ta sẽ gặp được chính con người lịch sử của Đức Giêsu. Giáo hội Công giáo cũng như các Giáo phái Tin Lành đã dạy: Đức Giêsu mang hai tính cách, con người và thần thiêng. Sách vở và tài liệu lịch sử cũng đã minh định sự hiện diện của Đức Giêsu nơi trần thế, bằng xương bằng thịt, có nơi chôn nhau cắt rốn, có niên đại, trong xã hội có chính quyền, có tôn giáo, văn hoá và bằng chứng về sự hiện diện của Người như là nhân vật lịch sử kéo dài liên tục hơn 2000 năm qua.
Vì chính Ngài đã tự chọn và mang thân phận làm người, làm con trong một gia đình, có cha mẹ, có lao động, cũng đã hít thở khí trời, có nhu cầu ăn uống để sống, biết vui buồn sướng khổ, đã sử dụng ngôn ngữ loài người để truyền đạt, giảng dạy, đã sống đời sống đạo chuyên cần, và cuối cùng, chấp nhận luật người đời để gánh chịu thống khổ; và rồi trút hơi thở cuối cùng trong thân phận làm người như chúng ta. Có biết như vậy, chúng ta mới cảm thấy Đức Giêsu rất gần gũi với chúng ta, trong từng ngày sống, trong bổn phận, trong những lo toan về cuộc đời.
Bao nhiêu năm chiêm niệm về kinh Lạy Cha mà Đức Giêsu khuyên dạy chúng ta nguyện cầu, một đêm, trong lúc nghiên cứu, tôi khám phá ra văn bản và lời nguyện của bản kinh mà chính Đức Giêsu đã một lần dạy chúng ta nguyện cầu, bằng chính tiếng bản xứ của Người, tiếng Aramaic. Tôi nhắm nghiền mắt lại, lắng nghe từng chữ, từng giọng, cảm nghiệm như Người đang gần kề bên cạnh, và dường như nghe từng hơi thở của chính Đức Giêsu đang thổi vào tâm thức tôi, chia sẻ với tôi, đang dạy tôi đọc, cùng tôi cầu nguyện. Tâm hồn tôi bay bổng ngất ngây!
Bernard Nguyên Đăng