Nhân
vật chính của Tin Mừng là Đức Giêsu Kitô. Tâm điểm của Tin Mừng là cuộc
tử nạn và Phục sinh của Ngài. Nếu phải đi tìm một nhân vật thứ hai của
Tin Mừng, người được đề cử là Thánh Gioan Tầy Giả.
Nếu đọc kỹ Tin Mừng, chúng ta sẽ thấy thánh Gioan có một đặc ân lớn lao, được tiếp xúc với cả Ba Ngôi Thiên Chúa tại đoạn Tin Mừng mô tả Chúa Giêsu chịu phép rửa. “Ông Gioan còn làm chứng: Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn" (Ga 1,32).
Có chuyện ngụ ngôn vui sau, một hôm cáo nói với cọp rằng chính nó mới là chúa tể sơn lâm, tất cả các thú vật trong rừng đều phải nể sợ. Nếu không tin hãy để nó đi trước, cọp theo sau, đi khắp nơi mà kiểm chứng. Quả nhiên, đi đâu các loài vật đành phải tránh. Chúng sợ cọp, nhưng cọp lại nghĩ chúng sợ cáo. Câu chuyện hàm ý, người biết dựa vào thế lực, uy quyền của người kề cận để khoe mình, chính là cáo mượn oai hùm.
Thánh Gioan được Chúa Cha tuyển chọn là vị ngôn sứ đi trước dọn đường cho Người Con của mình. Thánh Gioan nói: “Tôi là tiếng hô trong hoang địa, hãy sửa đường thẳng cho Chúa đi” (Ga 1,34), ngài chính là vị ngôn sứ làm cầu nối giữa Cựu ước và Tân ước. Dù được sai đi trước Người Con của một Thiên Chúa quyền năng cả không gian lẫn thời gian, Thánh Gioan đã không dùng kế sách cáo giả oai hùm như trên. Ngược lại, ngài rất khiêm tốn khi nói về mình với nhóm thầy tư tế, với các đồ đệ và khi gặp Đức Kitô.
Với nhòm tư tế, ngài nói: "Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người" (Ga 1,26). Hay một đọan khác, ngài bảo với các môn đệ: "Tôi đây không phải là Đấng Kitô, mà là kẻ được sai đi trước mặt Người. Ai cưới cô dâu, người ấy là chú rể. Còn người bạn của chú rể đứng đó nghe chàng, thì vui mừng hớn hở vì được nghe tiếng nói của chàng. Đó là niềm vui của thầy, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn. Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3,29)
Khi bàn về tính khiêm nhường và tự cao, ai cũng thấy rằng học tập tính khiêm nhường thường khó, rất khó. Những ai càng thông minh thì cái tôi càng lớn. Nhưng nhìn ở góc cạnh khác, có một nghịch lý, nếu ai đã sở hữu được bộ óc thông minh thì hãy cố gắng làm chủ bài toán khó: sự khiêm cung.
Bàn về sự khiêm nhường, Đức Hồng y F.X Nguyễn Văn Thuận viết: “Người khiêm nhường như hạ mình sát đất không còn ngã xuống đâu được. Người kiêu ngạo như leo trên tháp cao, rất dễ nhào và ngã khủng khiếp lắm. Càng khiêm tốn Đức Maria càng trong sáng, vì càng thấy rõ những điều kỳ diệu Chúa làm trong lòng Mẹ”.
Khi nói về bản thân, Mẹ Têrêsa Calcuta nói: “Tôi tin rằng nếu Chúa tìm thấy một người nào yếu ớt hơn, vô vọng hơn tôi, Ngài thậm chí sẽ làm nhiều điều cao cả hơn cho người ấy, vì công việc này là của Ngài”.
Trong 14 điều răn dạy của đạo Phật cũng ghi rõ: “Thất bại lớn nhất của đời người là sự tự đại”.
Lạy Thánh Gioan Tẩy Giả, xin thầy luôn nhắc nhở, chỉ dạy cho chúng con tính khiêm cung trong lòng.
G. Tuấn Anh
CHÂN DUNG GIOAN TIÊN HÔ
Gioan cất tiếng hô vang:
Bạt đồi, xẻ núi, lấp sông, uốn đường
Để Ngôi Hai, Chúa thiên cung
Giáng trần cứu độ, yêu thương nhân loài
Thánh Gioan Tiền hô luôn gắn liền với Mùa Vọng như một “định mệnh”.
Ông là người “mở đường” cho Chúa đến, là nhân vật quan trọng trong công
cuộc Cứu độ của Thiên Chúa, nhưng ông lại rất khiêm nhường, không nhận
mình là ngôn sứ hoặc là gì khác, chỉ tự nhận mình là “tiếng người hô
trong hoang địa” (Ga 1:23) và “không đáng cởi quai dép cho Chúa Giêsu”
(Ga 1:27).
Thánh Gioan Tiền hô là một thanh niên trẻ nhưng nhìn rất “bụi” trong
trang phục áo da thú, hẳn là nhìn ông rất khắc khổ vì ông ăn chay
trường: Hàng ngày chỉ ăn châu chấu và mật ong rừng. Có thể coi Thánh
Gioan Tiền hô là Mặt Trăng, còn Chúa Giêsu là Mặt Trời, nhưng không hề
“đối kháng” theo ý câu “như mặt trời và mặt trăng” khi chúng ta nói về 2
người đối lập. Mặt trăng sáng nhờ mặt trời, “mặt trăng” Gioan Tiền hô
sáng nhờ “mặt trời công chính” Giêsu. Chúng ta là những ngôi sao bé nhỏ
trong vòm trời yêu thương nên chắc chắn cũng chỉ sáng nhờ Mặt Trời
Giêsu.
Thánh Gioan Tiền hô có “nét” độc đáo và khác người, ước muốn của ông
cũng chẳng giống ai: Ông muốn Chúa phải LỚN lên, còn ông phải NHỎ lại.
Đó là “chất riêng” của ông, không lẫn với ai. Ông quá khiêm nhường. Có
lẽ đây là điều rất khó đối với chúng ta, vì chúng ta thường muốn mình
nổi trội hơn người khác, ngay cả khi chúng ta làm những việc mà chúng ta
gọi là “làm việc tông đồ”, làm việc bác ái hoặc làm từ thiện. Dù không
nói ra, nhưng động thái của chúng ta chứng tỏ chúng ta “ngụ ý” rằng
“trước khi sáng Danh Chúa phải sáng danh con”.
Có lần LM Vinh sơn Ngô Minh Tân (Gx Bình Lợi, hạt Gia Định) nói trong một thánh lễ chiều (mùa Vọng, 2011): “Chúng tôi vẫn được dạy rằng linh mục luôn phải coi chừng vì có thể chính mình che choán hết Thiên Chúa!”.
Con người dễ ảo tưởng và kiêu sa lắm, dễ suy luận chủ quan theo ý mình,
vì thế mà lúc nào cũng phải “tỉnh thức” và phải dám “luôn luôn lắng
nghe” để có thể “luôn luôn thấu hiểu”. Cương vị nào cũng khả dĩ có cách
kiêu ngạo đặc thù. Mặc dù “con người chỉ là cây sậy có lý trí” nhưng
“cái TÔI đáng ghét” kia vẫn sẵn sàng trỗi dậy bất kỳ lúc nào!
Người ta nói: “A-xít làm cháy tiền, tiền làm cháy tim phụ nữ, phụ nữ làm cháy tim đàn ông”. Một cách nói “độc đáo” thật. Còn Thánh Phaolô nói: “Cội
rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng
ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau
xâu xé” (1 Tm 6:10). Tiền bạc có hệ lụy với quyền lợi, quyền lợi có
hệ lụy với con người, vì thế mà tiền bạc có ma lực khiến người ta mê
muội và kiêu ngạo. Có lẽ vì vậy mà người Pháp có câu: “Tiền bạc là đầy tớ tốt, nhưng là ông chủ xấu” (L’argent est un servant bon, mais un maitre mal).
Thánh Gioan Tiền hô còn được gọi là Tẩy giả vì ông làm Phép Rửa cho
Chúa Giêsu tại sông Giodan. Ông là người có cuộc sống giản dị, thoát ly
tiền bạc, không dính líu vật chất. Tài sản của ông chỉ có bộ áo da thú
khoác trên mình. Ông sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian,
không lệ thuộc vật chất. Một con người như vậy nên rất cương trực trong
mọi chuyện. Thấy nhà vua ham mê sắc dục, ông đã dám can ngăn nhà vua,
quyết bảo vệ luân thường đạo lý. Nhà vua “lú lẫn” trong nhục dục nên sẵn
sàng tặng bất cứ thứ gì, dù là nửa nước, cho mỹ nhân. Nhưng người con
gái kia không cần gì khác ngoài “cái đầu của Gioan Tẩy giả”. Nhà vua đã
lỡ lời nhưng không dám sửa đổi, đành “chiều” theo ác ý của mỹ nhân.
Thánh Gioan Tẩy giả là nhân chứng sống và là vị tử đạo đầu tiên của Tân
ước.
Thánh Phaolô tâm sự: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi”
(Gl 2:20). Đó là cách sống mà ai cũng phải mơ ước. Nhưng con người có
nhiều thứ giằng co trong mình, đôi khi cảm thấy mình như bất lực với
chính mình. Chúa biết rõ mười mươi, vì thế Ngài đã động viên: “Đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa” (Ga 14:1), và Ngài còn hứa rõ ràng và quyết liệt: “Thầy ở cùng anh chị em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20).
Lạy Đấng Thiên Sai, xin cho chúng con can đảm noi gương sống
của Thánh Gioan Tiền hô. Xin Ngôi Hai mau đến cứu chúng con thoát khỏi
ngục-tù-tội-lỗi. Chúng con cầu xin nhân Danh Đức Kitô. Amen.
Thomas Aq. Trầm Thiên Thu
Gioan Tẩy Giả
Thầy kính mến,
Con vẫn nghĩ rằng Phaolô là nhà truyền giáo vĩ đại nhất của Giáo Hội. Lòng nhiệt thành truyền giáo thì quá cao. Sự nghiệp truyền giáo thì quá dày. Nhưng từ hơn 10 năm nay con lại nghĩ khác. Gioan Tẩy Giả mới là nhà truyền giáo vĩ đại nhất. Thành tích truyền giáo của ông thì không đáng kể, nhưng phẩm chất thừa sai của ông thì tuyệt vời.
1. Con thấy Thầy là bản gốc, còn Gioan Tẩy Giả là bản photocopy. Thầy rất nghiêm khắc đối với lãnh đạo Do Thái giáo và rất bao dung đối với người tội lỗi. Gioan Tẩy Giả cũng y như vậy. Bọn thu thuế và gái giang hồ ùn ùn đến với Gioan Tẩy Giả để xin sám hối trong dòng nước sông Giođan. Sau này, đám người này cũng tuôn đến với Thầy như nước triều dâng.
2. Uy tín của Gioan đang lên như diều gặp gió, bỗng dưng ông tự cắt dây cho diều rơi xuống. Ông tự xoá bản thân để nhường chỗ cho Thầy.
- Người ta bảo ông là Đấng Cứu Thế. Ông chối phắt, chối mãi (x. Ga 1,19-34). Ông chỉ nhìn nhận mình là người đến trước dọn đường cho Đấng Cứu Thế mà thôi.
- Người ta than phiền với ông là quần chúng bỏ ông mà theo Thầy hết rồi. Gioan không buồn mà còn sung sướng trả lời: “Bây giờ niềm vui của tôi mới được trọn vẹn. Ấy là Người thì phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi” (Ga 3,29-30).
Ông đã tự nguyện lui vào bóng tối. Ông chỉ mong muốn đệ tử của ông quên ông mà theo Thầy.
Ông âm thầm ngồi trong nhà tù, sung sướng nghe tin Thầy nổi lên như cồn.
Qua Gioan, con nghiệm ra rằng trong suốt dòng lịch sử 20 thế kỷ: khi Giáo Hội nhỏ đi thì Thầy lớn lên; khi Giáo Hội lớn lên thì Thầy nhỏ đi. Có những lúc người ta chỉ rao giảng Giáo Hội, lấy Giáo Hội làm trung tâm của công tác loan báo (Eclésio - Centrique). Giật mình đánh thót một cái, người ta mới thấy rằng Thầy mới là trung tâm của việc rao giảng (Christocentrique). Trễ mất mấy trăm năm rồi!
- Gioan dâng hiến hết uy tín, danh dự và sự nghiệp cho Thầy. Thậm chí đến lúc chết cũng không được chết công khai trên pháp trường, trước hàng ngàn người ái mộ, như Phaolô, như Inhaxiô Giám mục Antiôkhia… Lính vào ngục chặt đầu ông như thằng đánh lén. Đầu của ông không được người ái mộ đem về chôn, mà được trao cho con đàn bà ác đức vày vò. Đau quá! Nhục quá! Nhưng phải như thế Gioan mới được mãn nguyện: “Bây giờ, niềm vui của tôi mới được trọn vẹn. Ấy là Người thì phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi”.
3. “Đứng giữa các ông đã có một người mà các ông không biết. Người ấy đến sau tôi, nhưng tôi không đáng xách dép cho Người” (Ga 1,26-27).
Thưa Thầy, câu nói trên đây của Gioan làm con suy nghĩ mông lung mãi. Suy nghĩ về nhiều vấn đề.
- Gioan Tẩy Giả là Sứ ngôn cao trọng nhất của Cựu ước; mà tự nhận mình là không đáng xách dép cho Thầy. Thế thì Môsê và các Sứ ngôn khác sẽ xách cái gì cho Thầy? Con hình dung một đoàn người rất đông. Gioan Tẩy Giả dẫn đầu, sau lưng ông là Môsê, Elia, Isaia, các Sứ ngôn lớn nhỏ, các tác giả Thánh vịnh, các tác giả của Sử thư và Thi ca. Tất cả đều phủ phục trước mặt Thầy và cùng thưa rằng: “Thầy đến sau chúng tôi, nhưng cao trọng hơn chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều không đáng xách dép cho Thầy. Tất cả những bài giáo huấn chúng tôi viết để dạy dân được gọi là Cựu ước cũng không đáng xách dép cho các bài giáo huấn của Thầy. Chỉ một mình Thầy mới là Thầy, vì chỉ một mình Thầy mới là mạc khải trọn vẹn của Chúa Cha. Chúng tôi phải nhỏ đi, còn Thầy thì phải lớn lên. Xin muôn thế hệ hãy quên chúng tôi đi, để chỉ còn thấy Thầy mà thôi”.
- Một ni sư ở Bạc Liêu đã tâm sự với con thế này: “Tôi không thể đọc Cựu ước. Mỗi lần đọc Cựu ước tôi lại thấy buồn nôn”. Ni sư là học trò của Phật Thích Ca thì quả thật không tài nào chịu nổi trước cảnh Elia ra lệnh giết hơn 400 sải thần Baal trên núi Carmel. Cũng không thể cầm lòng được trước cảnh Giosuê gieo thần tru trên Giêrikhô, tàn sát toàn bộ người và vật, kể cả thằng cu tí chưa phân biệt tay phải với tay trái. Ni sư rùng mình khi kể lại cho con nghe câu chuyện hai cô gái ông Lót thay nhau phục rượu cho bố đến say mèm để thay nhau đến lấy giống…
Bởi vậy, trong cuộc đời truyền giáo của con, con thề sẽ không bao giờ tặng Cựu ước cho lương dân, con chỉ kể cho họ nghe về Thầy mà thôi. Cựu ước là con đường mòn dẫn đến Thầy. Gặp Thầy rồi thì nên quên con đường ấy đi.
- Hồi con là “chú tiểu” ở trong nhà xứ, có lần con nghe hai cha già tâm sự với nhau: “Đọc Psalmo (Thánh vịnh) nhiều chỗ lấn cấn, khó chịu quá: xẻo môi, cắt lưỡi, đánh bể mặt, đánh gãy răng, chó liếm thây thù… khổ quá”.
Cầu nguyện mà “khổ quá” như thế ư? Tội nghiệp! Mà đúng thế thật! Con đến một nhà dòng kia, khi đọc Thánh vịnh, thấy các thầy bỏ luôn những câu “khổ quá” ấy đi. Bỏ như thế có đúng luật hay không, con không biết. Nhưng lương tâm thì không cho phép họ thả hồn với những tư tưởng phi Phúc Âm như vậy. Các giáo phụ thì khen Thánh vịnh quá đi thôi. Nhưng con thì thấy đọc Thánh vịnh như nhai miếng cơm ngon, bỗng “cốp”: một hột sạn. Hoặc tô canh đang thơm phưng phức, bỗng nhặt ra một con ruồi. “Khổ quá!”.
Lm. Piô Ngô Phúc Hậu
No comments:
Post a Comment