Wednesday, June 20, 2012

NĂM ĐỨC TIN


Quyền năng của Thiên Chúa

Tại sao lại có Năm Đức Tin? Đây không phải là câu hỏi tu từ và xứng đáng với một câu trả lời, nhất là xét theo bình diễn bên ngoài của sự khao khát mong đợi điều mà đang được soạn thảo trong Giáo Hội cho một sự kiện như vậy.

ĐTC Benedict XVI đã đưa ra một động cơ thúc đầy đầu tiên khi Ngài tuyên bố: “Sứ vụ của Giáo Hội, giống như đức Ki-tô, chủ yếu để nói về Thiên Chúa, nhớ quyền tối cao của Người, hồi tưởng tất cả, đặc biệt Ki-tô hữu, những người đã đánh mất tính cách nhân của chính mình, của quyền hạn Thiên Chúa đối với những gì thuộc về Người, đó là, của chúng ta. Một cách chính xác là để ban cho một xung lương lành mạnh trước sứ vụ của toàn Giáo Hội dẫn dắt con người ra khỏi miền hoang dã trong cái mà tự họ thường thấy đối với địa vị của đời sống, tình bằng hữu với Chúa Giê-su đã cho chúng ta đời sống đầy đủ.”

Đây là mục đích chính, để mà không quên những gì mô tả đặc điểm của đời sống chúng ta: niềm tin. Ra khỏi sa mạc, mang theo sự im lặng của những ai không nói chúng ta lãnh nhận niềm vui của đức tin, cách đó nói về nó trong một đường lối được hồi sinh.

Do đó năm nay trọng tâm nhắm vào toàn bộ Giáo Hội để xét theo bề ngoài của sự khủng hoảng đức tin đầy kịch tính tác động đến nhiều Ki-tô hữu, Giáo Hội lại có thể lại một lần nữa bày tỏ với sự hang hái hồi sinh dung mạo đích thực của Đức Ki-tô mà Giáo Hội kêu gọi sequela của mình.

Đó là năm dành cho tất cả chúng ta bởi qua cuộc hành trình không ngừng của đức tin chúng ta cảm thấy sự cần thiết để những bước đi của chúng ta đầy nghị lực vào lúc mà làm cho chúng ta mệt mỏi và chậm chạp, và để cho chúng ta cương quyết nhất. Những ai hiểu được sự yếu đuối của mình thường mang bóng dáng lãnh đạm và thuyết bất khả tri luận để tìm thấy ý nghĩa bị đánh mất và hiểu được giá trị một thành viên của một cộng đồng, sự khuây khỏa thực sự của sự trơ trụi thuộc chủ nghĩa cá nhân của thời đại chúng ta không thể ngăn cản được.

Trong “Porta fidei”, ĐTC Benedict XVI viết rằng “cánh cửa của đức tin luôn mở rộng.” Điều này có ý nghĩa rằng không ai có thể cảm thấy mình bị cản trở khỏi sự tự vấn về ý nghĩa của cuộc sống và những câu hỏi quan trọng gieo vào chúng ta bởi sự cố chấp của một sự khủng hoảng phức tạp mà làm tăng sự nghi ngờ và làm mờ hy vọng.

Yêu cầu nghi vấn về đức tin không có nghĩa là tự tách rời thế giới, đúng hơn nó có nghĩa là tỉnh táo có ý thức trách nhiệm mà duy nhất có trong sự quan tâm đối với nhân loại và thời cơ lịch sử này.

Năm mà việc cầu nguyện và sự suy gẫm có thể trở nên dễ dàng hơn để liên kết với sự hiểu biết về đức tin, điều mà phải trở nên cấp bách và cần thiết cho tất cả. chúng ta không thể kể đến những người có đức tin tôn giáo để lao vào những lĩnh vực khác của khoa học tạo công việc của họ chuyên nghiệp hơn, lẽ ra tự họ phải tìm ra sự yếu đuối và thiếu hiểu biết về đức tin. Một sự thiếu cân bằng không thể tha thứ, điều mà không cho phép tính đồng nhất của chúng ta phát trểện, điều mà ngăn cản chúng ta khỏi việc trao trách nhiệm đối với sự lựa chọn đặt ra.

(Nguồn: L’Osservatore Romano)
Jos. Tú Nạc, NMS
Lòng tin của những nhà thông thái

Không giống như rất nhiều bản sao thời hiện đại, hầu hết những nhà thông thái xuyên suốt lịch sử đều có lòng tin. Làm thế nào có thể như thế? Đáng lẽ với khả năng suy luận vượt trội của họ, họ phải cho rằng lòng tin chính là điều ngây thơ và thiếu logic? Rõ ràng là không. Chắc chắn, vào thời đó, họ đã không hưởng lợi từ những kiến thức do khoa học khám phá, nhưng tôi không nghĩ đó thật sự là câu trả lời. Khoa học không thể chứng minh hoặc bác bỏ những chủ đề về lòng tin, ví dụ như sự tồn tại của Chúa chẳng hạn.

Chẳng lẽ họ tin bởi vì đó là tiêu chuẩn và họ chịu nhượng bộ áp lực từ những người có quyền thế và những người cùng địa vị xã hội với họ sao? Tôi không nghĩ vậy. Những nhà tư tưởng vĩ đại thường không dễ chịu khuất phục. Họ thường là cái gai trong mắt những người có quyền hành và những thể chế thủ cựu. Tâm trí sắc bén và sáng tạo của họ thường khiến cho những người có quyền thế và những người cùng địa vị xã hội với họ phải lúng túng khi họ trình bày những bài diễn thuyết trí tuệ, đưa ra những lý thuyết cấp tiến, và giải quyết những vấn đề tưởng như không có giải pháp.

Và tôi không có ý chỉ nói đến những tín hữu hoặc những người theo thuyết độc thần. Trở lại thời Ai Cập cổ đại, một người tên Imhotep được công nhận là kỹ sư, kiến trúc sư (ông chính là người xây nên kim tự tháp đầu tiên), và nhà vật lý học đầu tiên trong lịch sử, cũng như nhà thơ, triết gia và là vị tư tế đứng đầu trong tôn giáo Ai Cập. Ông là một người rất khôn ngoan, và tất cả những gì ông viết mà chúng ta tiếp cận ngày hôm nay cho chúng ta biết rằng ông không hề thấy có bất kỳ sự mâu thuẫn nào giữa kiến thức và lòng tin của ông.

Và rồi những người Hy Lạp khôn ngoan, những người mang đến cho chúng ta toán học, nghệ thuật, nền dân chủ, triết học… Ngày nay, có thể chúng ta nghĩ họ thật ngớ ngẫn khi tin vào những vị thần và những câu chuyện xem ra chẳng có ý nghĩa gì đối với bất cứ ai trong thế giới hiện đại, nhưng không phải đã họ mê tín một cách ngu xuẩn. Họ đã tin vì họ kết luận rằng có một thế giới thần linh vượt xa sự hiểu biết của họ.

Hãy nghĩ về những nhà tư tưởng Do Thái, Maimonides và Spinoza, cả hai đều là triết gia vĩ đại - một người bảo thủ, người kia cấp tiến hơn - và cả hai đều là những người có lòng tin, dù là khác thường.

Và lẽ dĩ nhiên vẫn có và tiếp tục có những nhà tư tưởng Kitô giáo vĩ đại như Tôma Aquinô, Augustinô, Leo Tolstoy, C.S Lewis, G.K. Chesterton, và rất nhiều những người khác nữa, không ai trong số họ cho rằng lòng tin của họ mâu thuẫn hoặc gây trở ngại cho trí tuệ của họ bay cao.

Thiên Ân dịch
 

Tôi chọn lòng tin

Một người bạn của tôi nghiên cứu rộng một số tôn giáo, và chúng tôi thường có những cuộc thảo luận sâu về những kiểu niềm tin khác nhau - những cuộc bàn luận lúc nào cũng đề cập đến những niềm tin của chính chúng tôi.

Một lần, bạn tôi nói: “Tôi tôn trọng những ai tin vào Chúa, nhưng bản thân tôi không thể. Tôi không cảm nhận được. Tôi cũng không hiểu tất cả những điều thuộc về siêu nhiên và tinh thần ấy”.

Tôi có thể hiểu. Không phải khía cạnh không tin vào Chúa, nhưng chính là khía cạnh không cảm nhận hoặc không hiểu về những gì thuộc về siêu nhiên, và đây cũng là điều rất nhiều người đánh đồng với lòng tin.

“Bản thân tôi cũng không cảm nhận được” - tôi nói với anh ta - “Tôi tin vì tôi chọn lựa như thế. Đối với tôi, tin chính là một sự lựa chọn”.

Và từ hôm ấy, tôi suy nghĩ rất nhiều về cuộc trò chuyện và câu trả lời của mình. Tôi lớn lên trong một môi trường đức tin, nhưng trải qua những giai đoạn hoài nghi của tuổi niên thiếu. Rất nhiều người bạn của tôi, cả những người dày dạn kinh nghiệm và những người đồng trang lứa, đã nói với tôi về những trải nghiệm giúp xây dựng lòng tin của họ. Rất nhiều trong số họ tập trung vào những sự việc siêu nhiêu - những dấu chỉ, những giấc mơ, những điều huyền bí, những sự việc không thể giải thích được, mà họ gọi là phép lạ. Bản thân tôi chưa bao giờ có được bất kỳ một trải nghiệm nào thuộc những dạng này, và đôi khi tôi nghĩ về những giải thích logic cho những điều ấy.

Tuy nhiên, những gì tôi nhìn thấy chính là một chút bày tỏ tình yêu và chăm sóc của Chúa trong cuộc sống hằng ngày của mình. Mặc dù một số tình huống cũng có thể được giải thích như là những sự trùng hợp hạnh phúc hoặc những hành động tốt lành từ phía ai đó, nhưng chúng đúng với những gì tôi đọc và được dạy về bản tính và điều cốt lõi của Chúa. Qua đó, tôi cảm nhận mình được yêu và được quan tâm, rằng ai đó đang trông chừng tôi. Tôi đã chọn tin rằng chính Chúa đang hoạt động trong cuộc sống của tôi, mặc dù tôi không cảm nghiệm được những gì mang đến cảm giác thăng hoa thuộc về tinh thần hoặc nhìn thấy những chùm pháo hoa đẹp mắt như một số người. Điều tôi có chính là một ngọn lửa dịu nhẹ, nhưng nó đã sưởi ấm tôi qua những tháng năm cho đến tận lúc này.

Tôi sống một cuộc sống hơi khác thường, nhưng Chúa luôn để mắt đến tôi, và tận thâm tâm, tôi có được một sự bảo đảm rằng Ngài sẽ tiếp tục trông chừng tôi. Cuộc sống của tôi ở trong đôi tay Ngài. Tôi tin bởi vì tôi chọn lựa như thế.

An Nhiên 

Lòng tin và những vùng an toàn

Mọi người thường nói về “thoát ra khỏi vùng an toàn của bạn”. Tôi ghét điều ấy. Phải thú nhận rằng tôi thích những vùng an toàn của tôi. Tôi không thích làm những điều mới, đặc biệt những điều tôi không hiểu hoặc không nghĩ mình sẽ làm tốt. Tuy nhiên, dạo gần đây, tôi thường bị đẩy ra khỏi vùng an toàn của mình. Tôi nghĩ về tầm quan trọng của một số dự án mới, và tôi bắt đầu quặn lòng và muốn thoái lui.

Tôi bàn luận một dự án với người bạn, và anh ta cho ý kiến. Anh ta thuộc tuýp người nhìn xa trông rộng - anh ta hoàn toàn không hoảng sợ trước những khả năng phải làm việc cực nhọc và những rủi ro. Đối với anh ta, dự án càng lớn, càng phiêu lưu càng tốt. Khi anh ta thảo kế hoạch, tôi bắt đầu cảm thấy quá sức. Anh ta nhận ra khi tôi ngồi đờ mắt ra.

“Chuyện gì thế?”

“À…”, tôi lắp bắp, và cố gắng tỏ vẻ ủng hộ, “một kế hoạch hay, nhưng dường như hơi lớn và hơi quá sức đối với mình.”

“Bạn biết không, mọi thứ dường như có vẻ quá sức đối với bạn lúc này. Có thể bạn cần thêm một chút lòng tin.”

Đúng thế, tuy nhiên, tôi không muốn thừa nhận điều đó.

Sau đó, khi tôi trò chuyện với Chúa, Ngài xác nhận rằng tôi hơi nhút nhát. Kế đến, Ngài chỉ cho tôi 3 bước cho chương trình xây dựng lòng tin.

1. Nuôi dưỡng lòng tin. Cũng như thân xác của tôi không thể sống được nhờ vào những thức ăn thiếu dinh dưỡng hoặc không thường xuyên được bồi bổ, lòng tin của tôi cũng không thể sống được cũng như không thể phát triển mạnh nếu tôi không thường xuyên nạp vào những thức ăn tinh thần bổ dưỡng (x. Rm 10,17). Khi tâm hồn tôi tràn ngập những lời hứa của Chúa, lòng tin của tôi sẽ không dễ dàng giao động.

2. Củng cố lòng tin. Lòng tin không phát triển khi mọi việc dễ dàng, khi tất cả những nhu cầu của tôi đều được chu cấp, khi tôi có thể tự xoay sở mọi việc, hoặc khi tôi biết trước sự việc. Tôi làm tốt trong những hoàn cảnh như thế; chỉ khi sự việc trở nên khó khăn, khi tôi không thể tự mình gánh vác, khi tôi phải phó thác mọi việc cho Chúa và tin tưởng Ngài thực hiện những gì tôi không thể, chính lúc ấy lòng tin của tôi mới được củng cố. “Hãy hết lòng tin tưởng vào Đức Chúa, chớ hề cậy dựa vào sự hiểu biết của con. Hãy nhận biết Người trong mọi đường đi nước bước, Người sẽ san bằng đường nẻo con đi” (Cn 3,5-6). Khi tôi cậy dựa vào Chúa và đặt niềm trông cậy của tôi nơi những lời hứa của Ngài, lòng tin của tôi trở nên mạnh mẽ hơn.

3. Kéo giãn lòng tin. Một khi lòng tin của tôi đã được củng cố, tôi phải bước ra để thực hiện những điều tưởng chừng như quá sức. Nói cách khác, thoát ra khỏi vùng an toàn của mình. Một lần nữa, lòng tin không có cơ hội để phát triển khi mọi việc diễn tiến một cách thông thường. Đôi khi, những khó khăn và thử thách tự xảy đến, nhưng nếu tôi thật sự muốn lòng tin của mình phát triển, tôi cần lựa chọn thử những điều mới; tôi cần lựa chọn để cho mình bị thử thách; tôi cần lựa chọn để mình bị kéo giãn.

Trong Kinh Thánh, một số người bị đặt vào những hoàn cảnh khó khăn, họ bị buộc phải kéo căng lòng tin, nhưng những người khác chủ động hơn vì họ trông đợi những điều lớn lao hơn từ Chúa, và Ngài giúp họ vượt qua. Một số trong những điều lạ thường nhất xảy ra khi người ta bước đi bằng lòng tin và làm những việc tưởng chừng như điên rồ trong mắt những người khác.

Chẳng hạn như, một lần khi các môn đệ của Chúa Giêsu đang trên thuyền, cách bờ biển khoảng vài dặm, Chúa Giêsu đã đi trên mặt nước để đến với họ. Đó là một phép lạ lớn, nó củng cố lòng tin của các môn đệ. Sau đó, bằng lòng tin, Phêrô đã bước ra khỏi thuyền, đi trên mặt nước để đến với Chúa Giêsu. Phêrô không bắt buộc phải làm như thế, nhưng tôi chắc điều ấy làm tăng lòng tin của ông lên rất nhiều khi ông cũng có thể bước đi trên mặt nước, dù chỉ trong chốc lát (x. Mt 14,22-32).

Vậy đức tin mạnh mẽ hơn ở mức độ nào? Chúa Giêsu đã nói rằng đức tin chỉ cần lớn bằng hạt cải cũng có thể làm được những điều trọng đại. Đôi khi, đó là tất cả những gì chúng ta có thể gom lại - lòng tin lớn bằng một hạt cải - nhưng những lúc đó, Chúa sẽ sử dụng những gì chúng ta có. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng Ngài không muốn đức tin của chúng ta chỉ dừng lại ở mức độ nhỏ bé ấy. Tôi nghĩ Ngài mong muốn lòng tin của chúng ta phát triển lên khi chúng ta nhìn thấy Ngài giúp chúng ta vượt qua được hết lần này đến lần khác.

Chúa có những kế hoạch lớn cho mỗi chúng ta, và Ngài mang chúng ta vào trong những hoàn cảnh để chúng ta chuẩn bị sẵn sàng cho những kế hoạch ấy. Tuy nhiên, cần lòng tin để bước đi, để hành động, để tin cậy vào những gì Ngài mong muốn nơi chúng ta. Nếu chúng ta chần chừ cho đến khi mọi việc có vẻ an toàn, chúng ta có thể bỏ lỡ mất cơ hội.

Một định nghĩa về lòng tin chính là “tin tưởng hoặc kỳ vọng nơi khả năng của người khác.” Lòng tin chính là biết rằng bản thân chúng ta không thể, nhưng vẫn làm những gì Chúa bảo chúng ta làm, bởi vì chúng ta tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa sẽ làm thông qua chúng ta. “Không phải chúng tôi đủ khả năng nên nghĩ rằng mình làm được gì, nhưng khả năng của chúng tôi là do ơn Chúa” (2 Cr 3,5). “[Chúa Giêsu] quả quyết với tôi: ‘Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối’” (2 Cr 12,9).

Thiên Ân dịch
Lòng tin là một ân huệ


Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. Thấy người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi la lên. Đức Giêsu liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” Ông Phêrô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nứơc mà đến với Ngài”. Đức Giêsu bảo ông: “Cứ đến!” Ông Phêrô từ thuyền bứơc xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?” Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay. Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!” (Mt 14,25-33)

(EMTY) - Khi đọc Kinh Thánh, có thể chúng ta bỏ qua những điều đơn giản, luôn có những câu trả lời cho mọi câu hỏi mà chúng ta đặt ra. Rất nhiều khi chúng ta thắc mắc: “Cần gì để nhận được ân huệ mà Chúa Giêsu đã ban cho những người được chữa lành trong Kinh Thánh?”

Nếu đọc kỹ, chúng ta sẽ nhìn thấy được rằng điều chính yếu để nhận được ân huệ của Chúa chính là “có lòng tin”. Ân huệ của Chúa luôn dành cho chúng ta, chúng ta chỉ cần nhận lấy nó và mang nó vào trong cuộc sống của chúng ta; và cách duy nhất chúng ta có thể làm được như thế chính là khiêm hạ trước Chúa và đón nhận bằng lòng tin. Nhờ sự khiêm tốn, chúng ta sẽ có thể chấp nhận bất cứ kết quả nào, và chúng ta có thể từ bỏ sự kiêu ngạo và quyền điều khiển của mình. Khi chúng ta có lòng tin, chúng ta sẽ tiếp tục bước đi trong ân huệ của Chúa, nhờ điều này, chúng ta có thể làm được những việc mà bản thân chúng ta không thể làm. Thông qua sự khiêm tốn và ân huệ của Ngài, Thiên Chúa được tôn vinh và chúng ta được làm cho nhỏ bé lại. Nhưng cũng chẳng sao, bởi vì chúng ta được bước đi cùng với Ngài và trải nghiệm cuộc sống theo cách chúng ta chưa từng được trải nghiệm trước đây.

Khi chúng ta bước đi bằng lòng tin và vâng phục Chúa, chúng ta có thể tin tưởng rằng bất cứ điều gì chúng ta làm đều sẽ được bao bọc trong ân sủng và ân huệ của Ngài.

Bạn thấy đấy, để nhận được ân huệ của Chúa, học được cách bước đi trong ân huệ ấy và được bao bọc trong ân sủng Ngài, chúng ta cần phải có lòng tin và loại bỏ sự sợ hãi.

Chính lòng tin đã khiến Phêrô bước đi trên mặt nước, và chính sự sợ hãi đã làm cho ông bị chìm. Không phải nhờ vào khả năng của chính mình mà Phêrô có thể bước đi trên mặt nước, nhưng chính nhờ vào ân huệ của Chúa. Phêrô đã tự rời xa ân huệ Chúa khi ông bắt đầu sợ hãi.

Khi chúng ta bước đi trong sợ hãi chính là lúc chúng ta không bước đi trong ân sủng của Chúa. Nếu chúng ta mang những ước muốn của chúng ta đặt trước Chúa, thì chúng ta tận dụng ân huệ của Ngài.

Ân huệ của Chúa chính là một điều tuyệt đẹp, nó luôn ở quanh ta. Bạn sẽ làm gì với ân huệ của Chúa? Bước đi trong nó, hay quay lưng lại với nó, hay xem thường nó?

Nếu chúng ta bước đi trong lòng tin cùng với ân huệ của Chúa, chúng ta cần phải loại bỏ sự sợ hãi và tin tưởng rằng Chúa là Đấng như Ngài đã nói về Ngài.

Áp dụng vào cuộc sống

Những sợ hãi gì đang ngăn cản bạn bước đi trong lòng tin?

Hãy liệt kê 3 điều mà bạn nhìn thấy được ân sủng Chúa đang hoạt động và hiện diện trong cuộc sống của bạn.

Hãy liệt kê 3 lý do tại sao bạn có thể tin tưởng Chúa và 3 lý do tại sao bạn không tin tưởng Chúa?

Bạn có tin rằng quyền năng chữa lành của Chúa Giêsu vẫn có thể được tìm thấy nơi thế giới ngày nay không? Tại sao có và tại sao không?

Bạn tin Chúa có thể làm gì trong cuộc sống của bạn nếu bạn có được lòng tin bằng hạt cải?

An Nhiên 

Kiên trì trong gian nan, thử thách

Những khó khăn mà bạn đối mặt trong cuộc sống định hình nên tính cách. Đó là những công cụ Chúa dùng để giúp bạn trở nên những tôi nam tớ nữ mà Ngài cần bạn trở thành, và là người bạn ao ước trở thành. Chúa biết bạn nghĩ rằng sẽ tốt hơn rất nhiều nếu không có những khó khăn xuất hiện trên đường đời của bạn, và rằng tất cả những khó khăn ấy cản trở việc bạn thi hành ý định của Chúa, nhưng bạn cần tin tưởng rằng Chúa biết điều tốt nhất cho bạn.

Chúa không đặt ý định của Ngài trước mặt bạn như một hộp bánh cookies ngon tuyệt và nói: “Đây, hãy nhận lấy.” Ý định của Ngài thường được đặt rất cao, rất khó với, và bạn phải nỗ lực rất nhiều mới đạt được mục tiêu - đó chính là những gì Chúa dùng để làm bạn trở thành một người mà bạn cần phải trở thành.

Chúa biết rõ những gì bạn trải qua, và những khó khăn, “những gian nan trong cuộc sống” chính là những gì xuất hiện trong quá trình nỗ lực thi thành thánh ý Ngài và trở thành người mà Ngài muốn nơi bạn. Ngay cả những điều như xây dựng một cuộc hôn nhân bền vững, nuôi dạy con cái, có một cuộc sống tinh thần vững vàng, và làm gương sáng, làm chứng cho những ai chưa biết Chúa, chính là những việc bạn phải làm để tôn vinh Chúa, và bạn thường thiếu sót, gặp khó khăn, thử thách và cảm thấy bị chỉ trích khi làm những việc ấy.

Bạn muốn làm tất cả những gì Chúa yêu cầu nơi bạn, nhưng cuộc sống lại không suôn sẻ, mọi việc lại quá khó khăn. Chính Ngài là Đấng đã nói: “Hãy chinh phục độ cao này” và Ngài cũng là Đấng để mưa, tuyết và những trở ngại chen vào con đường của bạn. Vì thế, đừng cảm thấy lo lắng hoặc chỉ trích.

Chúa muốn bạn chiến đấu để với tới được thánh ý của Ngài, nhưng Ngài cũng để cho những khó khăn và trở ngại xuất hiện đồng thời, và Ngài dùng những khó khăn và thử thách như công cụ của Ngài trong cuộc sống của bạn. Còn điều gì khác giữ bạn khiêm tốn và cậy dựa vào Chúa? Còn điều gì khác dạy bạn những bài học bạn cần học? Chúa biết, đôi lúc bạn ước gì Chúa mang những chướng ngại và thử thách đến trong cuộc sống của bạn dễ hiểu hơn, hợp lý hơn, dễ dàng chống chọi hơn, hữu dụng hơn, thay vì những điều có vẻ rất kỳ quặc mà Ngài bảo bạn làm.

Bạn phải biết rằng bất cứ vết thương hay mất mát nào xảy đến trong cuộc sống của bạn, đều có lý do, và như lời Ngài đã hứa, tất cả rồi sẽ nên tốt đẹp để sinh ích, ngay cả khi những điều xảy ra ấy dường như rất tiêu cực và chẳng ích lợi gì.

Chúa biết bạn đang phải đối mặt với những khó khăn khiến bạn mệt mỏi và bạn ước gì chúng biến mất để bạn có thể tập trung vào những việc to lớn hơn, những việc tốt hơn, những việc có vẻ như đáng được khâm phục hơn, nhưng kế hoạch của Ngài dành cho bạn chính là nỗ lực vượt qua những chướng ngại bạn đối mặt ngày hôm nay, cho dù chúng là gì và đến từ đâu; kế hoạch của Ngài chính là muốn bạn không nản lòng khi làm việc thiện hoặc chỉ trích về nguyên nhân do đâu xuất hiện khó khăn.

Nếu Chúa cất chén ấy khỏi bạn - chén chứa tất cả những thử thách nhỏ nhặt của cuộc sống, những trận chiến nhỏ nhặt bạn không muốn chiến đấu - bạn sẽ không bao giờ trưởng thành được theo cách bạn phải trưởng thành, và bạn không bao giờ có thể là những người an ủi, chỉ dẫn và là sức mạnh cho người khác.

Hãy nhớ, những cuộc chiến dài hạn thường mang đến những chiến thắng dài hạn. Có thể cuộc chiến không chấm dứt trong một hai ngày, nhưng nó có thể rút ngắn bớt khi bạn hiểu rõ hơn và biết rõ hơn cách chiến đấu. Một số những chiến thắng đạt được dần dần cùng với từng tiến bộ nhỏ của bạn, cho đến cuối cùng bạn nhận ra rằng bạn đang đứng một mình giữa chiến trường khi kẻ thù của bạn tan tác và bị đánh bại.

Thân xác bạn mệt mỏi với những cuộc chiến dài và quá đau đớn, những cuộc chiến kéo dài chống lại những kẻ thù tầm thường. Bạn muốn chiến đấu với điều gì đó giá trị hơn, điều gì đó có thể khiến bạn cảm thấy tự hào, điều gì đó cho bạn cảm giác xứng đáng.

Nếu không có những khó khăn và thử thách, đức tin của bạn sẽ không được rèn luyện. Thật tự hào và vẻ vang khi chiến đấu với một tên khổng lồ, nhưng để chiến đấu với một điều nhỏ nhặt - như việc nhổ cỏ dại trong vườn chẳng hạn - cần đến sự khiêm tốn, nhẫn nại và kiên trì.

Bạn cảm thấy mình mới thật sự là chiến binh khi đương đầu đối với những tên khổng lồ (những điều tồi tệ to lớn) và đánh bại chúng, nhưng bạn lại cảm thấy mình như kẻ thấy bại khi mồ hôi nhễ nhại và cần mẫn trong vườn để nhổ bỏ cỏ dại.

Thiên Chúa kêu gọi chúng ta cho cả hai kiểu chiến đấu ấy. Chúng ta phải hiểu rằng cả hai kiểu chiến đấu đều đòi hỏi chúng ta phải chiến đấu bằng cả tâm hồn và tâm trí (“Không một thử thách nào xảy ra cho anh em mà lại vượt quá sức loài người. Thiên Chúa là Đấng trung tín, Người sẽ không để anh em bị thử thách quá sức, nhưng khi để anh em bị thử thách, Người sẽ cho kết thúc tốt đẹp, để anh em có sức chịu đựng” - 1 Cr 10,13). Chúa mang đến những trận chiến to lớn, rất ấn tượng để thử thách lòng tin và sự can đảm của chúng ta, và Ngài cũng mang đến những trận chiến kéo dài, nhạt nhẽo, không cao trọng gì để thử thách sức mạnh, quyết tâm và sự kiên trì của chúng ta, và dạy chúng ta đức tính khiêm nhường. Bằng sự khôn ngoan, Ngài rèn luyện bạn trở thành một chiến sĩ tài ba, sẵn sàng chiến đấu trong bất kỳ trấn chiến nào, dù nhỏ hay lớn, cao trọng hay không cao trọng, và chiến thắng trong bất kỳ tình huống nào.

Chúa chính là Đấng khởi đầu và kiện toàn lòng tin của chúng ta, vì thế, hãy tin tưởng Ngài, trông chờ Ngài, và biết rằng Ngài sẽ không để chúng ta chịu đựng quá sức. Nếu chúng ta làm phần việc của mình, lòng tin của chúng ta sẽ được củng cố, chúng ta sẽ trưởng thành và sâu sắc hơn nhờ trải nghiệm, và Khi Ngài nhận thấy đã đến lúc thích hợp để giải thoát bạn, bạn sẽ trở nên như vàng đã được tinh luyện.

Thiên Chúa không phải là Đấng vô cảm khi nhìn thấy bạn phải đối mặt với quá nhiều “gian nan trong cuộc sống”. Ngài biết rõ những khó khăn và gian nan ấy, và trong hiện tại, chúng chẳng có gì là vui mừng. Nhưng Ngài mong bạn hiểu rằng luôn có lý do khi Ngài để sự việc xảy ra, nhờ thế, bạn có thể ngợi khen Ngài trong những lúc gian nan, và có thể để cho niềm vui của Ngài luôn hiện diện nơi bạn mặc cho những khó khăn và thử thách.

Việc đạt tới những mục tiêu lớn lao, chính là bạn nói với Chúa rằng: bạn muốn những phần thưởng lớn nhất và những phần lợi tức cho sự đầu tư của bạn. Bạn nhắm đến những mục tiêu cao cả, nỗ lực hết sức để hoàn thành những gì bạn biết Chúa yêu cầu nơi bạn, và bạn hoàn toàn có thể trông đợi việc ngài thực hiện phần việc của Ngài, và ban ơn lành, những phần thưởng và phép lạ cho bạn.

Hãy ngợi khen trong mọi lúc khó khăn, và “hãy tự cho mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều. Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn” (Gc 1,2-3). Điều này nói đến việc không chỉ hãy tự cho mình là chan chứa niềm vui trong cuộc chiến trở nên công chính, mà còn cả khi gặp thử thách gian nan, kể cả những lỗi lầm của chính bản thân hoặc những điều bực dọc và trái ý nhỏ nhặt trong cuộc sống.

Quá trình trưởng thành và trải nghiệm có thể gian khó, nhưng kết quả cuối cùng rất tuyệt vời. Vì thế, hãy học vui vẻ ngay trong những lúc khó khăn, bởi vì chúng không hoàn toàn biết mất hết. Dù bạn sẽ giành được những chiến thắng và mãi mãi để những khó khăn lùi vào quá khứ, nhưng bạn vẫn sẽ tiếp tục gặp những thử thách mới, và đôi khi bạn sẽ phải giữ thái độ của người chiến thắng cho dù những hoàn cảnh không có gì thay đổi. Nếu bạn hướng lòng trí mình lên Chúa, bạn có thể vượt lên trên những khó khăn, và không để chúng cướp mất niềm hạnh phúc của bạn.

Và khi bạn cảm thấy mệt mỏi, hãy đến bên Chúa; Ngài sẽ ban cho bạn được nghỉ ngơi cũng như an ủi và khích lệ bạn. Cho dù bạn có cảm thấy mình đang đối mặt với trận chiến đáng được thừa nhận hay không, tình yêu của Ngài dành cho bạn vẫn không thay đổi. Hãy tiếp tục chiến đấu bằng sức mạnh của Ngài, vì bạn biết rằng cuối cùng rồi thì chiến thắng cũng sẽ đến, bởi vì Ngài đã hứa như thế.

An Nhiên


  
Vượt qua sự hoài nghi của lòng tin

Hỏi: Đâu là lời khuyên tốt nhất để vượt qua những mối hoài nghi “sẽ như thế nào nếu…”? Tôi nhận thấy đây chính là trở ngại lớn nhất mà tôi gặp phải. Tôi nhận xét một lý lẽ nào đó, và rồi tự hỏi “nhưng sẽ thế nào nếu…”. Điều này không ngừng lặp đi lặp lại. Tôi biết lý do một phần là do tôi sợ nếu mình đặt quá nhiều niềm tin vào một điều gì đó và rồi điều ấy không xảy ra. Đó không phải là do tôi kiêu ngạo, nhưng lòng tin của tôi bị tổn hại. Tôi đã trải qua kinh nghiệm như thế trước đây khi lòng tin tôi bị giao động. Không ai có được kết luận cho điều gì nếu họ không ngừng hỏi “sẽ thế nào nếu…”. Tôi biết rõ điều này. Vậy làm thế nào để vượt qua? Đối với một số người, điều này có vẻ rất đơn giản. Chỉ đơn giản ngừng hỏi “sẽ thế nào nếu…”? Nhưng đối với những ai đã trải qua nỗi sợ hãi sẽ hiểu rõ khó khăn như thế nào. Vậy, đối với những người đang mắc chứng “sẽ thế nào nếu…” - chúng ta phải làm gì?

Trả lời: Tôi hoàn toàn hiểu rõ mối hoài nghi này! Một trong những điểm yếu của tôi chính là tôi luôn thắc mắc mọi thứ. Tôi không muốn đưa ra quyết định tồi, ngay cả trong những vấn đề rất nhỏ nhặt. Vì thế, tôi thường thắc mắc, nghi ngờ khi phải đưa ra những quyết định quan trọng.

Và cũng như thế, rất nhiều lần, tôi hoài nghi niềm tin tín hữu của mình. Tôi tự hỏi bản thân: “Tôi đã bị tẩy não ư? Tôi không thể suy nghĩ khách quan chỉ bởi vì tôi được nuôi dưỡng trong đức tin ngay từ nhỏ sao? Sẽ thế nào nếu tôi sai?” Tôi có được bình an mà Tông đồ Phaolô diễn tả rằng chính Thần Khí chứng thực tôi thuộc về Thiên Chúa (x. Rm 8,16). Nhưng làm thế nào tôi có thể biết liệu bình an của tôi có thực sự đến từ Chúa không? Đó là một câu hỏi khó. Và nói thật, tôi vẫn chưa có được câu trả lời cho câu hỏi này.

Dưới đây là tóm tắt lại 4 việc bạn có thể thực hiện khi đối mặt với sự hoài nghi.

Bước 1:
Nhận biết rằng việc hoài nghi là điều hoàn toàn bình thường. Ông Abraham đã gặp Chúa, Người đã nói với ông rằng ông sẽ có một người con trai, và từ đây, một đất nước hùng mạnh sẽ xuất hiện. Tuy nhiên, khi cuộc sống gặp nguy hiểm tại Ai Cập, để thoát nạn, ông đã nói dối rằng bà Sarah là em gái ông và cho Pharao lấy bà làm vợ, mặc dù ông biết lời hứa của Chúa ban cho ông một đứa con trai vẫn chưa được thực hiện (x. St 12). Ai đó sẽ nghĩ lẽ ra ông Abraham phải tin tưởng rằng Chúa sẽ cứu thoát ông. Nhưng ngược lại, ông đã nói dối, và Đức Chúa đã phải can thiệp để mang Sarah vợ ông về lại cho ông. Lướt nhanh đến chương 20, Abraham đối mặt với một tình huống tương tự. Lần này, lẽ ra, ông nên biết mình phải tin tưởng Đức Chúa sẽ bảo vệ ông mà không cần phải tự mình giải quyết và nói dối. Nhưng một lần nữa, ông lại nghi ngờ lời hứa của Thiên Chúa và lặp lại sai lầm. Ông đã nói dối với vua rằng bà Sarah là em gái mình, cũng giống như với Pharao trước đó, và vua đã bắt bà Sarah mang về hậu cung, và một lần nữa Thiên Chúa lại phải can thiệp (x. St 20). Tuy nhiên, Abraham được xem là người có lòng tin mạnh mẽ và được liệt kê trong Mẫu gương đức tin của các tổ phụ (x. Dt 11).

Gioan Tẩy Giả là người bà con của Chúa Giêsu, được sinh ra trong hoàn cảnh kỳ diệu. Về sau, chính Gioan Tẩy Giả đã làm phép rửa cho Chúa Giêsu, nhìn thấy Thần Khí Chúa đậu xuống trên Ngài, và nghe thấy giọng nói từ trời khẳng định vị thế của Ngài. Sau đó, Gioan bị bắt vào tù, và trong thời gian ở đây, ông đã sai một số môn đệ của ông đến để hỏi Chúa Giêsu liệu Ngài có thật sự là Đấng Mêsia không, hay họ còn phải chờ đợi ai đó khác. Làm thế nào Gioan có thể hỏi câu hỏi như thế, khi ông đã được biết về sự hạ sinh kỳ diệu của ông và của cả Chúa Giêsu và đã chứng kiến những dấu chỉ thần linh khi làm phép rửa cho Chúa Giêsu? Cảm giác bị bỏ rơi trong tù đã khiến Gioan có những hoài nghi về mặt cảm xúc. Ông biết rõ bằng chứng. Nhưng cuộc sống đã không như ông trông đợi - hơi khó khăn vào lúc ấy. Chúa Giêsu biết điều ấy. Ngài đã bảo những môn đệ của Gioan về kể lại cho Gioan nghe những phép lạ mà họ đã thấy Ngài làm (x. Lc 4,16-21). Chúa Giêsu nói gì với những người vừa mới nhận ra rằng người dọn dường cho Ngài giờ đây đang hoài nghi?
Anh em ra xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Thế thì anh em xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là sao? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến”. Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. (Mt 11,7-11; Lc 7,24-28).

Hãy chú ý rằng Chúa Giêsu đã không quở trách Gioan Tẩy Giả về hành động nghi ngờ của ông. Thay vào đó, Ngài đưa ra bằng chứng để động viên ông, và đã khen ngợi ông khi nói rằng không ai cao trọng hơn ông - trong khi tất cả đều biết rằng Gioan đang hoài nghi.

Nếu Tổ phụ Abraham và cả Gioan Tẩy Giả còn hoài nghi và vẫn được Thiên Chúa thương yêu, thì rõ ràng rằng Thiên Chúa hiểu những cảm xúc của chúng ta và kiên nhẫn với chúng ta. Rất nhiều những tín hữu không bao giờ hoài nghi. Tuy nhiên, đối với những ai hoài nghi như chúng ta, thật là một sự an ủi khi biết rằng chúng ta có được những vị tiền nhân cũng trải qua như thế. Những người hoài nghi không phải là những công dân hạng hai trong Vương Quốc của Thiên Chúa!

“Ồ! Điều ấy có thể có tác dụng với những ai đã nghe trực tiếp từ Chúa và nhìn thấy những phép lạ của Người. Nhưng không có ích gì đối với tôi, bởi vì tôi chưa được nhìn thấy phép lạ của Ngài”. Tôi hiểu. Đây chỉ mới là bước đầu tiên khi đối mặt với hoài nghi: Biết rằng hoài nghi là hoàn toàn bình thường.

Bước 2:Biết rằng bằng chứng rõ ràng và hữu hiệu chứng minh lẽ thật Kitô giáo. Mặc dù chúng ta không thể leo lên cổ máy thời gian và quay trở lại quá khứ để chứng kiến những phép Chúa Giêsu đã làm, nhưng chúng ta có được bằng chứng lịch sử rất hùng hồn rằng phép lạ của Ngài thực sự đã xảy ra: Sự Phục Sinh của Ngài.

Nếu Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết, vậy Kitô giáo hoàn toàn là thực. Có thể bạn lại nghĩ: “Nhưng sự sống lại của Ngài được ghi lại trong Kinh Thánh. Làm thế nào tôi biết Kinh Thánh có thật không? Tôi phải chấp nhận nó hoàn toàn bằng lòng tin sao?” Nghiên cứu mang tính khoa học và lịch sử cũng không thể mang đến cho chúng ta một sự chắc chắn tuyệt đối. Chúng ta phải tìm kiếm những dữ liệu có sẵn để có được lời giải thích tốt nhất và chấp nhận với sự chắc chắn thoả đáng hoặc có lý, cũng giống như cách chúng ta hành động với những quyết định quan trọng khác trong cuộc sống. Phần còn lại chính là lòng tin, và điều này đúng với bất cứ niềm tin nào. Tuy nhiên, sự sống lại của Chúa Giêsu không thể nào so sánh với bất cứ bằng chứng mạnh mẽ nào dùng để xác nhận bất cứ niềm tin nào.

Bước 3: Biết rằng sự chắc chắn tuyệt đối là một sự trông đợi không hợp lý. Một số người sống bằng niềm tin không chút hoài nghi. Đó là điều tuyệt vời. Nhưng một số trong chúng ta thật kỳ lạ khi không thể như thế. Cách đây vài năm, tôi chợt nhận ra rằng niềm tin của tôi cũng giống như một trong số rất nhiều điều tôi bình luận sau khi kết quả đã rõ ràng. Tôi nghi ngờ rất nhiều những quyết định mà tôi đã đưa ra từ rất… rất lâu. Ở đây, chúng ta không chỉ đề cập đến những quyết định quan trọng, chẳng hạn như người chúng ta lấy làm vợ/làm chồng. Đôi khi, tôi ngẫm nghĩ lại, ngẫm đi ngẫm lại những quyết định chẳng có gì là quan trọng, chẳng hạn như về những món đồ tôi đã mua: một chiếc đồng hồ, một chiếc xe, hoặc một chai dầu thơm... Đối với tôi, sự chắc chắn tuyệt đối là một sự trông mong không hợp lý. Vì thế, tôi tập sống bằng lòng với sự chắc chắn hợp lý vừa phải.

Bước 4: Biết rằng lòng tin không phải làm cảm giác và không hề có hoài nghi. Lòng tin chính là một sự tuyên thệ. Một người đàn ông đến nhờ Đức Giêsu chữa lành cho người con trai bị quỷ ám của ông. Ông tin nhưng lại xin Chúa Giêsu giúp lòng tin yếu kém của ông (x. Mc 9,24). Ông tin Chúa Giêsu chữa lành cho con trai ông. Ông Phêrô bước đi trên mặt nước và bắt đầu chìm khi ông hoảng sợ trước cơn sóng và sự ngờ vực (x. Mt 14,28-31). Nhưng, Phêrô đã bước ra khỏi thuyền trong khi những người khác vẫn ở trên thuyền nhìn theo. Đối với những người theo Đức Kitô, lòng tin chính là phó thác chính mình cho Ngài. Là một người theo Đức Kitô có nghĩa là khi tôi đối mặt với một quyết định mang tính đạo đức, tôi lựa chọn làm theo những gì Chúa Giêsu đã dạy. Tôi vâng lời Chúa Giêsu bởi vì tôi tin Ngài. Có thể tôi vẫn có những lúc hoài nghi. Nhưng niềm tin mà tôi có được sẽ giành chiến thắng và quyết định cho hành động của tôi trong đời sống đức tin. Như Thánh Giacôbê đã viết: “Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin” (Gc 2,18).

Tóm lại, 4 bước khi đối mặt với sự hoài nghi:
- Biết rằng hoài nghi là điều bình thường.

- Biết rằng bằng chứng hữu hiệu tồn tại chứng thực cho lẽ thật Kitô giáo.

- Biết rằng sự chắc chắn tuyệt đối là một sự trông mong không hợp lý.

- Biết rằng lòng tin không phải là cảm giác hoặc không hề có nghi ngờ. Lòng tin là một lời tuyên thệ.

Nghi Ân
 
 
 
Kiến thức Tôn Giáo và Sống Đạo

Từ xưa, khi nghe đến những anh em trong các Giáo phái Tin Lành, ai nấy đều đồng ý rằng họ là những người được giáo dục kỹ về Kinh Thánh, sách, đoạn, câu cú nhớ thuộc lòng, đừng nói chi đến các mục sư, đã vậy, một mục sư có bản vị tiến sĩ, địa vị không những riêng gì về trong giáo xứ của ông, nhưng ông còn là một trong những vị mục sư được biết nhiều trên diễn đàn quốc gia, thì đối diện với ông ta để chia sẻ về Kinh Thánh, đặc biệt nhất là việc bàn về con người lịch sử của Đức Giêsu thì quả là một cuộc mạo hiểm.
Trên website, chúng ta sẽ không thấy Mục sư Mason với danh hiệu tiến sĩ, hay gì khác, ngoại trừ một cái tên rất khiêm nhượng: George. Khi gặp nhau, Mục sư cũng giới thiệu tên với tôi là: George. Người điềm đạm, giọng nói ấm áp, đầy sinh lực, trẻ hơn tôi vài tuổi, nhưng sự khiêm nhường và tâm tình cởi mở của ông đã tạo cho bầu không khí trao đổi giữa đông-tây, giữa hai văn hoá dị biệt, giữa hai kiếp người hoàn toàn đối chọi, giữa hai kinh nghiệm sống đạo hoàn toàn khác nhau, tự dưng, như hoà hợp nên một.

Tôi khởi đầu bằng lý lịch ngắn gọn của tôi, rồi đi ngay vào đề tài. Chúng tôi đi chia sẻ một vài sách vở chung quanh xã hội và thời đại của Đức Giêsu, những sử liệu, sử gia bên ngoài bộ sách Kinh Thánh.  Ông đã đưa tôi thoáng xuyên qua quá trình hình thành của bộ Kinh Thánh, chính xác từng năm, niên đại, tác giả. Tôi cũng đưa ra những thắc mắc về tông tích, lai lịch, gia thế của Đức Giêsu. Ông đã vui vẻ và ân cần chia sẻ một cách thân tình. 

Cuộc mạn đàm có thể kéo dài, nhưng tôi cảm thấy như tìm được một đồng môn, người sẵn sàng bỏ giờ để cùng nhau nhìn về một hướng, hành trình về một điểm, nghiên cứu về một nhân vật mà hàng tỷ người, trong đó có tổ tiên chúng ta, và chính chúng ta đang tôn thờ: Đức Giêsu.

Theo thống kê của Pew Research Center thì khoảng 50 phần trăm người Kitô giáo không am tường về giáo lý của tôn giáo mình. Lắm người không nắm vững tên tác giả của bốn phúc âm. Có người lại không biết nơi sinh trưởng của Đức Giêsu. Buồn hơn nữa là khoảng 50 phần trăm người công giáo Hoa kỳ không biết rằng, bánh và rượu sau khi linh mục truyền phép đã không còn là bánh và rượu nữa, nhưng đó đã trở thành chính Mình và Máu Đức Giêsu.

Nhìn về lịch sử Kitô giáo (công giáo, giáo hội đông phương và các giáo phái tin lành), người tín hữu đã được nhồi sọ với những tín điều, giáo lý, lắm khi xung khắc với nhau, thành ra người công giáo cách riêng, bị răn dạy cách ly với những sinh hoạt tôn giáo hay các giáo phái khác, nhất là nền giáo dục về đức tin của những giáo phái tin lành, do đó, sự hiểu lầm vẫn duy trì, vẫn in hằn mãi trong tâm thức của không biết bao nhiêu thế hệ người công giáo. Cho đến hôm nay, tôi chưa có dịp được chứng kiến những sinh hoạt hợp quần, hợp tác trong tầng lớp giáo dân của các giáo phái kitô giáo, công giáo-tin lành, cách riêng việc nghiên cứu và học hỏi Kinh Thánh.

Thỉnh thoảng, tôi thăm dò kiến thức của những người công giáo trẻ, không có ai biết được ngôn ngữ hay tiếng mẹ đẻ của Đức Giêsu. Ngạc nhiên thay, theo nghiên cứu của Pew Research Center, người Do Thái, giáo dân thuộc giáo phái Mormons và lạ lùng nhất là những người bị cho là vô thần (atheists) lại thuộc vào ba nhóm người có kiến thức cao về hai lãnh vực Kinh Thánh cũng như về các tôn giáo lớn trên hoàn vũ.

Đại đa số người Mỹ trong cuộc nghiên cứu cho thấy kiến thức của họ rất kém về giáo lý, tín điều, cung cách hành đạo, lịch sử và những lãnh đạo tôn giáo của các tôn giáo lớn khác.

Cũng có nhiều người trong các Giáo phái Tin Lành thờ ơ đến nỗi họ không biết chính 95 luận án (thesis) của tu sĩ công giáo Martin Luther là nền tảng cho sự khai sinh của các giáo phái tin lành vào năm 1517 (Protestant Reformation). Nhưng rồi không biết có mấy ai bên công giáo đã đọc qua 95 luận án này hoặc nghiên cứu sâu về giai đoạn khủng hoảng của giáo hội Roma vào thời điểm này. Và có tới 47 phần trăm ngưới Mỹ không hề biết Dalai Lama là người phật giáo, đừng nói chi đến cương vị một Phật sống hay phật pháp.

Về phương diện Kinh Thánh và giáo dục nhà trường, có đến 67 phần trăm người Mỹ nhận thức sai lầm rằng, Kinh Thánh không được đọc nơi nhà trường. Nhiều người Việt, nhất là những người công giáo vẫn đoan quyết điều này, trong khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã khẳng định Kinh Thánh vẫn được sử dụng trong việc giáo dục nhà trường về giá trị lịch sử và văn chương (Supreme Court has clearly stated that the Bible may be taught for its “literary and historic” qualities.)

Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy đại đa số người Mỹ vẫn không tìm tòi nghiên cứu gì thêm về tôn giáo của họ, ngoại trừ cuốn Kinh Thánh. Và 70 phần trăm không hề tìm hiểu gì thêm các tôn giáo khác. Đây cũng là yếu tố gây nhiều ngộ nhận về tôn giáo, nhất là đối với Hồi giáo.

Người Việt có một truyền thống giữ đạo hết sức đặc biệt, đó là việc kinh kệ. Cuốn sách kinh dày cộm, nhưng từ già đến trẻ, lắm người đều thuộc lầu. Ước gì người công giáo Việt và ngay cả dân Tây theo Kitô giáo chịu chuyển sang một nấc sống đạo mới, đó là đọc và học hỏi Kinh Thánh cũng như sách vở, tài liệu lịch sử khác để nhận diện ra chính Đức Giêsu, và sống từng ngày, từng giờ, từng phút giây, và từng hơi thở gần với Ngài qua chính những bài học sống Ngài dạy.

Nếu chúng ta chịu khó và biết hành trình xa hơn một chút xíu, chúng ta sẽ gặp được chính con người lịch sử của Đức Giêsu. Giáo hội Công giáo cũng như các Giáo phái Tin Lành đã dạy: Đức Giêsu mang hai tính cách, con người và thần thiêng. Sách vở và tài liệu lịch sử cũng đã minh định sự hiện diện của Đức Giêsu nơi trần thế, bằng xương bằng thịt, có nơi chôn nhau cắt rốn, có niên đại, trong xã hội có chính quyền, có tôn giáo, văn hoá và bằng chứng về sự hiện diện của Người như là nhân vật lịch sử kéo dài liên tục hơn 2000 năm qua.

Vì chính Ngài đã tự chọn và mang thân phận làm người, làm con trong một gia đình, có cha mẹ, có lao động, cũng đã hít thở khí trời, có nhu cầu ăn uống để sống, biết vui buồn sướng khổ, đã sử dụng ngôn ngữ loài người để truyền đạt, giảng dạy, đã sống đời sống đạo chuyên cần, và cuối cùng, chấp nhận luật người đời để gánh chịu thống khổ; và rồi trút hơi thở cuối cùng trong thân phận làm người như chúng ta. Có biết như vậy, chúng ta mới cảm thấy Đức Giêsu rất gần gũi với chúng ta, trong từng ngày sống, trong bổn phận, trong những lo toan về cuộc đời.

Bao nhiêu năm chiêm niệm về kinh Lạy Cha mà Đức Giêsu khuyên dạy chúng ta nguyện cầu, một đêm, trong lúc nghiên cứu, tôi khám phá ra văn bản và lời nguyện của bản kinh mà chính Đức Giêsu đã một lần dạy chúng ta nguyện cầu, bằng chính tiếng bản xứ của Người, tiếng Aramaic. Tôi nhắm nghiền mắt lại, lắng nghe từng chữ, từng giọng, cảm nghiệm như Người đang gần kề bên cạnh, và dường như nghe từng hơi  thở của chính Đức Giêsu đang thổi vào tâm thức tôi, chia sẻ với tôi, đang dạy tôi đọc, cùng tôi cầu nguyện. Tâm hồn tôi bay bổng ngất ngây!

Bernard Nguyên Đăng
 
 
  

DIỄN TIẾN VỤ ÁN PHONG CHÂN PHƯỚC VÀ PHONG THÁNH

Diễn tiến của một án phong Chân Phước (Á Thánh) và phong Thánh

Diễn tiến của một án phong Chân Phước (Á Thánh) và phong Thánh theo luật hiện hành của Giáo Hội Công giáo.

Ngày 02.04.07 , giai đoạn đầu (giai đoạn giáo phận) của án phong cho cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã kết thúc long trọng trong một buổi lễ tại thánh đường Lateran ở Rôma, sau gần hai năm tiến hành. Tiến trình này rồi sẽ được tiếp tục ra sao? Nó sẽ trải qua những chặng đường nào nữa và tới bao giờ mới có thể kết thúc? Cũng trong dịp này, vị đại diện của bên đứng đơn (giáo phận Rôma) cho hay, họ đã nhận được nhiều chứng từ phép lạ gửi tới, nhưng không thể đưa tất cả vào hồ sơ, vì như thế việc kết thúc án sẽ kéo dài thêm rất lâu. Tại sao?

Ngày 19.12.09 vừa qua, Đức Bênêđictô XVI lại ra sắc lệnh công nhận tôi tớ Chúa Gioan Phaolô và một số vị khác lên hàng “Đấng đáng kính“ (Venerabilis). Điều này có nghĩa gì?

Vatican - Thành Đô Vĩnh Hằng

Để giúp độc giả hiểu thêm về lĩnh vực này, chúng tôi gửi tài liệu dưới đây, phần lớn viết theo tác giả Ulrich Nersinger trên Zenit trang Đức ngữ ngày 13.03.07.

Ngày 25.01.1983, ĐGH Gioan Phaolô II đã ban hành Hiến chế “Divinus perfectionis Magister“ quy định lại tiến trình tuyên phong Á thánh và Thánh trong Giáo Hội. Cùng với hiến chế, một số quy định chi tiết khác cũng được ban hành cùng lúc hoặc ít lâu sau đó. Theo các văn kiện này, thời gian tiến hành (chờ đợi và điều tra) được rút ngắn lại, diễn tiến phải được tiến hành một cách khoa học hơn, và nhất là vai trò của các giám mục địa phương được nâng lên đúng với tầm nhìn của Công đồng Vatican II.

Từ nay, các giám mục hoặc những vị tương đương ở cấp địa phương là những người có quyền và trách nhiệm đầu tiên trong tiến trình này.

GIAI ĐOẠN I: CẤP GIÁM MỤC ĐỊA PHƯƠNG

Muốn đưa một gương sống đạo lên bàn thánh, kẻ đứng đơn (aktor) trước hết phải trình án/ trường hợp (causa) đó lên cho vị bản quyền tại địa phương (thường là giám mục, đại diện tông toà hay bề trên tỉnh dòng v.v..) nơi ứng viên đó mất (chứ không phải nơi ứng viên sinh ra). Kẻ đứng đơn có thể là một tín hữu bình thường, một định chế Công giáo (giáo xứ, giáo phận, dòng tu…) hay một hội đoàn đã được giáo quyền chuẩn nhận. Điều quan trọng là vị bản quyền phải xem người đứng đơn có đủ tài chính cho tiến trình xét duyệt này không (vì thế, các pháp nhân như giáo xứ, giáo phận, hội đoàn, dòng tu… dễ được ưu tiên chấp nhận hơn).

Đơn có thể đặt sớm nhất là 5 năm sau vị gương mẫu đó qua đời, nếu không có gì đặc biệt thì phải sau 10 năm trở lên. Thời gian tối thiểu này có thể được miễn, nếu vị giáo hoàng đương kim muốn. Trường hợp Mẹ Têrêxa Calcutta và ĐGH Gioan Phaolô II là những trường hợp được miễn điển hình.

Suốt thời gian điều tra và thẩm định, kẻ đứng đơn phải cử ra một vị ủy quyền (postulator) đại diện cho mình. Vị này có thể là một giáo dân, tu sĩ hay giáo sĩ, nhưng phải đủ khả năng về thần học và giáo luật, và phải nắm được thủ tục pháp lý của Bộ Phong Thánh (điểm này có thể tới học hỏi nơi Bộ).

Trong giai đoạn tiền điều tra, giám mục địa phương yêu cầu người ủy quyền nộp một bản lý lịch về án liên hệ, trong đó trình bày chi tiết các nhân đức gương mẫu xứng đáng và cho biết các sách hoặc bài viết đã được phổ biến của người tôi tớ Chúa đó kèm theo một danh sách các nhân chứng. Án của ĐGH Gioan Phaolô II có tới 130 nhân chứng.

Bước thứ hai, giám mục thông báo sự kiện này ra cho tín hữu giáo phận mình và yêu cầu mọi người, ai biết gì về cuộc đời và cái chết của nhân vật liên hệ thì cho hay, hoặc ai còn giữ tài liệu nào của vị đó thì cho giám mục biết.

Vatican - Kinh Đô Vĩnh Cửu

Giám mục địa phương cũng thông báo sự kiện cho giám mục các giáo phận lân cận và hỏi họ xem đề nghị phong Chân Phước hay Thánh này có nên và cần thiết không. Tất cả những sách vở và tài liệu đã được xuất bản của vị tôi tớ được giám mục chuyển cho các nhà thần học (do ngài cử) điều nghiên, đánh giá. Nếu nhóm này đánh giá thuận lợi, giám mục sẽ ra lệnh tập trung và cho đánh giá cả những tài liệu không chính thức của vị đáng kính (nhật ký, thư từ…).

Sau đó, giám mục thông báo tới Rôma về tình hình điều tra và hỏi xem Rôma có ý kiến bất lợi nào không về án này.

Nếu không có cản trở từ phía Rôma, giờ đây giám mục sẽ cho thành lập một toà án với công tác chính là phỏng vấn các nhân chứng. Có hai loại nhân chứng: Những người quen biết trực tiếp và những người biết gián tiếp với vị tôi tớ. Cả hai nhóm đều được mời tới. Mọi ý kiến thuận hay nghịch đều được ghi nhận. Người chứng nào ở quá xa và khó có điều kiện tới toà, thì toà sẽ phái một quan toà tới để phỏng vấn tại chỗ.

Sau khi kết thúc việc phỏng vấn nhân chứng, giám mục phải điều tra xem nơi mộ của người chết có diễn ra cảnh thờ kính (bất chính thức) không. Nếu có, phải ra lệnh đình chỉ ngay, vì nếu không thì đây sẽ là lý do chặn đứng mọi bước tiến tiếp theo.

Các hồ sơ của toà án địa phận sẽ được sao ra thêm hai bản có thị thực của chưởng khế. Hai bản sao và bản chính được chưởng khế đóng triện khoá lại trong một buổi lễ kết thúc trang trọng trước sự hiện diện của giám mục, các quan toà, kẻ đứng đơn, vị ủy quyền và những tín hữu có liên hệ. Hai bản sao sau đó được vị ủy quyền trực tiếp mang tới nộp cho Bộ tại Rôma, bản chính được lưu giữ tại văn khố của giáo phận.

Vì hiện nay Bộ ở Rôma chỉ chính thức dùng tiếng Latinh, Ý, Pháp, Tây Ban Nha và Anh, nên mọi thứ tiếng khác đều phải dịch ra một trong các thứ tiếng đó.

GIAI ĐOẠN II: CẤP BỘ Ở RÔMA

Thẩm quyền tiếp tục xét duyệt tại Rôma là Bộ Phong Thánh, gồm thành viên là các Giám mục và Hồng y. Đứng đầu Bộ là một Hồng y, một Tổng Giám mục giữ vai trò thư ký và một phụ tá thư ký. Ngoài ra, Bộ còn có các báo cáo viên (relatoren, mỗi vị đặc trách một trường hợp), các luật sư đức tin (praelatus theologus), các cố vấn, chuyên viên, chưởng khế, nhân viên hành chính…

Nhận được hồ sơ, Bộ soát lại xem công việc của giai đoạn một có gì sai trái với giáo luật không. Rồi quyết định chuyển giao toàn bộ hồ sơ cho một báo cáo viên đặc trách. Vị này sẽ cùng với người ủy quyền (của giáo phận) lập nên một “hồ sơ về gương nhân đức” của ứng viên, hay một “hồ sơ về gương tử đạo” nếu ứng viên là người tử đạo. Đây là một tài liệu thiết lập một cách khoa học trình bày về cuộc đời, sự nghiệp và cái chết, đặc biệt chú trọng tới chi tiết các gương nhân đức, của ứng viên và về tình hình chung liên hệ tới vị quá cố đó.

"Hồ sơ" được chuyển cho vị luật sư đức tin. (Trước đây còn có "luật sư của qủy" đóng vai trò tìm cách chống lại án; nay vai trò này đã bị bỏ). Vị này sẽ cùng với 8 cố vấn (chuyên viên về tín lý, lịch sử Giáo Hội và tâm linh) xét duyệt và bỏ phiếu. Có được 2/3 phiếu thuận của nhóm này, "hồ sơ" sẽ được đưa ra trước đại hội đồng của Bộ. Nếu đa số đại hội đồng bỏ phiếu thuận, báo cáo viên sẽ lập một “bản tường trình” lên cho Đức Thánh Cha. Chỉ một mình Đức Thánh Cha có quyền quyết định ban hành sắc lệnh liên hệ về án này. Nếu đồng ý, ngài sẽ ban hành một sắc lệnh chuần y, và từ giây phút này ứng viên được mang tước “Bậc đáng kính” hay “Chân phước” (Venerabilis). Sắc lệnh "Bậc đáng kính" của tôi tớ Gioan Phaolô II đã được Đức Bênêđictô ban hành ngày 19.12.2009 vừa qua.

Để án phong có cơ được thực hiện, giờ đây là lúc (các) phép lạ được yêu cầu bổ sung. Lại một tiến trình bắt đầu từ giáo phận nơi xảy ra phép lạ. Giám mục giáo phận điều tra, thu góp tài liệu (hồ sơ bệnh lý, hình chụp quang tuyến…), lập thành hồ sơ, sao ra và chuyển lên Bộ. Dựa trên hồ sơ của giám mục, Bộ lập ra một bản tường trình chuyển cho ủy ban chuyên viên gồm 5 vị (thường là phép lạ lành bệnh, nên ủy viên phần nhiều là các bác sĩ danh tiếng) nghiên cứu và xét duyệt. Sau đó chuyển cho các cố vấn thần học, rồi tới đại hội đồng. Và cuối cùng được trình lên Đức Giáo Hoàng để quyết định. Trong việc xét phong Á thánh cho các vị tử đạo, Đức Giáo Hoàng thường miễn điều kiện phải có một phép lạ, bởi vì tử đạo đã là một hành vi đức tin đủ lớn rồi. Còn ngoài ra, bình thường, phải cần ít nhất một phép lạ.

Án phong của ĐGH Gioan Phaolô II bắt đầu bước sang giai đoạn chứng minh phép lạ. Trong số các chứng từ gửi về, bên đứng đơn cho hay có ba trường hợp có thể được chọn (lấy một): Một nữ tu ở Pháp khỏi bệnh Parkinson, đôi vợ chồng Ba Lan hiếm muộn đã có được một cháu bé và một bào thai gặp nguy đã được cứu vớt, cả ba trường hợp trên đều diễn ra một cách lạ lùng và nhờ lời cầu bầu của tôi tớ Gioan Phaolô II.

GIAI ĐOẠN III: QUYẾT ĐỊNH SẮC PHONG CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG

Thường một khi sắc lệnh "về nhân đức" hay "về tử đạo" đã được ban hành (nghĩa là người tôi tớ đã được danh hiệu là “Bậc đáng kính”), thì việc tuyên phong Á thánh chẳng còn trở ngại gì nữa.

Nghi thức tôn phong Á thánh có thay đổi theo thời gian.

Cho tới gần đây, nghi thức này thường do Đức Giáo Hoàng cử hành tại Rôma, trong một thánh lễ đại triều, có mời cả ngoại giao đoàn. Sau nghi thức thống hối trong thánh lễ, giám mục địa phương liên hệ cùng với vị ủy quyền bước lên trước ĐGH xin được ghi tên vị chân phước vào danh sách các Á thánh. ĐGH đồng ý và xác định luôn các thủ tục và ngày kính. Đức Gioan Phaolô là người đầu tiên đã không nhất thiết cử hành nghi lễ này tại Rôma. Ngài đã làm lễ tuyên phong Chân phước (Á thánh) cho nữ tu Edith Stein và linh mục Rupert Mayer tại Đức.

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI quyết định việc phong Á thánh không do Giáo Hoàng cử hành nữa, mà ngài ủy quyền cho một Hồng y hay Giám mục thay thế, và nghi thức sẽ được cử hành chủ yếu tại giáo phận nơi đứng đơn.

Vatican - Trái Tim của Giáo hội Công giáo toàn cầu

Còn về việc phong Thánh, theo truyền thống, ĐGH thường hỏi ý kiến của các Hồng y có mặt tại giáo triều trước khi quyết định, nhưng ngài không buộc phải theo ý kiến chung của họ. Thánh lễ đại triều phong Thánh có thêm phần kinh cầu các Thánh.

Giáo luật hiện hành không còn phân biệt việc phong Á thánh hay Thánh nữa. Chỉ còn mỗi một “phong thánh” (canonizatio) mà thôi. Nhưng trên thực tế cho tới nay vẫn còn hai nghi thức. Điểm khác nhau có thể nói như sau: Á thánh được tôn kính hạn chế trong một dòng tu, một vùng hay một quốc gia. Cũng không được lập bàn thờ riêng để tôn kính vị đó trong các nhà nguyện, nếu không có phép đặc biệt của Toà Thánh. Còn Thánh được tôn kính cho cả hoàn vũ. Ngoài ra, để được phong Thánh, giáo luật đòi phải có thêm một phép lạ nữa, kể từ sau ngày tuyên phong Á thánh. Đa số nhà thần học coi việc phong Thánh là một hành vi không sai lầm (bất khả ngộ) của Đức Giáo Hoàng.

Trên đây là chuyện thủ tục rắc rối của diễn tiến một án phong. Nhưng điều quan trọng cần biết hơn đối với chúng ta: Đâu là ý nghĩa và bản chất của việc phong thánh. Sách Giáo Lý Công Giáo (số 828) ghi về điểm này: “Khi Giáo Hội tuyên phong một số tín hữu nào đó lên hàng Thánh, nghĩa là long trọng tuyên bố những người này đã thực thi các nhân đức một cách anh hùng và đã sống trung thành với ân huệ của Chúa, đó là Giáo Hội công nhận sự hiện diện của sức mạnh tinh thần thánh thiện nơi Giáo Hội. Giáo Hội tăng cường thêm hy vọng nơi tín hữu bằng cách trao cho họ các thánh như là những gương sống và là kẻ cầu bầu cho họ. Vào những lúc Giáo Hội gặp khó khăn nhất, các thánh luôn là người mở ra sự đổi mới. Sự thánh thiện là nguồn bí ẩn và thước đo không sai lầm của sức mạnh truyền giáo nơi Giáo Hội”.

Viết theo tác giả Ulrich Nersinger trên Zenit trang Đức ngữ ngày 13.03.07

Phạm Hồng Lam chuyển ngữ

SỰ PHÂN BIỆT CẦN THIẾT GIỮA CÁC THẦN KHÍ


Sống giữa ngã ba cuộc đời đa dạng, con người luôn phải tranh đấu, phải luồn lách, phải nhận định và phải chọn lựa một lối đi đúng đắn để mong đạt tới được mục đích mong đợi sau cùng.



Các cảnh báo của Kinh Thánh

Trong nhiều chỗ khác nhau trong phần Kinh Thánh Tân Ước, toàn thể nhân loại chúng ta đã được cảnh giác một cách nghiêm trọng là cần phải tỉnh táo phân biệt, cần phải xem xét các thần khí, chứ không nên nhẹ dạ vội vàng nghe theo ngay.

Thật vậy, để giúp chúng ta phân biệt được rõ ràng đâu là Thần Khí Thiên Chúa và đâu là thần khí thế tục nguy hại, thánh Phaolô đã nêu rõ trong Thư của ngài gửi giáo đoàn Ga-lát đích danh các hoa quả tích cực của Thần Khí Thiên Chúa cần thiết cho sự hạnh phúc chân thật của con người và hoa quả tiêu cực của thần khí xác thịt chỉ đưa con người vào ngõ bí bất hạnh không lối thoát (x. Gl 5,16-24).Còn trong Thư I của ngài, thánh Gioan Tông Đồ lại thẳng thắn cảnh giác các tín hữu: „Anh em thân mến, anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian.“ (1Ga 4,1tt). Và chính Chúa Giêsu cũng đã nhắc nhủ các Môn Đệ phải luôn cẩn thận trước các ngôn sứ giả, những người không mang trong mình Thần Khí Thiên Chúa, nhưng là thần khí của tên Phản-Kitô, nên đừng nghe theo những gì họ nói, nhưng hãy tỉnh táo nhìn hoa quả của các việc họ làm, thì sẽ biết ngay họ là ai và họ thuộc thành phần nào (x. Mt 7,15-23).

Vấn đề này cũng từng đã được đề cập tới trong phần Kinh Thánh Cựu Ước. Trong phần này, người ta đã ghi nhận được rằng, các vị ngôn sứ chân chính của Thiên Chúa đã từng phải đối mặt với bọn ngôn sứ giả, một bọn người đông đảo chỉ luôn truyền bá sự dối trá và lừa bịp, hòng mong mua chuộc và lôi cuốn được những người nhẹ dạ cả tin. Đó là trường hợp ngôn sứ Elija đã phải can trường chống lại 450 ngôn sứ giả của thần Baal; ngôn sứ Micha Ben Jimla đã phải đối mặt với 400 ngôn sứ giả khác (x. 1 V, 22) và cả ngôn sứ Giê-rê-mi-a cũng đã một mình chống lại ngôn sứ giả Kha-nan-gia, một người đã tự nhận là ngôn sứ và đã dùng những lời ngon ngọt, bùi tai và mị dân để lừa bịp dân Ít-ra-el (x Gr 28).

Nỗi phân vân trước sự lựa chọn

Điều đó muốn nói rằng, vấn đề này không phải là một hiện tượng mới lạ trong xã hội loài người, nhưng đồng thời nó vẫn luôn mang tính cách thời sự và vì thế có liên quan đến chúng ta. Bởi vậy, nhiều người đã phải tự hỏi: Khi nghe một người nào đó, nhất là một người có danh giá trong xã hội hay một vĩ nhân, phát biểu hay trình bày một vấn đề quan trọng nào đó, thì làm sao có thể phân biệt được lời phát biểu của người ấy là do thiện ý đã được Thần Khí Thiên Chúa soi sáng hướng dẫn, hay chỉ là ý kiến phóng đại vô căn cứ của cá nhân người ấy, hay còn tồi tệ hơn nữa là để đánh lừa người nghe với một hậu ý ích kỷ nào đó? Khi nào người ta có thể tin tưởng một người nào đó, hay nói đúng hơn, người ta phải để ý quan sát những dấu chỉ cảnh báo nào? Và sau cùng, ai có thể phân biệt được giữa thật và giả, sai và đúng một cách chắc chắn?

Sự phân biệt cần thiết giữa thật-hư và đúng-sai không chỉ dựa trên sự kiểm tra của những đặc sủng (Charismen) mà Thiên Chúa đã ban riêng cho Giáo Hội –tức những khả năng nổi trội do Thần Khí Chúa tác động – ngõ hầu Giáo Hội chu toàn quyền giáo huấn của mình trong lãnh vực đức tin và luân lý hoàn toàn phù hợp với chân lý của Đức Kitô(*), nhưng cả trên sự phán đoán và đánh giá đúng đắn của mỗi người về những sự kiện xảy trong đời sống của chính mình. Dĩ nhiên trong thực tế, cả hai lãnh vực ấy không hoàn toàn tách biệt nhau một cách rõ ràng. Lãnh vực thứ nhất có liên quan tới sự đòi hỏi chắc chắn về chân lý của giáo huấn của Giáo Hội. Ví dụ: đứng trước những sự kiện xảy ra (kể cả những mặc khải tư) câu hỏi đầu tiên bao giờ cũng được đặt ra là liệu những sự kiện ấy có hội đủ tính chất xác thực khách quan hay không. Còn lãnh vực thứ hai liên quan trực tiếp tới sự phán đoán về điều cần thiết phải có trong đời sống tâm linh. Ví dụ: làm sao tôi có thể phân biệt được đâu là những suy tư đúng đắn và đâu chỉ là những ảo tưởng hay những tư tưởng nguy hiểm, trong chính mình tôi hay nơi những người khác, trong trường hợp có sự giúp đỡ tinh thần của một ai đó?

Sự phân biệt giữa đức tin và cảm tính

Trong những trường hợp này còn phải kể đến các yếu tố khác nữa, chẳng hạn cần phải xác định rõ ràng giới hạn các khả năng cá nhân: Những dấu chỉ nào có thể hoà hợp với khả năng cảm hứng hay dự định của mình? Nhưng cả trong cuộc sống hằng ngày: Những cảm xúc, những cảm nhận và những hứng cảm trong khi cầu nguyện có ý nghĩa gì không? Và người ta có thể tự lừa dối mình vì những điều ấy không?

Để nhận chân được vấn đề này, chúng ta có thể đưa ra một ví dụ cụ thể, chẳng hạn một người nào đó mặc dù đã hết lòng ăn năn hối cải các tội lỗi của mình và đã lãnh nhận Bí tích Cáo Giải một cách thành sự, nhưng vẫn cảm thấy lòng mình còn áy náy, chưa được bằng an, thì trong trường hợp này đương sự không được phép hồ nghi về tính cách thành sự hay sự hiệu nghiệm của Bí tích Cáo Giải mà người ấy đã lãnh nhận, nếu không, người ấy đã coi trọng và đặt cảm xúc thuần tuý chủ quan của mình lên trên đức tin Kitô giáo. Cảm xúc hay cảm nhận trong mỗi người là điều cần thiết để cân bằng các sinh hoạt tâm lý của người ấy và làm cho cuộc sống người ấy tăng phần hưng phấn, nhưng chúng không phải là tiêu chuẩn chính để phê phán và nhận định một người hay một sự việc một cách chắc chắn được. Chính lý trí mới là tác nhân các phán đoán của con người.

Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, các vấn đề này cũng đã được đặt ra; và vào thời hậu trung cổ các vị Tổ phụ các Dòng Tu và các nhà thần học đã đặc biệt phân tích chúng với một sự hiểu biết và nhận thức thần học rất đúng đắn. Chẳng hạn thánh Bernardin thành Siena đã tìm cách biện giải vấn nạn gai góc này, khi ngài đã tự hỏi mình về những cảm nghĩ trong lòng: Tại sao và cho ai khi tôi muốn thực hiện điều này điều nọ? Dự định ấy có phù hợp với các khả năng thể lý và tinh thần của tôi không? Mỗi người đều đã biết rất rõ rằng „thần khí của chính mình“ có thể đánh lừa họ, ví dụ: Khi một người bỗng cảm thấy lòng mình cháy bỏng – một trường hợp mà người ta thường sử dụng cụm từ „một sức mạnh vô hình“ thúc đẩy – mong ước theo đuổi và tìm cách đạt tới những trải nghiệm thiêng liêng bằng mọi giá, nhưng theo tâm lý học thì hiện tượng ấy có thể mới chỉ là một sự ép buộc các cảm xúc của mình mà thôi, tức mới chỉ là sự tác động và thôi thúc của „thần khí“ đương sự.

Thái độ thận trọng cần phải có

Để đánh giá đúng đắn sự khả tín của một người, và dù đã dựa trên các tiêu chuẩn của Kinh Thánh, thì người ta cũng không được phép vội quả quyết là người ấy hoàn toàn đúng hay sai trong các chi tiết được; hay nói rõ hơn, nếu một người nào đó thực hiện được một sự kiện lạ lùng, thì sự kiện lạ lùng ấy cũng chưa thể được hợp thức hóa hay được công nhận một cách chắc chắn, vì các phù thủy vua Pharaon cũng có thể làm cho chiếc gậy biến thành con rắn hoàn toàn tương tự như Tổ phụ Môsê vậy (x. Xh 7,8-13). Và chính Chúa Giêsu cũng nói là mấy tên ngôn sứ giả, tức mấy tên Phản-Kitô, cũng có thể làm được các điều thiêng dấu lạ vĩ đại có sức thuyết phục (x Mt 24,24).

Trong khi việc tìm kiếm lợi ích vật chất cá nhân hay ý tưởng chỉ muốn làm vừa lòng người khác một cách trần thế trong sứ mệnh phụng sự Nước Trời rõ ràng là những dấu hiệu báo động quan trọng (x. 1Tx 2,3-7), vì chúng chắc chắn không do Thần Khí Thiên Chúa tác động, thì chính nhịp độ và cách thức sống hợp lý cũng chưa nhất thiết là tiêu chuẩn đích thực để phê phán một người nào đó là bạn tâm phúc của Thiên Chúa. Một cuộc sống hoàn thiện chân chính mới là tiêu chuẩn đích thực để được đánh giá là thuộc hàng ngũ các bạn hữu của Thiên Chúa. Dĩ nhiên, trước tiên người ta không thể luôn luôn xác định cuộc sống ấy một cách chính xác được, nếu không, Chúa Giêsu đã không cảnh giác trước cảnh „chó sói đột lốt chiên“ (x. Mt7,15). Tiếp đến, trong suốt dòng lịch sử của Giáo Hội đã có những người và những phong trào chủ trương đi tìm kiếm sự hoàn hảo thánh thiện qua một lối sống chìm đắm trong kinh nguyện và trong chay tịnh khắc khổ, nhưng đáng tiếc là các giáo huấn của họ lại hoàn toàn đi ngược với các giáo huấn chính thức của Giáo Hội.

Ở đây chúng ta có thể liên tưởng đến, ví dụ: Phong trào của những Kitô hữu Katharer từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 14 tại miền Nam nước Pháp, sau đó lan tràn sang cả Ý, Tây Ban Nha và Đức. Các Kitô hữu này cũng được gọi là Albigenser, danh xưng này phát xuất từ tên của thành phố Albi ở miền Nam nước Pháp, bản doanh của phong trào. Họ tự cho mình là „veri Christiani“: các Kitô hữu chân chính. Họ là những người ngoan đạo, nhưng các chủ trương thần học của họ lại hoàn toàn khác với giáo lý của Giáo Hội. Họ chủ trương thuyết Nhị Nguyên (Dualisme), tức cho rằng hiện hữu song hành hai thế giới đối lập nhau – thế giới sự dữ, tức thế giới vật chất đời này, và thế giới tinh thần là thế giới thánh thiện và chỉ có trên Thiên đàng – và sự thiện hảo trong con người, tức linh hồn, sẽ giải thoát con người thoát khỏi thế giới này và đưa về Thiên đàng.

Hay trong thời đại ngày nay, chúng ta cũng có thể liên tưởng đến nhóm Công Giáo thủ cựu của TGM Marcel Lefèbre. Họ bác bỏ các quyết định canh tân hợp lý và cần thiết trong đời sống Giáo Hội của Công đồng Vatican II, vì cho đó không phải là tác động của Thần Khí Thiên Chúa, nhưng là của thần khí thế tục, thần khí Tam Điểm. Nhưng điểm quyết định ở đây là họ phê phán và chối bỏ các quyết định của Công đồng như thế không dựa trên lý do pháp lý, tức tính cách hợp pháp hay bất hợp pháp của các quyết định ấy của Công đồng, nhưng là dựa trên cảm tính thuần tuý, tức dựa trên các cảm xúc và cảm nhận của họ. Họ tự cho mình là những người Công Giáo chính thống, vì họ vẫn giữ nguyên cuộc sống Kitô hữu của mình như thời trước Công đồng. Hơn thế nữa, xem ra họ không còn tự coi mình là con cái của Mẹ Giáo Hội nữa, nhưng là đối tác ngang hàng với các yêu sách chủ quan khó chấp nhận của họ trong các cuộc đối thoại tay đôi với Giáo Hội trong suốt mấy thập niên vừa qua. Và hiện tại họ đang do dự, chứ chưa dứt khoát giữa hai sự lựa chọn: hoặc tuân phục quyền giáo huấn của Giáo Hội, chấp nhận các quyết định của Công đồng như là hoa quả của Thần Khí Thiên Chúa và đoàn tụ lại trong lòng Mẹ Giáo Hội, hoặc vẫn tiếp tục bảo thủ quan điểm chủ quan lệch lạc của mình để trở thành một lạc giáo mới!

Đây là trường hợp hoàn toàn tương tự như trường hợp nhóm „Cựu Công Giáo“, tức những người cũng đã phản đối tín điều „Bất khả ngộ“ của Đức Giáo Hoàng mà Công đồng Vatican I đã thiết lập dưới sự soi sáng của Thần Khí Thiên Chúa, và họ đã tự tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo. Họ tự gọi mình là những người „Cựu Công Giáo“ (Alt-Katholiken), vì họ vẫn giữ nếp sống Công Giáo như trước Công đồng Vatican I. Ngày nay nhóm này chỉ còn sống rời rạc ở một vài nước Thụy Sĩ hay Hoà Lan, còn đa số đã trở lại với Giáo Hội Công Giáo Roma.

Điểm nhận diện những người được tuyển chọn

Trên đây là ba trường hợp tiêu biểu trong bao trường hợp khác đã từng xảy ra trong lòng Giáo Hội, và đã làm cho trái tim của Mẹ Giáo Hội bao phen phải rớm máu. Tất cả những hiện tượng và sự kiện ấy đều có một điểm gặp gỡ chung trong cuộc sống tinh thần của họ, đó là: Họ tách biệt hoàn toàn sự xác tín chủ quan của mình cũng như lý tưởng tìm kiếm một cuộc sống hoàn thiện và chay tịnh khắc khổ ra khỏi tinh thần tuân phục và đức khiêm tốn. Trong khi hai nhân đức tuân phục và khiêm tốn là dấu chỉ để nhận diện những người được tuyển chọn của Nước Trời, chứ không phải là lòng kiêu căng và sự tự khẳng định mình một các chủ quan, vì Kinh Thánh đã dạy: „Vâng lời thì tốt hơn của lễ!“ (x. 1Sm 15,22b). Và đồng thời họ quên đi lời khẳng định của Chúa với Giáo Hội: „Thầy ở cùng các con mọi ngày cho tới tân thế.“(Mt 28,20b)

Đàng khác chúng ta cũng đừng quên nguyên tắc này: Điểm quyết định khi phán đoán về một sứ điệp nào đó là phải dựa trên chính nội dung của nó, chứ không phải nhất thiết dựa trên cách thức của những người sống theo sứ điệp ấy. Thật vậy, Tin Mừng Cứu Độ của Đức Kitô đã được các thánh Tông Đồ rao giảng cho mọi dân tộc trên khắp thế giới và các ngài đã lưu truyền quyền giáo huấn ấy lại cho Giáo Hội Công Giáo, một Giáo Hội được nối tiếp liên tục từ các thánh Tông Đồ qua dòng lịch sử trên 2000 năm và mãi cho tới hôm nay. Vì thế, trong số các Giáo Hội thuộc Kitô giáo thì Giáo Hội Công Giáo được gọi là Giáo Hội Tông Truyền và được ủy quyền giáo huấn và cắt nghĩa Tin Mừng Đức Kitô một cách hợp pháp, mặc dù trong suốt hơn 2000 năm lịch sử của Giáo Hội đã không thiếu những thành phần của Giáo Hội từng gây nên những xì-căng-đan bằng những lý thuyết chủ quan, ngược lại với các giáo huấn chính thức của Giáo Hội và đã gây nên những cuộc chia rẽ và ly giáo đầy đau thương, như đã từng xảy ra trong Giáo Hội.

Trong đời sống thực tế, một kinh nghiệm cụ thể cũng chứng minh cho thấy rằng, trên thế giới hiện tại chỉ có Giáo Hội Công Giáo là điểm tựa luân lý khả tín và chắc chắn duy nhất cho toàn thế giới, cũng như tiếng nói của các Đức Giáo Hoàng luôn vẫn còn gây được những ảnh hưởng tinh thần sâu rộng nhất định, và là tiếng nói luân lý duy nhất còn được cả thế giới đánh giá cao và đón nhận.

Tiếp đến, một kinh nghiệm khác cũng chứng minh cho thấy rằng, khi một người hay một nhóm người nào đó vì bất cứ lý do gì mà lìa bỏ Giáo Hội Công Giáo, không còn hay không được thông công với đời sống Giáo Hội nữa, thì cuộc sống đức tin của họ không chóng thì chầy sẽ từ từ bị phôi phai, lệch lạc, rã rời và mất dần sức sống; và nếu không trở thành lạc giáo và tiếp tục lún sâu vào những giáo lý sai lạc và những lối sống phản luân lý Kitô giáo, thì cũng sẽ bị đồng hóa vào xã hội trần thế. Đó là hiện tượng đang xảy ra cho các Giáo Phái hay các Giáo Hội thuộc Kitô giáo ngoài Giáo Hội Công Giáo. Điển hình là trường hợp Giáo Hội Anh Giáo: Vì các nguyên nhân sai lạc, như phong chức Giám Mục và Linh Mục cho các người đồng tình luyến ái, cho các phụ nữ, làm phép hôn phối cho những người đồng tính, v.v…, nên từ nhiều năm nay đã có hàng loạt các tín hữu Anh Giáo quay trở về xin gia nhập Giáo Hội Công Giáo, từ các Giám Mục, Linh Mục cho tới các giáo dân.

Nhưng một câu hỏi lại được đặt ra là: Liệu cách thức phê phán một sứ điệp phải căn cứ trên nội dung của nó, như đã nói ở trên, có được tiếp tục áp dụng trong khi phê phán các sự kiện mặc khải như Giáo Hội vẫn luôn xác tín, hay mỗi người „được tự tiện giải thích Kinh Thánh theo ý riêng mình“ (x. 2Pr 1,20)? Ở đây, chúng ta lại một lần nữa trích lời thánh Bernardin thành Siena: „Nếu như một ai đó sống rất đạo đức thánh thiện, nhưng ngôn ngữ và cách ăn nói của người ấy lại làm cho giáo huấn đức tin hay những chỉ dạy luân lý của Giáo Hội bị lu mờ, thì người ta không cần phải quan tâm đến các kinh nghiệm thần bí hay các sứ điệp của người ấy.“

Một tiêu chuẩn khác cũng được áp dụng trong khi phê phán những kinh nghiệm của bản thân, mà tất cả các tác giả đã được nêu danh, bắt đầu từ các Giáo Phụ qua thánh Caterina thành Siena và thánh Tê-rê-xa thành Avila cho tới Hans Urs von Balthasar, nhà thần học Công Giáo thời danh trong thế kỷ 20, đó là: Ai thực sự muốn tiếp cận Thiên Chúa, thì không thể làm được gì khác ngoài việc phải nỗ lực trở nên khiêm tốn hơn. Một sự trải nghiệm thực sự về ân sủng siêu nhiên và về khả năng của mình cũng sẽ làm cho con người nhận chân được rằng, ơn nghĩa Chúa và đức tin không phải là những điều con người có thể chiếm hữu hay kín múc được bằng sức lực của mình, nhưng hoàn toàn do Chúa ban một cách nhưng không. Chính sự khám phá và xác tín được những giới hạn của mình, người ta sẽ sống khiêm tốn hơn

Như vậy, tinh thần khiêm tốn không hề là một tự ti mặc cảm và cầm chân sự phát huy của con người, nhưng là nguồn mang lại niềm vui sâu thẳm cho tâm hồn, sự kiên nhẫn và sức mạnh nội tâm. Bởi vì, tinh thần khiêm tốn không phải là luôn luôn tự cho mình bé nhỏ, thấp hèn và vô dụng, nhưng là biết nhận chân được con người thật của mình với các ưu khuyết điểm và các giới hạn của mình. Nhất là luôn biết xác tín rằng, không có bất cứ quyền lực ngoại tại nào có thể ngăn cản được Lời Chúa và các tác động của Thần Khí Người, vì Thần Khí Chúa cũng giống như gió, muốn thổi đâu tùy ý (x.Ga 3,8). Tinh thần khiêm tốn còn là hoa quả của lòng từ bi nhân hậu và lòng đại lượng bao dung, và vì thế là dấu chỉ để nhận diện các ngôn sứ và các bạn hữu của Thiên Chúa, tức những người luôn biết liên kết với người khác qua kinh nguyện của mình và không bao giờ chỉ tìm kiếm lợi ích riêng mà quên các đồng loại của mình. Chính sự cảm nghiệm này sẽ làm nảy sinh lòng khao khát cháy bỏng là chỉ mong muốn sống một cuộc sống hoàn toàn theo sự an bài của thánh ý Thiên Chúa. Nghĩa là không bảo thủ sự cảm nghiệm ấy như một kỷ niệm cho riêng mình, vì như thế sẽ làm cho nó không thể sinh ra được các hoa quả bác ái hữu ích. Cuộc sống và các khả năng của con người chỉ thực sự có giá trị trước mặt Thiên Chúa và xã hội, khi chúng được sử dụng một cách đúng đắn để phục vụ và mưu ích cho đồng loại mà thôi (x. Mt 25,31-46).

Kết luận

Khi phải đối mặt với các thần khí khác biệt nhau và đối lập với nhau: một bên là Thần Khí Thiên Chúa, Thần Khí của sự sống, của chân lý và của tình yêu; còn một bên kia là thần khí thế tục, thần khí của sự dối trá, của bịp bợm, của ghen ghét hận thù, của sa đọa phóng túng và của sự chết chóc, v.v… con người đòi buộc phải có một sự phân biệt đúng đắn và rõ ràng, cũng như phải có một sự chọn lựa dứt khoát, ngay cả khi phải hy sinh từ bỏ những lợi ích và những vinh dự đời này hay cả đến mạng sống của chính mình nữa. Vì sự lựa chọn này có tác dụng mang tính cách quyết định đến cuộc sống hạnh phúc và sự tiêu diệt đời đời của con người (x. Gl 5,16-24).

Hay cụ thể hơn, sống giữa một xã hội đa nguyên và đa dạng như xã hội ngày nay, con người cần phải tỉnh táo để phân biệt được một cách đúng đắn các trào lưu tư tưởng, các quan niệm và các lối sống không chỉ hoàn toàn khác biệt nhau mà còn đối lập nhau nữa, hầu có thể chọn lựa cho mình được các tư duy đúng đắn và một lối sống hợp lý, để nhờ thế con người mới có thể đạt tới được sự hạnh phúc chân thật. Trên con đường dẫn tới sự hạnh phúc chân thật ấy chỉ có Thần Khí Thiên Chúa, tức Chúa Thánh Thần hay Ngôi Ba Thiên Chúa, là Đấng duy nhất mới có thể soi dẫn và dìu dắt con người đi đúng đường và đạt tới đích bằng bảy Ơn Thánh cao cả của Người được, đó là:

1. Ơn Khôn Ngoan: giúp ta phân biệt được phải-trái, thật-hư.

2. Ơn Hiểu biết: giúp ta hiểu rõ được các Giới Răn của Chúa và của Giáo Hội.

3. Ơn Lo Liệu:giúp ta biết giải quyết đúng đắn các khó khăn của cuộc sống.

4. Ơn Sức Mạnh:giúp ta vượt qua mọi khó nguy trong cuộc sống và chu toàn được các bổn phận của mình.

5. Ơn Thông Minh:giúp ta nhận ra được thánh ý Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.

6. Ơn Đạo Đức:giúp ta luôn biết yêu mến và tín thác nơi Chúa và nâng đỡ trợ giúp các anh chị em đồng loại.

7. Ơn Kính Sợ Thiên Chúa:giúp ta tôn thờ Chúa, kính trọng quyền năng của Người và xa tránh tất cả những điều xúc phạm đến Người.

Lạy Chúa Thánh Thần, Thần Linh Chân Lý, xin hãy đến và soi sáng cho con cái loài người chúng con trong cuộc sống dương thế đầy gian nan thử thách này, hầu chúng con luôn là những Kitô hữu chân chính, trung kiên và nhân hậu, để nhờ thế chúng con thực sự là nhân chứng sống động của Đức Kitô giữa lòng đời. Amen

(*) x. Avery Dulles, A Church to Believe in (New York: Cossroad, 1982, trang 133, Tín Điều vô ngộ của Giáo Hội đã được Công đồng Vatican I công bố, và Công đồng Vatican II cũng đã xác quyết thêm một lần nữa trong Hiến Chế Lumen Gentium, số 25.

Lm. Gioan Bosco Nguyễn Hữu Thy

PHẢI CHĂNG NGƯỜI TA CÓ THỂ TRẢ GIÁ CHO MỘT THÁNH LỄ?

Bình thường, hầu như tất cả các tín hữu Công Giáo đều đầy lòng tin tưởng khi họ đến xin một vị Linh Mục dâng Thánh Lễ để cầu nguyện cho một ý nguyện nhất định nào đó của họ, như cầu xin ơn bình an cho gia đình, cho con cái hay cầu nguyện cho linh hồn các người thân đã qua đời, v.v… Và những ý nguyện ấy thường được gọi là “ý lễ” (Meßintentionen). Trên thực tế, người tín hữu thường đến văn phòng giáo xứ để gặp Cha Chánh xứ hay thư ký giáo xứ và trình bày ý nguyện xin lễ của mình và sau đó dâng một số tiền nào đó theo quy định của giáo phận, của giáo xứ hay tuỳ lòng hảo tâm của đương sự, số tiền này được gọi là “bổng lễ”.

Vấn đề tiền xin lễ hay bổng lễ này đã khiến không ít người từng thắc mắc tự hỏi: Phải chăng người ta có thể mua được ơn thánh và sự chúc phúc của Thiên Chúa? Phải chăng con người có thể mặc cả với Thiên Chúa về ân sủng thiêng liêng bằng tiền bạc vật chất? Nói cách khác, phải chăng người ta có thể trả giá cho một Thánh Lễ?

Một thoáng nhìn lui lại dấu ấn lịch sử
Để có cái nhìn khách quan và đúng đắn hơn về vấn đề “tiền xin lễ” hay “bổng lễ” người ta cần nhìn lại dấu tích lịch sử của vấn đề ngay từ thời Giáo Hội tiên khởi. Vào thời kỳ này của Giáo Hội, các tín hữu thường tập trung tại một địa điểm nhất định nào đó để cùng nhau cử hành “Lễ Bẻ Bánh” mà sau này được gọi là “Thánh Lễ Mi-sa”, hay đơn giản hơn: “Thánh Lễ”; theo ngôn ngữ tân thời người ta còn gọi là “Cử hành Bí tích Thánh Thể”, thì họ không chỉ cử hành các Lễ Nghi Phụng Vụ theo nghĩa chúng ta hiểu ngày nay, nhưng cuộc cử hành Lễ Bẻ Bánh đó còn được gắn liền với một bữa ăn chung thân mật trong tình huynh đệ, bữa ăn A-ga-pê, giữa các tín hữu có mặt, mà các thức ăn thức uống cho bữa ăn ấy đã được các tín hữu tự nguyện mang theo khi họ đến tham dự Lễ Bẻ Bánh, tức Thánh Lễ. Dĩ nhiên lắm lúc họ cũng đã không tránh được những thiếu sót và những xử sự lệch lạc trong bữa ăn chung này, nên đã gây ra nhiều tiêu cực và thái độ thiếu thông cảm trong cộng đoàn, giữa những tín hữu giàu và những tín hữu nghèo, khiến thánh Phaolô phải viết thư cảnh tỉnh và nhắc bảo họ (x. 1Cr 11,17-34).

Trong số các thức ăn thức uống hay các hoa quả khác được các tín hữu mang đến cho bữa ăn A-ga-pê ấy trong Ngày Của Chúa, Ngày Chúa Nhật, ngày cộng đoàn các tín hữu cử hành Thánh Lễ Mi-sa, người ta trích ra một số nào đó để giúp vào cuộc sống vật chất của vị Trưởng Lão coi sóc cộng đoàn, tức vị Linh Mục, với những công tác như: Chủ sự các Thánh Lễ cũng như công việc săn sóc và thăm viếng an ủi các thành viên trong cộng đoàn, nhất là những người già nua, neo đơn hay bệnh tật, v.v…, mà ngày nay người ta gọi là “công tác Mục Vụ.” Tiếp đến, khi các gia đình muốn xin vị Linh Mục dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho những ý nguyện riêng của mình, thì để tỏ lòng biết ơn vị Linh Mục và để giúp đỡ ngài trong cuộc sống hằng ngày, họ đã mang đến cúng biếu ngài các thứ thổ sản mà họ có được từ các nghề sinh sống của họ, chứ tuyệt đối không phải để trả thù lao cho ngài đã dâng Lễ cầu nguyện cho họ.

Đàng khác, trong các thế kỷ đầu, các vị Linh Mục cũng phải kiếm ăn sinh sống bằng một nghề nghiệp như bao người khác, và các ngài chỉ nghỉ việc khi trong cộng đoàn có nhu cầu khẩn cấp cần đến sự giúp đỡ của các ngài, như: thăm viếng và xức dầu bệnh nhân, các cuộc họp mặt của các tín hữu, nhất là trong ngày cử hành Thánh Lễ cho cộng đoàn các tín hữu. Và vì phải lo cho cộng đoàn như thế, nên đời sống của vị Linh Mục không tránh được sự chật vật và vất vả. Về sau, để giúp giải quyết những khó khăn phát sinh từ công việc làm ăn kiếm sống hằng ngày và nhiệm vụ coi sóc cộng đoàn của vị Linh Mục, hầu để ngài được toàn tâm toàn lực chỉ lo cho công việc của cộng đoàn mà thôi, các tín hữu đã tự động đóng góp tiền bạc hay các thổ sản vật chất do họ làm ra được từ các nghề nghiệp khác nhau của họ, để bảo đảm cuộc sống kinh tế của vị Linh Mục Chánh xứ cũng như để giúp ngài trong việc trang trải các chi phí cho đèn nến, hoa hòe hay các chi phí khác thuộc lãnh vực trang trí và phụng vụ trong nhà thờ. Đây cũng là lý do cắt nghĩa tại sao các giáo xứ thường chiếm giữ một số bất động sản nào đó, như vườn tược, ruộng nương hay nhà cửa.

Vào thời trung cổ, hình thức giúp đỡ các vị Linh Mục bằng cách xin lễ với bổng lễ kèm theo đã trở thành một tập tục rất phổ thông. Nhiều người còn xin vị Linh Mục trong một lần nhiều ý lễ khác nhau để ngài cầu nguyện theo ý chỉ của họ, và đồng thời họ cũng dâng cúng cho vị Linh Mục một số tiền nhất định nào đó. Dĩ nhiên, trong trường hợp một lần xin nhiều lễ như thế, người xin lễ không thể đích thân tham dự các Thánh Lễ mà vị Linh Mục dâng để cầu nguyện cho họ. Ngày nay thói quen “xin lễ” và “dâng lễ” theo hình thức này hầu như vẫn còn được thực hành ở nhiều nơi trong Giáo Hội.

Sự phản đối và sửa sai
Ở điểm này, đặc biệt Martin Luther và các anh em Tin Lành đã cực lực phản đối vấn đề bổng lễ. Theo họ, kiểu thực hành việc xin lễ và dâng lễ như thế, tức dâng lễ kèm theo bổng lễ, sẽ làm cho sự cứu rỗi của con người không còn là ơn thánh nhưng không (gratuit) của Thiên Chúa ban cho con người nữa, nhưng là một điều người ta có thể chiếm đạt được bằng tiền bạc vật chất. Có lẽ sự phản đối này của Luther và của các anh em Tin Lành không phải là sự phản đối duy nhất và đầu tiên, nhưng là một sự phản đối quen thuộc nhất chống lại Giáo Hội Công Giáo, và nhất là sự phản đối ấy không hoàn toàn thiếu cơ sở. Chính thánh Tô-ma A-qui-nô, nhà thần học thời danh thời trung cổ cũng đã cảnh cáo trước những thực hành có thể gây nên sự hiểu lầm này. Ngay cả Công đồng Trient (1545-1563) cũng dạy rằng sự tham dự vào việc cử hành Thánh Lễ một cách thực tiễn và thái độ cơ bản đích thực (Disposition) đóng vai trò quyết định để Bí tích thực sự trở nên có hiệu quả.

Ở đây, khoa thần học thế kỷ 20 còn nhấn mạnh đến nhiều phương diện khác nữa. Trước hết, khoa thần học nhắc lại rằng ơn thánh Chúa không được nhìn và đánh giá theo khía cạnh giá trị vật chất mà người ta có thể cầm được trong tay như một đồ vật hay có thể đếm được như các của cải vật chất. Ơn thánh Chúa không phải là một đồ vật, nhưng là một mối tương quan, mà Thiên Chúa vì lòng yêu thương vô biên của Người đã thiết lập với con người.

Nếu vậy, câu trả lời cho vấn nạn được nêu ra “phải chăng người ta có thể trả giá cho một Thánh Lễ” đã quá rõ ràng. Tự bản chất, việc cử hành Thánh Lễ và tiền bổng lễ là hai lãnh vực hoàn toàn khác biệt và độc lập với nhau. Ân sủng siêu nhiên là ơn nhưng không của Thiên Chúa ban cho nhân loại, chứ không thể mua bằng tiền bạc được. Còn bổng lễ phải được coi là tiền cúng biếu tự nguyện như vừa đề cập ở trên.

Nhưng đàng khác, trên thực tế chúng ta cũng đừng quên rằng, trừ trường hợp đặc biệt tại một số rất ít các nước – như tại CHLB Đức, Thụy Sỹ, Pháp hay Tiệp Khắc, v.v…, các vị Linh Mục Chánh xứ được cấp cho một số lương nào đó đều đặn hàng tháng – còn tại đa số các nước khác trên thế giới, nhất là tại các vùng truyền giáo như trường hợp ở Việt Nam, các vị Linh Mục phụ trách các giáo xứ không nhận được tiền lương nhất định, mà hoàn toàn sống nhờ vào sự giúp đỡ hay cúng biếu tự nguyện của các tín hữu, trong đó phải kể cả tiền lễ hay bổng lễ, tức tiền các tín hữu dâng cúng cho vị Linh Mục khi họ xin ngài dâng lễ cầu nguyện cho ý chỉ của họ,. Nhưng tự bản chất của nó, như vừa nói, bổng lễ không phải điều kiện tiên quyết để một vị Linh Mục dâng lễ cầu nguyện cho ý nguyện một người nào đó. Vì thế, khi một người xin lễ, nhưng vì điều kiện kinh tế hoàn toàn bất khả, không thể có bổng lễ kèm theo được, thì theo quy định của Giáo Luật (GL) bó buộc vị Linh Mục liên hệ cũng phải dâng lễ chỉ theo ý người ấy (GL, điều 945, §2).

Dĩ nhiên, trong mọi trường hợp, bó buộc lương tâm các vị Linh Mục phải tuân giữ đúng theo quy định của giáo luật, tức mỗi ngày dù vì hoàn cảnh bắt buộc các ngài phải chỉ nhiều ý lễ trong một Thánh Lễ hay làm nhiều Lễ với các bổng lễ khác nhau, thì các ngài cũng chỉ được phép nhận một bổng lễ mà thôi, số bổng lễ còn lại các ngài bó buộc phải gửi về Tòa Giám Mục sở tại (GL, điều 951,§1 &2). Trong trường hợp này, đương nhiên không có luật nào cấm các vị Linh Mục được phép chọn cho mình bổng lễ “béo” hơn trong số các bổng lễ, vì ngoài bổng lễ ra các ngài không còn khoản thu nhập chính thức nào khác nữa. Và chẳng những các Linh Mục Chánh xứ có quyền lo cho cuộc sống tại chức của mình, mà còn cho cả những năm tháng sau này khi các ngài về hưu. Và đó là điều hoàn toàn hợp lý, vì “thợ thì đáng được nuôi ăn” (Mt 10,10b). Đây là điều quan trọng mà những người không đồng ý về vấn đề bổng lễ cũng cần phải khách quan nhìn nhận.

Tuy nhiên, ở điểm này, chúng ta cũng phải thành thật thừa nhận rằng tại một số ít các giáo xứ ở Việt Nam, đặc biệt ở các giáo xứ vùng quê, đã và đang có một vài áp dụng thực hành không đúng. Thật vậy, vì “nhân bất thập toàn”, đã là người thì không ai là hoàn hảo mười phân vẹn mười cả, nên dù mang trên mình ấn tín thánh chức Linh Mục, nhưng các vị Linh Mục luôn vẫn là những con người bất toàn như bao con người khác và đang bước đi trên con đường tiến về sự hoàn thiện. Bởi vậy, vì do nhu cầu hoàn cảnh sống thực tế đưa đẩy, một số các vị Chánh Xứ đã không tránh được những áp dụng lệch lạc. Chẳng hạn: trong các dịp lễ an táng, lễ giỗ, nhất là lễ cưới hỏi, v.v…, ngoài các quy định chính thức của giáo phận ra, các ngài còn đặt thêm những tiêu chuẩn áp dụng riêng. Ví dụ: để làm cho các hình thức tổ chức bên ngoài của việc cử hành thánh lễ thêm phần long trọng hơn, như: thắp bao nhiêu ngọn nến trên bàn thờ, giật bao nhiêu hồi chuông, cho chạy máy điện hay chỉ sử dụng đèn dầu hoặc có treo cờ hay không, v.v…, tất cả đều tùy thuộc vào số tiền xin lễ nhiều hay ít của gia chủ.

Nhưng tất cả những áp dụng này chẳng những hoàn toàn nằm ngoài các quy định của giáo luật, mà còn chứa đựng nhiều nguy hiểm khiến các giáo dân chẳng những đua đòi cạnh tranh nhau, mà nhất là làm cho họ hiểu sai ý nghĩa siêu nhiên cao cả của thánh lễ, và sau cùng có thể đưa đến chỗ “buôn thần bán thánh”, đến chỗ làm thương mại trên bổng lễ (x. GL, điều 947), gây nên xì-căn-đan. Chắc chắn rằng những áp dụng sai trái này cần phải sớm được chấn tỉnh và chấm dứt ngay, và phải tuân thủ theo đúng các quy định của giáo luật hay của giáo quyền sở tại, chứ không thể ngụy biện cho rằng “lệnh vua thua lệ làng” để tiếp tục được.

Tại CHLB Đức, như đã nói trên, vì các Linh Mục Chánh xứ hàng tháng nhận được một số tiền lương vừa đủ bảo đảm cho cuộc sống và các sinh hoạt hằng ngày của các ngài, nên các ngài ít bị rơi vào sự “cám dỗ” nguy hiểm của bổng lễ và những vấn đề kèm theo. Đàng khác, số tiền lễ do các giáo dân xin – mà theo Ta-ríp chung thì thường quy định mỗi lễ chỉ vào khoảng 6 Euro – thường không do các cha Chánh xứ phụ trách, nhưng thuộc quỹ giáo xứ do vị thủ quỹ giáo xứ hay thư ký văn phòng giáo xứ tiếp nhận, ghi vào sổ lễ và quản lý, và hằng năm hay hằng quý họ sẽ chuyển đi để giúp đỡ Giáo Hội ở các nước nghèo trên khắp thế giới, dĩ nhiên với sự chấp thuận của Cha Xứ.

Ân sủng, một nghĩa cử của tình yêu bao dung của Thiên Chúa
Trọng tâm của ý chỉ hay ý lễ mà người giáo dân khi xin một vị Linh Mục dâng lễ cầu nguyện cho là gì? Đó chính là ân sủng của Thiên Chúa. Và như đã nói ở trên, ân sủng của Thiên Chúa không phải là một món hàng trao đổi, mua đi bán lại giữa các đối tác thương mại, nhưng là mối tương quan nghĩa thiết giữa Thiên Chúa và con người, hay nói đúng hơn là tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện qua sự tác động của Chúa Thánh Thần. Điều đó có nghĩa, khi chúng ta cầu nguyện hay xin lễ cho một người nào đó, chúng ta gắn bó chính mình với tình yêu Thiên Chúa trong một sự quan tâm và liên đới huynh đệ với người ấy.

Vì thế, tình yêu giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với con người chỉ được thể hiện một cách cụ thể và cao độ nhất trong khi cử hành Thánh Lễ Mi-sa, trong khi cử hành nhiệm tích Thánh Thể, nghĩa là cử hành tình yêu Thiên Chúa. Vậy, cầu nguyện và việc cử hành Thánh Lễ Mi-sa không phải một hành động thương mại trao đi đổi lại, và hoàn toàn không được tính toán sòng phẳng theo kiểu nhân loại: “Tiền trao cháo múc”, tôi cho anh cái này, anh phải trao lại tôi cái kia, vì Thiên Chúa ban cho con người các ân sủng của Người hoàn toàn một cách nhưng không (gratuitement), chứ không dựa trên công trạng của con người. Nói cách khác, ân sủng Thiên Chúa ban cho con người hoàn toàn là một nghĩa cử của tình yêu bao dung của Người dành cho con người.

Hành động vì người khác
Tiếp đến, còn thêm một suy tư khác: Phải chăng chúng ta có thể làm được điều gì đó để giúp đỡ những người khác? Và chúng ta có thể làm được điều gì đó để giúp đỡ những người khác, khi chính những người ấy không thể tự giúp được mình nữa, như trường hợp những người đã qua đời?

Câu trả lời cho những thắc mắc trên là điều chúng ta đã, đang và sẽ làm trong chính lúc chúng ta cầu nguyện, nhất là trong lời cầu giúp nguyện thay cho các anh chị em đồng loại của chúng ta trong các Thánh Lễ hay trong khi cử hành các lễ nghi phụng vụ khác mà người ta vẫn gọi là “Lời Nguyện Giáo Dân”. Bởi vì đức tin dạy cho chúng ta biết chắc chắn rằng, với lời cầu nguyện thành tâm và đầy lòng tin yêu phó thác của chúng ta, Thiên Chúa sẽ tác động và biến đổi trong tâm hồn và nơi cuộc sống một người nào đó, mà theo sức lực tự nhiên của loài người được coi là hoàn toàn vô vọng và bất khả, như Thánh Kinh đã khẳng định: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37), hay: “Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì cửa sẽ mở cho” (Lc 11,9-11).

Ở đây, để dễ hiểu hơn, chúng ta có thể đưa ra một ví dụ cụ thể: Nếu một người vì bất lực hay vì một lý do bất khả kháng nào đo khiến anh không thể thi hành được một công tác đã được trao phó mà anh bó buộc phải hoàn thành, nhưng lại có một người khác muốn giúp đỡ anh nên đã tự nguyện làm thay cho anh và đã hoàn thành tốt công tác ấy, thì tất nhiên anh không còn phải chịu trách nhiệm về công tác đã được trao phó nữa. Vì chính anh tự chu toàn tốt công tác được trao phó cho mình hay một người khác làm thay cho anh, thì đều không có gì khác biệt.

Điều này chúng ta có thể hiểu về phương diện dâng lễ cầu nguyện cứu giúp các linh hồn trong luyện ngục. Chúng ta biết rằng, sau khi chết, các linh hồn tuyệt đối không còn làm được gì nữa để tự cứu mình: họ không phạm tội thêm mà cũng không thể làm được các việc lành phúc đức nữa. Tình trạng các linh hồn khi chết ra sao thì luôn vẫn vậy, không còn thay đổi được nữa, vì thời giờ lập công ở đời này của họ đã qua. Nhưng chúng ta, bao lâu còn sống trên cõi đời này, chúng ta luôn còn có điều kiện để lập công cho mình và lập công để cứu giúp các linh hồn trong luyện ngục bằng lời cầu nguyện sốt sắng, bằng các việc lành phúc đức của mình, nhất là bằng việc xin lễ và tham dự các thánh lễ để cầu nguyện cho các ngài.

Thật vậy, qua lời cầu nguyện, nhất là qua sự tham dự tích cực vào việc cử hành Thánh Lễ Mi-sa, chúng ta tín thác và tin tưởng vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Như thế chúng ta đã thực hiện một hình thức liên đới siêu nhiên với các anh chị em đồng loại của chúng ta qua một cộng đồng siêu nhiên, tức cộng đồng của những người tự liên kết với nhau trong đức tin, một cộng đồng không dựa trên nền tảng mang tính cách trần thế, nhưng dựa trên nền tảng đức tin vào Đức Kitô và tình bác ái huynh đệ. Và đương nhiê, ở đây cũng tuyệt đối không có sự tính toán và sòng phẳng theo kiểu nhân loại. Tình yêu không bao giờ là một sự tính toán, một sự sắp đặt hay một sự trao đổi sòng phẳng. Tình yêu luôn tìm kiếm những con đường cũng như bắc lên những nhịp cầu khả dĩ để nối kết giữa những người yêu nhau.

Cộng đồng tính, đặc điểm của việc cử hành Thánh Lễ
Việc cử hành Thánh Lễ là một nghi lễ phụng vụ cộng đồng các tín hữu, tức với sự tham dự thực tiễn của các tín hữu, vì thế phải được đặt lên trên các việc cử hành Phụng Vụ mang tính cách riêng tư. Ở điểm này, trong Hiến chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Consilium (SC), Công đồng Vatican II đã minh định: “Mỗi khi các nghi lễ, theo bản chất đặc biệt của chúng, gồm việc cử hành cộng đồng với sự tham dự đông đảo và linh hoạt của giáo dân thì nên nhớ rằng phải quý chuộng việc cử hành cộng đồng hơn việc cử hành đơn độc và riêng rẽ. Điều này có giá trị đặc biệt cho việc cử hành Thánh Lễ, dầu bản tính cộng đồng và xã hội của Thánh Lễ vẫn luôn luôn được duy trì, và còn có giá trị cho việc ban phát các Bí tích” (SC, số 27).

Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với những hướng dẫn tổng quát trong Sách Lễ Rôma, tức theo nguyên tắc, khi cử hành thánh lễ nếu có các em giúp lễ thì cũng đủ để hiểu là thánh lễ ấy có sự tham dự của cộng đồng. Ngoài ra còn một số trường hợp hoàn toàn đặc biệt, vị Linh Mục cũng có thể được phép dâng Thánh Lễ một mình. Ở đây, chúng ta có thể liên tưởng tới trường hợp đặc biệt của ĐHY. Fx. Nguyễn Văn Thuận. Suốt hơn 13 năm bị cô lập hoàn toàn trong nhà tù khắc nghiệt của CSVN, ngài đã hằng ngày dâng lễ một mình với một mẫu bánh nhỏ xíu và một giọt rượu trong lòng bàn tay. Nhưng đây là những Thánh Lễ long trọng nhất, vì đã được dâng “trên thập gia” của sự đau khổ tột cùng, như Hy Lễ Đức Kitô dâng xưa trên núi sọ.

Nhưng chúng ta cần nhắc lại một lần nữa, ngoài các trường hợp đặc biệt, thì tự bản chất của thánh lễ Mi-sa, việc cử hành thánh lễ luôn luôn phải là một việc cử hành mang tính cách cộng đồng. Để nhấn mạnh và làm sáng tỏ cộng đồng tính của việc cử hành thánh lễ, thì một vài chi tiết cụ thể trong công cuộc cải tổ Phụng Vụ của Công đồng là thánh lễ được cử hành bằng ngôn ngữ địa phương và khi dâng lễ vị Linh Mục chủ tế quay mặt xuống cộng đoàn giáo dân. Điều ấy muốn nói rằng việc cử hành thánh lễ là công việc của cả cộng đoàn các tín hữu và vị Linh Mục chủ tế, chứ không phải công việc riêng của vị Linh Mục chủ tế mà thôi. Vai trò chính yếu và quan trọng nhất của vị Linh Mục chủ tế là thay mặt cộng đoàn chủ sự thánh lễ, tức đại diện cộng đoàn tín hữu dâng lên Thiên Chúa hy lễ của cả cộng đoàn và của chính mình, như lời kêu mời của ngài trong tất cả mọi Thánh Lễ trước khi đọc lời Truyền Phép: “Anh chị em hãy cầu nguyện, để hy lễ của tôi cũng như của anh chị em được Thiên Chúa là Cha Toàn Năng chấp nhận”, và tiếp liền sau đó cả cộng đoàn phụng vụ cũng đồng thanh đáp lại: “Xin Chúa nhận hy lễ bởi tay cha, để ca tụng tôn vinh danh Chúa, và mưu ích cho chúng ta cùng toàn thể Hội Thánh Người.”

Tất cả những điều ấy muốn khẳng định rằng, sự tương quan của vị Linh Mục với Phép Thánh Thể, hay nói rõ hơn: với Thiên Chúa trong khi cử hành Thánh Lễ, không thể tách rời khỏi sự tương quan của ngài với cộng đoàn các tín hữu đang tham dự Thánh Lễ. Chính câu đáp lại của cộng đoàn phụng vụ vừa được trích lại ở trên: “…và mưu ích cho chúng ta…”, chứ không phải: “…và mưu ích cho chúng tôi hay chúng con…” cũng đã khẳng định rằng, khi cử hành Thánh Lễ vị Chủ Tế và các tín hữu tham dự liên kết thành một cộng đoàn phụng vụ duy nhất. Và vì thế, tự bản chất của nó, sự tương quan giữa vị Linh Mục chủ tế và các tín hữu tham dự phải thực tiễn và cụ thể trong một nghi thức cử hành chung, chứ không thể qua một sự tương quan trong tinh thần hay trong tâm trí mà thôi. Nói cách khác, người tín hữu muốn được hưởng những ơn ích của Thánh Lễ Mi-sa, thì phải hiện diện một cách thực tiễn và cụ thể trong khi cử hành Thánh Lễ, chứ không chỉ thông công kiểu “hàm thụ” bằng tâm trí.

Kết luận
Một trong những bổn phận quan trọng thuộc sứ mệnh của thiên chức làm người Kitô hữu của chúng ta, là phải cầu nguyện cho mọi người khác, nhất là qua việc tham dự các thánh lễ một cách sốt sắng và đầy lòng yêu mến. Tất nhiên, mỗi tín hữu còn có thể tự liên kết mình với việc cử hành thánh lễ một cách đặc biệt và sâu xa hơn bằng một hay nhiều ý nguyện nhất định nào đó mà người ấy đã gửi gắm nơi vị Linh Mục. Trong trường hợp này, nếu người tín hữu dâng cúng một số tiền nào đó cho việc cử hành thánh lễ theo ý chỉ của họ, thì nghĩa cử đó phải được hiểu là để góp phần nâng đỡ cuộc sống vị Linh Mục và các sinh hoạt của Giáo Hội (x. GL, điều 946), chứ tuyệt đối không được hiểu là để “mua” thánh lễ hay ân sủng của Thiên Chúa. Thánh Lễ Mi-sa là một sự lặp lại Hy Lễ thập giá của Đức Kitô, nên hoàn toàn vô giá, người ta không thể trả giá hay mua bằng tiền bạc được. Và một điều khác cũng hết sức bình thường và hợp lý, là người xin lễ cần phải tham dự thánh lễ một cách thực tiễn và cụ thể. Trong trường hợp bất khả kháng khiến người tín hữu xin lễ không thể đích thân tham dự thánh lễ do vị Linh Mục mà họ xin cử hành, thì họ có thể tham dự một thánh lễ do một vị Linh Mục khác cử hành ở nơi họ có thể tham dự được, với ý chỉ của mình.

Và sau cùng, bạn đọc thân mến, trong mọi trường hợp bạn hãy xác tín rằng, Thiên Chúa là Cha Chung của mọi người và Người yêu thương hết mọi người, không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo hay chính kiến. Vì thế, Người cũng là Người Cha dấu yêu của bạn. Tất cả những gì bạn đang có, kể cả hơi thở và sự sống của bạn, đều là ân sủng nhưng không của Người ban cho bạn. Nên dù bạn là ai đi nữa, bạn hãy chạy đến với Người một cách đơn sơ, đầy tin tưởng và đầy tình con thảo như một đứa con chạy đến với cha mình qua những giờ phút chìm sâu trong cầu nguyện khi tham dự Thánh Lễ Mi-sa. Ở đó, Người đang luôn mở rộng vòng tay chờ đợi bạn đấy. Bạn hãy đến với Người và hãy tín thác cho Người tất cả những gì bạn ôm ấp trong lòng: niềm vui cũng như nỗi buồn, sự thành công cũng như sự thất bại, điều làm bạn hài lòng cũng như điều làm bạn bất mãn và khó chịu, v.v…, dĩ nhiên cả những nông nổi, những hiểu lầm và những thiếu sót của bạn nữa. Chắc chắn Thánh Linh của Người sẽ soi sáng cho bạn cần phải cư xử ra sao và cần phải hành động thế nào cho thấu tình đạt lý trong các tương quan với Người cũng như với các anh em đồng loại, để cuộc sống chung trong xã hội luôn được hài hòa, và để bạn được an vui và hạnh phúc thực sự trong tâm hồn cũng như trong cuộc sống. Tôi dám quả quyết với bạn điều đó.

Lm. Gioan Bosco. Nguyễn Hữu Thy