BÀI GIẢNG LỄ
CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC LEOPOLDO GIRELLI,
ĐẠI DIỆN CỦA TOÀ THÁNH
CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC LEOPOLDO GIRELLI,
ĐẠI DIỆN CỦA TOÀ THÁNH
TẠI TTTM TRÀ KIỆU, NGÀY 06-09-2011
***
Bản dịch tiếng Việt của Cha Phaolô Đoàn Quang Dân
từ bài giảng tiếng Anh của Đức TGM
từ bài giảng tiếng Anh của Đức TGM
Anh chị em thân mến,
Tôi
vui mừng có mặt ở đây, tại Giáo Xứ Trà Kiệu để cử hành Hy Tế Thánh Thể
cho tất cả anh chị em đang hiện diện tại nơi này. Chúa Giêsu đang ở giữa
chúng ta khi chúng ta tôn kính Mẹ của Ngài, Đức Trinh Nữ Maria.
TRọng
tâm của bài Tin Mừng hôm nay là việc Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu
tiên: Đó là Mười Hai Tông Đồ. Nhân cơ hội này tôi muốn anh chị em cùng
suy nghĩ và cùng cầu nguyện cho các ơn gọi trong Giáo Hội.
Chúa Giêsu đã gọi các Tông Đồ không phải cho Ngài mà là cho Giáo Hội. Lời kêu gọi của Ngài là để truyền giáo.
Chính
vì các ông được sai đi cho nên các ông mới được gọi là “Tông Đồ”, Chúa
đã chỉ định cho các ông bước đi trên mọi con đường của thế giới, loan
báo Tin Mừng, trở thành những chứng nhân cho cái chết và sự phục sinh
của Chúa.
Và
điều thúc bách các Tông Đồ mãi là “tình yêu của Chúa Kitô.” Trải qua
các thế kỷ, có vô số nhà truyền giáo – là những đầy tớ trung thành với
Giáo Hội, ngoan nguỳ dưới tác động của Chúa Thánh Thần – đã và đang dõi
theo những bước chân của các tông đồ đầu tiên. Và ở đây chúng ta không
quên được các nhà truyền giáo đã đến đem Tin Mừng cứu độ cho nước Việt Nam.
Giáo
Hội tự bản chất là truyền giáo và cũng thế đối với mỗi phần tử của Giáo
Hội. Qua Bí Tích Rửa Tội và Bí Tích Thêm Sức, mỗi Kitôhữu được kêu gọi
để làm chứng và loan báo Tin Mừng, nhưng trong chiều hướng này phải được
nối kết một cách đặc biệt và thiết thân với ơn gọi linh mục.
Các
linh mục được kêu gọi để toàn tâm toàn ý phục vụ cho Tin Mừng. Các ngài
được gọi để giảng Lời Chúa, phân phát các Bí Tích, nhất là Bí Tích
Thánh Thể và Bí Tích Hoà Giải, tận tâm giúp đỡ người thấp cổ bé miệng,
người bệnh, người đau khổ, người nghèo, và những ai còn chưa thực sự gặp
được Chúa Giêsu Kitô.
Thống
kê cho thấy rằng con số người được rửa tội mỗi năm mỗi gia tăng, đó là
nhờ công việc mục vụ của các linh mục này, các ngài hoàn toàn hiến thân
để lo cho phần rỗi của anh chị em mình.
Vì
lẽ đó, và để Giáo Hội có thể tiếp tục hoàn thành sứ mạng của mình đã
được Chúa Giêsu ký thác, anh chị em phải không ngừng cung cấp cho con em
của anh chị em một nền giáo dục đức tin liên tục và bền bỉ.
Quà
tặng đức tin đòi hỏi tất cả các Kitôhữ phải cộng tác vào việc rao giảng
Tin Mừng. Nhận thức này cần được nuôi dưỡng nhờ việc giảng dạy, nhờ
việc học hỏi giáo lý, nhờ cử hành phụng vụ và nhờ sự cầu nguyện liên lỷ.
Ơn
gọi linh mục thừa tác và ơn gọi sống đời thánh hiến chỉ có thể được
triển nở nơi mãnh đất tâm linh được vun xới cách lỹ lưỡng.
Cùng
qui tụ quanh Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta hãy xin với Nữ Vương Các
Thánh Tông Đồ cho Giáo Hội tại Viêt Nam luôn ôm ấp ý thức trách nhiệm
truyền giáo và biết làm thế nào để ơ gọi linh mục và tu sĩ được gia tăng
liên tục. Ước gì được như vậy!
***********
BÀI GIẢNG CỦA
ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC LEOPOLDO GIRELLI
TAI NHÀ THỜ CHÍNH TÒA CHIỀU 5/9/2011
Bài dịch tiếng Việt của Cha Marcellô Đoàn Minh
từ bài giảng tiếng Anh của Đức TGM
từ bài giảng tiếng Anh của Đức TGM
1. Anh chị em thân mến
Với
tâm tình tạ ơn Thiên Chúa, chúng ta đang tụ tập tại nhà thờ
Chính Tòa này để cử hành Thánh Thể. Hãy tạ ơn TC vì Ngài đã
cho chúng ta được hiệp nhất với Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI qua
sự hiện diện của tôi nơi đây trong tư cách là người đại diện
của ngài. Đức Thánh Cha của chúng ta rất gần gũi với GH Việt
Nam và luôn nhớ đến anh chị em trong lời cầu nguyện của ngài.
Tôi
xin cám ơn Đức Giám Mục của anh chị em, Đức Cha Giuse Châu Ngọc
Tri, vì những lời trân trọng ngài nói với tôi, đại diện toàn
thể anh chị em.
Tôi
xin gửi đến từng người trong anh chị em lời chào thân tình quí
mến nhất của tôi, tôi đoan chắc cầu nguyện cho anh chị em và
cho những ai trong anh chị em không thể ở đây để chia sẻ trong
thời điểm quan trọng này trong đời sống giáo phận anh chị em.
Lời
Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay [Lc 6,6-11] mời gọi chúng ta
sống theo lề luật mới của Ngài. Thật ra, là Kitô hữu chúng ta
sống theo luật pháp dân sự như mọi công dân khác trong nước,
nhưng trên tất cả, chúng ta còn được ràng buộc bằng lề luật
của Thánh Thần của Đức Kitô. Chúng ta sống dưới ân sủng của
Thiên Chúa. Thánh Phaolô viết trong thư gửi tín hữu Rôma: “lề
luật của Thánh Thần về sự sống trong Đức Kitô Giêsu đã giải
thoát tôi khỏi lề luật của sự tội và sự chết.” (Rm 8,2).
Lề
luật của Đức Kitô thì vĩnh cửu, muôn đời. Trái lại, lề luật
của con ngươi thì thay đổi vì chúng do con người làm ra.
Ngoài
ra còn có luật tự nhiên do Đấng Tạo Hóa đặt định. Khi người
mẹ có em bé, luật tự nhiên phải can dự vào rồi. Bà ấy biết
rằng mình phải chăm sóc em bé. Luật con người không bao giờ
được đánh đổ luật tự nhiên. Nếu bất cứ luật của con người
nào cho phép điều đó, chẳng hạn như trường hợp phá thai, thì
đó không phải là luật. Khi vâng theo luật tự nhiên, chúng ta vâng
theo bản tính đã được Thiên Chúa dựng nên và sẽ có niềm vui.
Lề
luật của Thiên Chúa, ân sủng trong Đức Giêsu Kitô, thì ở trên
tất cả những điều đó. Nhờ ân sủng của TC, chúng ta tham dự
vào bản tính của Thiên Chúa. Sự sống của TC lưu chuyển trong
chúng ta nhờ Đức Giêsu Kitô. Thật ra, trong Thánh Thể này đây,
chúng ta đang dự phần vào Mình và Máu Đức Giêsu.
Chúa Giêsu đã nói: “Ta không đến để hủy bỏ lề luật nhưng là để kiện toàn.”
(Mt 5, 19). Chúa Giêsu đến không phải để hủy bỏ luật tự nhiên
hay luật dân sự nhưng đến để kiện toàn chúng. Và Ngài nói với
chúng ta rằng tình yêu chính là sự kiện toàn ấy.
Theo
luật Chúa, chúng ta phải yêu mến TC và yêu người thân cận của
mình. Và sự nối kết với Thiên Chúa và với người thân cận là
chìa khóa làm cho lề luật được kiên toàn trong tình yêu.
Nhưng
Đức Giêsu còn đi xa hơn thế nữa. Ngài là chính sự hoàn tất
của lề luật. “Tôi là đường, là sự thật và là sự sống.”
Nơi
Chúa Giêsu, tình yêu trở nên một ngôi vị và là sự hoàn tất
của lề luật. Chúa Giêsu là diễn tả đầy đủ nhất của tình yêu
Tc dành cho chúng ta, và cũng là sự diễn tả sung mãn nhất của
tình yêu nhân loại đáp lại tình yêu TC. Tất cả nội dung của
Kitô giáo có thể diễn tả trong một từ: Giêsu.
Do
đó chúng ta cần phải cố gắng hiểu biết Đức Giêsu thân mật
hơn, yêu mến Ngài nồng nhiệt hơn và theo Ngài gắn bó hơn. Là
Kitô hữu là cam kết dấn thân theo Chúa Giêsu. Cốt lõi của việc
làm Kitô hữu là phải có một tương quan cá vị và thân thiết
với Chúa Giêsu.
2. Anh chị em thân mến.
Tôi
được biết rằng giáo phận Đà Nẵng có 44 giáo xứ, 40 điểm
truyền giáo, 73 linh mục triều và 15 linh mục dòng, 233 nữ tu
và 735 giáo lý viên.
Mỗi
năm có thêm khoảng 1.600 người được rửa tội trong giáo phận
vốn đã có 69 000 giáo dân. Vì những điều đó chúng ta hãy tạ
ơn TC, và trong lúc này, tôi hi vọng rất nhiều rằng con số người
CG trong giáo phận sẽ tăng thêm cùng với nỗ lực phúc âm hóa
kiên trì và được đổi mới.
Tôi
khuyến khích việc thực hiện một kế hoạch mục vụ cấp giáo
phận tập trung vào việc dạy giáo lý Hội Thánh Công Giáo. Tôi khen
ngợi từng cố gắng nhắm đến việc đào tạo giáo lý viên và
giáo dân.
Trên
tất cả, tôi xác tín phải ưu tiên đào tạo thế hệ trẻ, nuôi
dưỡng tầm quan trọng của các ơn kêu gọi linh mục và đời sống
tu trì.
Trong
giáo phận nhà, có 66 chủng sinh và chúng ta cám ơn những ai
đã đáp lới Thiên Chúa kêu gọi, đã không do dự bỏ mọi sự để
theo Đức Giêsu. Bạn trẻ nào nghe tiếng gọi của Chúa thì đừng
sợ nói “vâng” và đừng sợ theo Chúa như là một “môn đệ” cách
quảng đại.
Tôi
chắc biết ơn rằng giáo phận Đà Nẵng sẽ còn dấn thân nhiều hơn
nữa trong việc thực hiện một kế hoạch mục vụ hữu hiệu và một
chương trình ơn kêu gọi mang lại nhiều lợi ích.
Thực
tế ra, có những thách đố trong giáo phận. Trước tiên, sự hiệp
nhất là thiết yếu và thuận lợi cho nỗ lực mới nhằm gia tăng
số tín hữu và chất lượng đức tin của họ: hiệp nhất giữa
hàng giáo sĩ, và hiệp nhất giữa Đức Giám Mục và các linh
mục. Hơn thế nữa, việc đào tạo giáo dân vẫn là một việc ưu
tiên. Và phải có sự quan tâm và chăm sóc mục vụ cho những
người nhà quê di cư ra thành phố.
Chính
vì thế, tôi tin tưởng rằng cộng đoàn giáo phận sẽ tìm thấy
một sinh lực mới để hiệp nhất và cam kết dấn thân cho công
cuộc tân phúc âm hóa. Tôi hi vọng rằng mỗi một cộng đoàn giáo
xứ sẽ kiên trì quyết tâm tập trung nơi cử hành Thánh Thể như
là nguồn mạch từ đó kín múc sức mạnh cho một chứng từ đức
ái hữu hiệu hơn; việc này sẽ đóng góp cho sự ổn định của
vùng đất này.
3. Anh chị em thân mến.
Cách
đây gần hai năm, GHCG Việt Nam trải nghiệm một thời điểm đặc
biệt nhân cử hành Năm Thánh kỉ niệm 350 năm thành lập Giám hạt
Tông tòa Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Vào
dịp hi hữu đó đó Đức Giáo Hoàng Benêditô XVI đã gửi một sứ
điệp vào tháng 11. 2009. Cho phép tôi kết thúc bằng những lời
mà ngài đã viết trong đó: “Thật
là chính đáng khi quyết định làm cho hiêp thông HT ăn rễ sâu xa
hơn và xây dựng một xã hội bình đẳng, có tương trợ và công lý
nhờ sự đối thoại chân chính, tôn trọng lẫn nhau và cọng tác
lành mạnh. Năm Thánh là một mùa đặc biệt để canh tân việc rao
giảng Tin Mừng cho đồng bào và trở thành một giáo hội hiệp
thông và sứ vụ mỗ ngày một hơn.”
Các
cử hành không thể nào quên được của Năm Thánh đã qua đi nhưng
sự cam kết dấn thân cho công cuộc tân phúc âm hóa Đức giáo
Hoàng kêu gọi đang còn thúc bách.
Nguyện xin Đức Mẹ La Vang và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam bảo vệ giáo phận Đà Nẵng.
************
Bài giảng Đại Hội Hành Hương Đức Mẹ Trà Kiệu 2011
Kính thưa Quý khách và Cộng đoàn Dân Chúa.
Trong
ngày hành hương đông đảo và tưng bừng về linh địa Trà Kiệu hôm nay,
chúng ta cử hành mầu nhiệm Đức Mẹ Đi Viếng Bà Thánh Ysave. Những bài đọc
Lời Chúa hôm nay, đặc biệt là bài Tin Mừng Thánh Luca, qua việc tường
thuật khá chi tiết cuộc thăm viếng, đã phác hoạ cho chúng ta thấy được
chân dung và sứ mệnh đặc biệt của Đức Maria trong lịch sử và chương
trình cứu độ của Thiên Chúa.
Trong
cuộc đời mình, Đức Maria không làm việc gì phi thường, Phúc Âm không
nói đến bất cứ một phép lạ nào Mẹ thực hiện khi còn tại thế, và cũng ghi
lại rất vắn tắt những lời Mẹ nói ra. Đời thường của Mẹ không khác gì
mấy so với các bà mẹ trong các
gia đình xưa nay. Tuy nhiên, lời tiên tri xuất thần của Mẹ đã được ứng
nghiệm từng chữ khi Mẹ thốt lên sau lời chào của người chị họ “Này từ nay muôn thế hệ sẽ khen rằng tôi có phước”.
Ai
có thể kể ra hết những lời ca tụng, những tước hiệu, những tiếng kêu
cầu của loài người dâng lên Đức Mẹ. Ai có thể đếm xuể những công trình,
đền, đài, những bia tạ ơn, những việc sùng kính đặc biệt dành riêng cho
Đức Mẹ? Suốt hai mươi thế kỷ lịch sử của Giáo Hội, Mẹ đã được mọi người
xưng tụng là “diễm phúc”. Chúng ta hôm nay cũng thế, khi đồng thanh thưa
lên cùng Mẹ: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ”.
Mẹ
được muôn đời ca tụng là diễm phúc, không phải chỉ vì Mẹ được Thiên
Chúa yêu thương, nhưng còn vì Mẹ đã biết yêu thương, đặc biệt qua mầu
nhiệm thăm viếng mà chúng ta cùng Giáo Hội cử hành hôm nay, đặc biệt tại
linh địa Trà Kiệu này.
I. Thăm viếng, một cử chỉ giao tế, hoà giải.
Trong biến cố Truyền Tin, Thiên Chúa đã yêu thương và thăm viếng dân Người. Ngôi
Hai Thiên Chúa đã đến trong cung lòng Đức Mẹ, như điểm hẹn yêu thương
giữa Thiên Chúa với loài người. Đức Mẹ liền lên đường thăm viếng người
chị họ là Ysave, vì Đức Mẹ được Sứ thần Gabriel cho biết, bà chị họ son
sẻ này đã được hạnh phúc mang thai và sắp sinh con trai, chấm dứt những
tháng năm dài sầu muộn.
Thăm
viếng là việc giao tế hết sức thông thường. Những người có tương quan
gia đình, quan hệ xã hội, thường tạo điều kiện thăm viếng nhau khi có cơ
hội, đặc biệt trong những biến cố buồn vui. Ở đây, hai người phụ nữ
thánh thiện này là chị em họ hàng, người em trẻ tuổi hơn là Maria đã lên
đường thăm viếng bà chị luống tuổi là Ysave, để chia sẻ niềm vui cho
nhau vì cả hai đều được phúc làm mẹ, và nhất là được phục vụ nhau.
Chúng ta cũng thường xử sự với nhau như vậy, đúng không?! Vâng thưa anh chị em, chúng ta hãy tiếp tục như thế.
2. Tình yêu, món quà của cuộc thăm viếng.
Nhưng
vượt lên sự giao tế thông thường giữa con người với nhau, cuộc viếng
thăm của Đức Mẹ đến nhà Bà Thánh Ysave còn do động lực của Tình Yêu.
Cảm
nhận được tình yêu Thiên Chúa dành cho Mẹ quá lớn lao, là được mang
thai và làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Tình yêu đã mời gọi và thúc đẩy Mẹ lên
đường thăm viếng. Đức Mẹ đã lên đường thăm viếng, chứ không ngồi nhà chờ
được thăm viếng.
Đến
thăm viếng bà chị họ Ysave, Đức Mẹ không chỉ mang theo những lời chào
hỏi tốt lành, và có thể cũng không thiếu những món quà vật chất. Nhưng
quà tặng quý nhất chính là tình yêu dành cho chị, là sự hiện diện, là
chính bản thân mình, là sự ở lại phục vụ như một người tôi tớ.
3. Loan báo Tin Mừng, mục đích của cuộc viếng thăm.
Cuộc
viếng thăm này vượt qua ý nghĩa xã giao, cũng không chỉ dừng lại ở động
lực tình yêu, ở tinh thần phục vụ, mà còn để chia sẻ một niềm vui, loan
báo một Tin Mừng. Đó là Tin Mừng trọng đại trong đời Mẹ, nhưng không
dành riêng cho Mẹ, mà có liên quan đến mọi người: Mẹ đang cưu mang và sẽ
sinh hạ Đấng Cứu Thế muôn dân trông đợi. Đây quả thật là Tin Mừng của
mọi tin mừng. Thánh Gioan Tẩy Giả đã nhảy mừng lên khi còn ở trong lòng
bà Ysave mẹ mình, khi hai người phụ nữ vừa cất tiếng chào nhau. Niềm vui
được chôn dấu chưa hẵn là niềm vui.
Nhiều
người nghĩ rằng, vì sự khiêm tốn, Đức Maria chỉ ấp ủ niềm vui này cách
riêng tư trong lòng, chẳng nói gì với người chị họ về đặc ân quá đổi lớn
lao cao cả, là được Thiên Chúa chọn để cưu mang và sinh hạ Đấng Cứư
Thế, giấc mơ của bao nhiêu thiếu nữ Do Thái giàu sang quyền quí lúc bấy
giờ. Tôi nghĩ, trong suốt ba tháng ở cạnh nhau, chị em đã hàn huyên tâm
sự bộc bạch với nhau tất cả. Vì khiêm tốn không phải là từ chối điều
mình đã được, nhưng là biết nhìn nhận ân huệ nhận lãnh từ Thiên Chúa,
chứ không do công lao của mình. Đối với Đức Maria, đây còn là sứ vụ. Sứ
vụ loan báo Tin Mừng.
Trong
biến cố Truyền Tin, Thiên Chúa loan báo Tin Mừng cho con người, và
trong biến cố Thăm Viếng, con người phải loan báo Tin Mừng lại cho nhau.
Tin Mừng đây chính là việc đã đến thời Thiên Chúa thực hiện lời hứa yêu
thương cứu chuộc.
4. Trà Kiệu và mầu nhiệm thăm viếng:
Kính thưa cộng đoàn,
Tin
Mừng chỉ ghi lại Đức Mẹ đã thực hiện cuộc viếng thăm trong đời, nhưng
khi đã vinh quang về trời, Đức Mẹ vẫn tiếp tục những cuộc viếng thăm
trên trần gian. Mỗi năm một lần, chúng ta tụ hội về đây cử hành lễ Đức
Mẹ Đi Viếng Bà Thánh Ysave. Cùng với cử hành phụng vụ này, chúng ta cũng
nhắc nhớ và tạ ơn Đức Mẹ, vì cuộc thăm viếng và sự can thiệp lạ lùng mà
Đức Mẹ đã thực hiện tại đất Trà Kiệu này, khi giáo đoàn nơi đây phải
đương đầu với một cuộc thử thách đức tin khắc nghiệt nhất trong lịch sử
truyền giáo tại Việt Nam.
Đó
là những ngày tháng 9 năm 1885. Khi giáo dân Trà Kiệu bị vây hãm bởi
đoàn quân hùng mạnh với voi chiến và đạn pháo của triều đình trong chiến
dịch “bình tây sát tả” diễn ra khắp nơi do phong trào Văn Thân chủ
xướng, muốn xoá sổ đạo Công giáo trên quê hương đất nước này. Nhưng ý
định điên rồ đó đã không thể thực hiện được.
Tại
linh địa Trà Kiệu này trong những ngày cuối cùng của chiến dịch, đạo
quân Văn Thân như không còn nhẫn nại trước tinh thần đức tin dũng cảm
không nao núng của người giáo dân Trà Kiệu, đang tụ họp trong ngôi thánh
đường giáo xứ, để tử thủ chờ chết bằng lời kinh Mân Côi, chứ không chối
đạo. Từ ngọn đồi Bửu Châu nơi chúng ta đang tụ họp nhau đây, cũng như
đồi Kim Sơn ngay sau lưng nhà thờ Trà Kiệu trên kia, những người chỉ huy
chiến dịch cuối cùng đã quyết định nả súng cối trực tiếp vào Nhà thờ,
nơi giáo dân đang tụ họp, để biến nơi thánh thiêng này thành mồ chôn tập
thể.
Nhưng
điều này đã không xảy ra. Ngôi thánh đường vẫn đứng vững. Giáo dân được
bảo vệ. Những quả đạn pháo mang theo hận thù như được mọc thêm cánh để
bay trệch khỏi mục tiêu là ngôi nhà thờ giáo xứ. Một sự can thiệp kỳ
diệu đã xảy ra. Chính những người cầm súng đã phát hiện lý do làm cho
những viên đạn pháo sát thủ của họ không thể trúng đích, dù cự ly rất
gần, đó là sự xuất hiện của một người phụ nữ mặc áo trắng tinh đứng trên
nóc Nhà thờ. Những binh lính còn được lệnh nhắm bắn cả người phụ nữ này, nhưng đạn pháo dường như tuân theo sự hướng dẫn của bà mà rơi. Sau
ba ngày làm mưa đạn pháo trên đất Trà Kiệu, chiến dịch bất thành và
phải kết thúc, bính lính rút lui. Và người khách lạ trên đỉnh Nhà thờ
cũng biến mất.
Lương
dân nhìn thấy người khách lạ trên đỉnh giáo đường, nhưng không biết bà
là ai. Còn giáo dân thì biết, mặc dù không ai nhìn thấy. Và sau khi an
bình trở lại, đạo Chúa được tự do, họ đã đặt tên cho người phụ nữ ấy là
Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu, lập đền thờ trên đồi Bửu Châu này để dâng
kính Đức Bà và muôn đời ghi nhớ công ơn. Ngày nay, chúng ta gọi người
phụ nữ ấy là Đức Mẹ Trà Kiệu. Vâng! Đức Mẹ Trà Kiệu là tên của người phụ
nữ mà mỗi người chúng ta sung sướng gọi lên. Vâng! Lạy Đức Mẹ Trà Kiệu
kính yêu của chúng con!
Kính thưa đoàn con của Mẹ Trà Kiệu hôm nay cũng như quý khách,
Kể
lại câu chuyện này, một câu chuyện rất gần và cũng rất thực với lịch sử
trên 300 năm tuổi của Giáo xứ Trà Kiệu này, tôi không hề muốn dừng lại ở
những biến cố đã xảy ra, nhưng muốn cùng mọi người chúng ta gẫm suy về
chính biến cố ấy, như một gọi mời, như một thông điệp không lời của Đức
Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Giáo Hội gửi đến cho chúng ta hôm nay, giáo dân
cũng như lương dân.
Đó
cũng là lý do Giáo phận Đà Nẵng đã không chọn những ngày tháng 9 lịch
sử năm xưa để cử hành lễ kỷ niệm, nhưng chọn ngày 31 tháng 5 hằng năm,
ngày lễ Đức Mẹ Đi Viếng Bà Thánh Ysave, làm ngày hành hương cho toàn
Giáo phận về bên Mẹ Trà Kiệu. Chúng ta muốn cử hành biến cố đặc biệt này
như tái hiện cuộc viếng thăm của Đức Mẹ năm xưa, đến với đoàn con cái
Mẹ hôm nay, với những hoàn cảnh xã hội có đổi thay, nhưng đời sống
thiêng liêng và đạo đức vẫn luôn là một thách thức. Hành
hương về linh địa Trà Kiệu ngày nay, không còn chỉ là để ngắm nhìn Mẹ,
tri ân Mẹ, nhưng điều quan trọng chính là học gương Mẹ, để mỗi người tín
hữu biết thực hiện những chuyến thăm viếng trong đời đến với mọi người,
để hoà giải, để yêu thương và để loan báo Tin Mừng.
Và
Đức Mẹ cũng đã làm như thế trong chuyến viếng thăm Trà Kiệu năm xưa,
khi những hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ đẩy đưa con người đến chỗ hận thù
tranh chấp, bất công và bạo lực. Mẹ đã đến viếng thăm, chăm sóc, can
thiệp với một thái độ mạnh mẽ mà tế nhị, nghiêm khắc mà bao dung, mang
đến sự hoà giải, ơn hoán cải và sự bình an.
Những
cuộc thăm viếng như thế, rất cần nhân rộng cho xã hội và con người
chúng ta hôm nay. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã tích cực giúp con
người xích lại gần nhau hơn, đặc biệt trong lãnh vực truyền thông rất
phong phú và nhạy bén, nhưng dường như cũng làm cho con người xa rời
nhau hơn bằng những cuộc chiến ý thức hệ, những mối quan hệ trong cuộc
sống đã trở nên phức tạp hơn bởi khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa và hưởng
thụ ích kỷ mỗi ngày một lan rộng, giá trị thiêng liêng và đạo đức bị lu
mờ trước những ảnh hưởng của trào lưu tục hoá, thiên về vật chất vô
thần.
Mỗi
một chúng ta trong cuộc đời ước gì là một cuộc thăm viếng đối với môi
trường xã hội mà chúng ta đang tham dự. Như một người mang mầm mống đức
tin, chúng ta cần mang đến tin yêu và niềm vui cho người, cho đời. Lời
kinh hoà bình của Thánh Phanxicô Assisi phản ảnh cách chính xác Tin Mừng
Tình Thương của đạo Chúa mà mỗi người chúng ta đều thuộc lòng, nhưng có
lẽ còn nằm trong ý thức, chưa biến thành hành động bao nhiêu: “Ðể
con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem
an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Ðể con đem tin
kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng. Ðể con rọi
ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu“.
Tuy
nhiên, tinh thần của Tin Mừng không phải là sự nhu nhược, là sự khiếp
đảm, là sự thụ động, nhưng Giáo Hội, với sứ vụ loan báo Tin Mừng, phải
tích cực hành động để đem yêu thương của Thiên Chúa đến cho mọi người,
để cùng nhau xây dựng nền văn minh tình thương và sự sống. Như Đức
Maria, dù bao nhiêu khiêm tốn, bao nhiêu vâng phục, Mẹ cũng đã cảm nhận
được sức mạnh và quyền năng của Thiên Chúa khi thốt ra lời kinh
Magnificat được muôn đời truyền tụng: "Chúa
đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai thần trí kiêu căng.
Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những người
phận nhỏ. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu
có trở về tay không”.
Vâng, thưa anh chị em.
Tâm
tình và sứ điệp của Đức Maria trong cuộc thăm viếng cần làm cho sống
động trong đời sống chúng ta mỗi ngày. Cuộc hành hương này qua đi, tháng
hoa này chấm dứt, nhưng đừng để lòng súng kính và yêu mến Mẹ nơi chúng
ta nhạt nhoà. Nhất là gương sáng của Đức Maria mỗi người chúng ta hãy
đặt trên mỗi bước đường chúng ta đi.
“Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa”.
Tâm hồn Mẹ đã tôn vinh Thiên Chúa khi cưu mang Người trong lòng, và
bước đi với Người. Ôi lạy Mẹ Trà Kiệu! Ước chi chúng con cũng được như
Mẹ: vui mừng mang Chúa Giêsu trong lòng, để cùng bước đi với Chúa, bên
Mẹ, đến với mọi người. Đây không chỉ là nguyện ước nữa, Thiên Chúa đang
thực hiện nơi chúng con điều đã thực hiện nơi Mẹ qua Thánh Lễ chúng con
cùng dâng giờ này. Amen.
+ Giuse Châu Ngọc Tri
Giám mục Đà Nẵng
***********
BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI
TRONG THÁNH LỄ PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II
TRONG THÁNH LỄ PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II
Quảng Trường Thánh Phêrô, Chúa Nhật 01.5.2011
Anh Chị Em thân mến,
Cách
đây sáu năm chúng ta tập trung tại Quảng Trường này để cử hành lễ an
táng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Niềm đau của chúng ta vì mất ngài
thật sâu sắc, và càng lớn hơn nữa, đó là tâm tình tri ơn vô bờ của chúng
ta bao trùm cả thành Rôma và toàn thế giới: niềm tri ơn ấy, cách nào
đó, chính là hoa quả từ toàn thể cuộc đời vị tiền nhiệm của tôi, cách
riêng từ chứng tá đau khổ của ngài. Ngay lúc đó chúng ta đã cảm nhận
hương thơm thánh thiện của ngài, và bằng nhiều cách Dân Chúa đã bày tỏ
niềm tôn kính ngài. Vì vậy, với tất cả sự tôn trọng các chuẩn mực về
phong thánh của Giáo Hội, tôi đã mong muốn tiến trình phong Chân Phước
cho ngài được xúc tiến nhanh chóng một cách hợp tình hợp lý. Và hôm nay,
ngày mong đợi đã đến; ngày này đến nhanh bởi vì đây là điều đẹp lòng
Chúa: Gioan Phaolô II được chúc phúc!
Tôi
muốn gửi lời chào thân ái đến tất cả anh chị em từ khắp thế giới tập
trung về đây thật đông đảo trong biến cố vui mừng này – các Hồng Y, các
Thượng Phụ của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, các anh em Giám Mục
và Linh Mục, các Phái Đoàn, các Đại Sứ và các giới chức thẩm quyền dân
sự, các nam nữ Tu Sĩ và Giáo Dân. Tôi cũng gửi lời chào đến tất cả anh
chị em tham dự sự kiện này qua các làn sóng phát thanh và truyền hình.
Hôm
nay là Chúa Nhật thứ hai Mùa Phục Sinh, ngày mà Chân Phước Gioan Phaolô
II đã đặt là Chúa Nhật của Lòng Chúa Thương Xót. Ngày hôm nay được chọn
cho cử hành này của chúng ta bởi vì, do Thánh ý Chúa quan phòng, vị
tiền nhiệm của tôi đã qua đời vào hôm áp lễ này. Hôm nay cũng là ngày
đầu tháng Năm, tháng kính Đức Maria, và Phụng Vụ kính nhớ Thánh Giuse
Lao Công. Tất cả những yếu tố này làm phong phú cho lời cầu nguyện của
chúng ta, chúng giúp chúng ta trong cuộc hành hương qua không gian và
thời gian; nhưng trên thiên quốc một cử hành rất khác đang diễn ra giữa
các Thiên Thần và các Thánh! Dù vậy, chỉ duy nhất một Thiên Chúa thôi,
và cũng chỉ một Chúa Kitô thôi, Đấng là cầu nối đất với trời. Trong
khoảnh khắc này, chúng ta cảm thấy gần gũi hơn bao giờ việc chia sẻ
trong Phụng Vụ thiên quốc.
“Phúc cho những ai không thấy mà tin”
(Ga 20,29). Chúa Giêsu công bố mối phúc này trong Tin Mừng hôm nay: mối
phúc của đức tin! Với chúng ta, thật là một ấn tượng đặc biệt bởi vì
chúng ta qui tụ về đây để cử hành một cuộc tôn phong Chân Phước, và càng
hơn thế nữa, vì hôm nay người được công bố rằng có phúc
ấy là một Giáo Hoàng, một người kế vị Thánh Phêrô, một người được kêu
gọi để củng cố anh chị em mình trong đức tin. Đức Gioan Phaolô II được
chúc phúc vì đức tin của ngài, một đức tin mạnh mẽ, quảng đại và tông
truyền. Chúng ta liên tưởng ngay đến một mối phúc khác: “Simon, con Giôna, anh thật có phúc. Vì không phải xác thịt, mà là chính Cha trên trời đã mạc khải những điều này cho anh”
(Mt 16,17). Cha trên trời của chúng ta đã mạc khải điều gì cho Simon?
Đó là: Đức Giêsu là Đấng Kitô, là Con Thiên Chúa hằng sống. Nhờ đức tin
này, Simon trở thành Phêrô, thành tảng đá để Chúa Giêsu xây dựng Hội
Thánh của Ngài trên đó. Mối phúc vĩnh cửu của Đức Gioan Phaolô II, mà
hôm nay Hội Thánh hân hoan công bố, được chất chứa trọn vẹn trong những
lời này của Chúa Giêsu: “Simon, anh thật có phúc” và “Phúc cho những ai không thấy mà tin!”
Đó là mối phúc của đức tin, mà Đức Gioan Phaolô II cũng đã lãnh nhận
như món quà do Thiên Chúa Cha ban tặng để xây dựng Hội Thánh của Đức
Kitô.
Chúng
ta lại liên tưởng đến một mối phúc khác, mối phúc xuất hiện trước mọi
mối phúc khác trong Tin Mừng . Đó là mối phúc của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ
Đấng Cứu Thế. Vừa mới thụ thai Chúa Giêsu, Đức Maria nghe những lời này
của Thánh Êlisabét: “Phúc cho em là kẻ đã tin rằng Lời Chúa phán với em sẽ được thực hiện”
(Lc 1,45). Mối phúc đức tin nhận kiểu mẫu của nó nơi Đức Maria, và tất
cả chúng ta vui mừng vì cuộc tôn phong Chân Phước Đức Gioan Phaolô II
diễn ra trong ngày hôm nay, ngày đầu tháng Đức Mẹ, dưới cái nhìn từ mẫu
của Đấng đã qua đức tin của mình mà nâng đỡ đức tin của các Tông Đồ và
vẫn không ngừng nâng đỡ đức tin của những người kế vị các Tông Đồ, nhất
là những người được kêu gọi kế nhiệm Thánh Phêrô. Đức Maria không xuất
hiện trong các trình thuật Phục Sinh, nhưng người thật sự có mặt ở đó,
một sự hiện diện liên lỉ, kín đáo: Người là người Mẹ mà Chúa Giêsu đã ủy
trao cho mỗi môn đệ và cho toàn cộng đoàn. Cách riêng, chúng ta có thể
thấy Thánh Gioan và Thánh Luca ghi lại sự hiện diện từ mẫu và đầy năng
lực của Đức Maria trong các bản văn đi trước Bài Tin Mừng và Bài Đọc thứ
Nhất trong Thánh Lễ hôm nay. Trong trình thuật về cái chết của Chúa
Giêsu, Đức Maria hiện diện dưới chân Thánh Giá (Ga 19,25), và ở phần đầu
Sách Công Vụ Các Tông Đồ, Người được nhìn thấy giữa các môn đệ đang qui
tụ để cầu nguyện trong Căn Gác Thượng (Cv 1,14).
Bài
Đọc thứ Hai hôm nay cũng nói với chúng ta về đức tin. Chính Thánh
Phêrô, đầy nhiệt tâm thiêng liêng, đã chỉ ra cho những người mới lãnh
nhận Phép Rửa lý do của niềm hy vọng và niềm vui của họ. Tôi thấy thú vị
nhận ra rằng trong đoạn văn này, ở đầu Thư Thứ Nhất của ngài, Phêrô đã
không dùng ngôn ngữ huấn dụ; thay vào đó, ngài nêu một sự kiện. Ngài viết: “Anh em vui mừng”, và ngài thêm: “anh em yêu mến Ngài, và tuy anh em không thấy ngài bây giờ, anh em vẫn tin vào Ngài và vui mừng với niềm vui khôn tả, vì anh em đang nhận lãnh hoa quả của đức tin anh em, là ơn cứu độ linh hồn anh em” (1Pr 1,6.8-9).
Tất
cả những động từ này đều ở trực thuyết cách, bởi vì một thực tại mới đã
đến trong sự Phục Sinh của Đức Kitô, một thực tại được đức tin mở ra
đón nhận. “Đây là điều Chúa đang thực hiện” – như lời Thánh Vịnh (118,23), và: “thật kỳ diệu trước mắt chúng ta”, trước đôi mắt đức tin của chúng ta.
Anh
Chị Em thân mến, hôm nay đôi mắt chúng ta, trong ánh sáng chan hòa của
Chúa Kitô Phục Sinh, hướng nhìn về hình ảnh dấu yêu và đáng kính của Đức
Gioan Phaolô II. Hôm nay tên của ngài được nối vào danh sách của những
người mà ngài đã phong Thánh hoặc phong Chân Phước trong suốt hai mươi
bảy năm ngài làm giáo hoàng, qua đó ngài mạnh mẽ nhấn mạnh ơn gọi phổ
quát của mọi người đạt tới chóp đỉnh đời Kitô hữu, đạt tới sự thánh
thiện, như giáo huấn của Công Đồng Vatican II trong Hiến Chế về Giáo
Hội. Tất cả chúng ta, là thành viên của Dân Thiên Chúa – Giám Mục, Linh
Mục, Phó Tế, Giáo Dân, nam nữ Tu Sĩ – chúng ta đang hành hương về quê
hương thiên quốc nơi Đức Trinh Nữ Maria đã đi trước chúng ta, chúng ta
được gắn kết, như Mẹ đã gắn kết một cách độc đáo và hoàn hảo, vào mầu
nhiệm Đức Kitô và Hội Thánh. Karol Wojtyla đã tham dự Công Đồng Vatican
II, đầu tiên trong tư cách Giám Mục phụ tá, rồi trong tư cách Tổng Giám
Mục của Kraków. Ngài đã hoàn toàn ý thức rằng quyết định của Công Đồng
dành chương cuối cùng của Hiến Chế về Hội Thánh cho Đức Maria có nghĩa
rằng Mẹ Đấng Cứu Thế được biểu dương như hình ảnh và kiểu mẫu của sự
thánh thiện cho mọi Kitô hữu và cho toàn Giáo Hội. Đây là tầm nhìn thần
học mà Chân Phước Gioan Phaolô II đã khám phá khi còn là một thanh niên,
và ngài đã tiếp tục duy trì và đào sâu cho đến suốt đời. Một tầm nhìn
được diễn tả qua hình ảnh Thánh Kinh Đức Kitô chịu đóng đinh, với Đức
Maria, Mẹ Ngài, đứng bên cạnh. Hình ảnh này từ Tin Mừng theo Thánh Gioan
(19,25-27) được sử dụng trong biểu tượng Giám Mục và sau đó là biểu
tượng Giáo Hoàng của Karol Wojtyla: một Thánh Giá vàng với chữ “M” phía
dưới, bên phải, cùng với khẩu hiệu “Totus tuus”, lấy lại từ câu nói nổi tiếng của Thánh Louis Marie Grignon Montfort mà Karol Wojtyla lấy làm ánh sáng soi dẫn cả đời mình: “Totus tuus ego sum et omnia mea tua sunt. Accipio te in mea omnia. Praebe mihi cor tuum, Maria
– Con hoàn toàn thuộc về Mẹ, và mọi sự của con là của Mẹ. Mẹ là tất cả
của con. Lạy Mẹ Maria, xin ban cho con trái tim của Mẹ” (Về lòng tôn sùng đích thực đối với Đức Trinh Nữ, 266).
Trong
chứng từ của mình, vị tân Chân Phước đã viết: “Ngày 16 tháng 10 năm
1978, khi Mật Tuyển Viện của các Hồng Y chọn Gioan Phaolô II, thủ chỉ
của Ba Lan, Đức Hồng Y Stefan Wyszyński đã nói với tôi: ‘Công
việc của tân Giáo Hoàng sẽ là lãnh đạo Giáo Hội tiến vào ngàn năm thứ
ba’”. Và ngài thêm: “Tôi muốn một lần nữa cám ơn Chúa Thánh Thần về quà
tặng Công Đồng Vatican II. Cùng với toàn thể Giáo Hội, cách riêng cùng
với các Giám Mục, tôi cảm nhận sâu xa ân huệ này. Tôi xác tín rằng Công
Đồng này của thế kỷ XX sẽ vẫn còn là món quà lâu dài cho các thế hệ kế
tiếp kín múc các kho tàng mà nó để lại cho chúng ta. Trong tư cách là
một Giám Mục tham dự Công Đồng từ những ngày đầu tiên cho đến khi kết
thúc, tôi muốn ủy thác di sản lớn lao này cho tất cả những ai đang và sẽ
được mời gọi thực hiện nó. Về phần mình, tôi biết ơn Đấng Mục Tử Vĩnh
Cửu đã giúp tôi phục vụ trong tinh thần này trong suốt triều giáo hoàng
của mình”. Tinh thần gì vậy? Đó chính là tinh thần
mà Đức Gioan Phaolô II trình bày trong Thánh lễ trọng thể đầu tiên của
ngài tại Quảng Trường Thánh Phêrô, với những lời cảm kích không thể nào
quên: “Đừng sợ! Hãy mở, mở rộng các cánh cửa cho Chúa Kitô!”
Điều mà vị giáo hoàng mới được bầu đề nghị với mọi người, thì chính
ngài là người đầu tiên thực hiện: ngài đã mở các hệ thống xã hội, văn
hóa, chính trị, kinh tế cho Đức Kitô, với sức mạnh của một người khổng
lồ - một sức mạnh ngài nhận được từ Thiên Chúa – tạo ra một dòng thác
hầu như không thể đảo ngược. Bằng chứng tá đức tin, tình yêu, bằng lòng
can đảm tông đồ của mình, và bằng uy tín cá nhân lớn lao, người con
tuyệt vời này của đất nước Ba Lan đã giúp cho các tín hữu trên khắp thế
giới không sợ được gọi là Kitô hữu, không sợ thuộc về Giáo Hội, không sợ
nói về Tin Mừng. Nói tắt một lời: ngài đã giúp chúng ta không sợ sự
thật, vì sự thật là bảo đảm của tự do. Hay nói hàm súc hơn: ngài đã trao
cho chúng ta sức mạnh để tin vào Đức Kitô, vì Đức Kitô là Redemptor hominis, Đấng
Cứu Chuộc nhân loại. Đó là chủ đề của Thông Điệp đầu tiên của ngài, và
cũng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tất cả các Thông Điệp khác.
Khi
Karol Wojtyla ngồi vào ghế của Thánh Phêrô, ngài mang theo với ngài một
nhận hiểu sâu xa về sự khác biệt giữa chủ nghĩa Mác-xít và Kitô giáo,
căn cứ trên những tầm nhìn của mỗi bên về con người. Đây là sứ điệp của
ngài: con người là con đường của Giáo Hội, và Đức Kitô là con đường của
con người. Với sứ điệp này, vốn là di sản lớn lao của Công Đồng Vatican
II, và của “vị tài công” của Công Đồng là Đức Phaolô VI, Tôi Tớ của
Thiên Chúa, Đức Gioan Phaolô II đã dẫn dắt Dân Thiên Chúa qua ngưỡng cửa
của Thiên Niên Kỷ thứ ba, mà nhờ Đức Kitô ngài đã mạnh dạn gọi là “ngưỡng cửa của hy vọng”.
Qua hành trình chuẩn bị lâu dài cho Năm Thánh 2000, ngài một lần nữa
dìu dắt Kitô giáo tới tương lai, tương lai của Thiên Chúa, vốn siêu việt
trên lịch sử trong khi vẫn trực tiếp tác động vào lịch sử.
Ngài đã đúng đắn khi gọi Kitô giáo là động lực của niềm hy vọng ấy,
niềm hy vọng cách nào đó từng bị rúng động trước chủ thuyết Mác-xít và
trước ý thức hệ về sự tiến bộ. Ngài đã lấy lại cho Kitô giáo khuôn mặt
thực của mình như là một tôn giáo của hy vọng, được sống trong lịch sử
trong một tinh thần của “Mùa Vọng”, trong một cuộc hiện sinh cá nhân và
cộng đồng hướng tới Đức Kitô, sự viên mãn của loài người và là sự lấp
đầy nơi chúng ta mọi khát vọng công lý và hòa bình.
Cuối
cùng, một cách biệt vị hơn, tôi muốn cảm tạ Thiên Chúa về ân huệ đã làm
việc nhiều năm với Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Tôi từng biết
ngài từ trước kia và từng ngưỡng mộ ngài, nhưng trong hai mươi ba năm,
bắt đầu từ năm 1982 sau khi ngài gọi tôi về Rôma nhận nhiệm vụ đứng đầu
Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, tôi được ở bên cạnh ngài và càng kính mến ngài
hơn. Công việc của tôi đã được nâng đỡ nhờ sự sâu sắc tâm linh và nhờ
tri thức khôn ngoan phong phú của ngài. Tấm gương cầu nguyện của ngài
không ngừng gây cảm kích và soi sáng cho tôi: ngài không ngừng kết hiệp
thâm sâu với Thiên Chúa ngay cả khi lọt thỏm giữa bao yêu cầu của sứ vụ.
Và cần phải kể đến chứng tá của ngài trong đau khổ nữa: Chúa đã dần dần
rút đi khỏi ngài mọi sự, nhưng ngài vẫn cứ là “tảng đá”, như Chúa Kitô
mong muốn. Lòng khiêm nhường sâu xa của ngài, cắm rễ trong mối gắn bó
mật thiết với Đức Kitô, đã giúp ngài tiếp tục lãnh đạo Giáo Hội và trao
cho thế giới một sứ điệp thậm chí càng hùng hồn hơn khi sức mạnh thể lý
của ngài suy kiệt. Bằng cách này ngài đã sống trọn, một cách phi thường,
ơn gọi của mọi linh Mục và Giám Mục, đó là trở nên một hoàn toàn với
Chúa Giêsu, Đấng mà ngài đón nhận và trao ban hằng ngày trong Bí Tích
Thành Thể.
Hỡi
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II yêu dấu, ngài thật có phúc, vì ngài đã
tin! Chúng con xin ngài, từ trời cao, hãy tiếp tục nâng đỡ đức tin của
đoàn Dân Thiên Chúa.
Biết
bao lần từ cửa sổ kia ngài đã ban phép lành cho chúng con tại Quảng
Trường này! Hôm nay, chúng con nguyện cầu: xin Đức Thánh Cha ban phép
lành cho chúng con. Amen.
THIÊN PHONG dịch, từ trang www.vatican.va
***********
Ngôi mộ trống
“Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào.
Ông đã thấy và đã tin” (Ga 20,8).
Vào
thuở bình minh của nhân loại, trước khi Thiên Chúa tạo dựng đất trời và
muôn loài muôn vật, thế giới là một mớ hỗn mang, bóng tối bao trùm vực
thẳm (x. St 1,2).
Vào
lúc Thiên Chúa chuẩn bị thực hiện một cuộc sáng tạo mới, các môn đệ
đứng trước một ngôi mộ trống ảm đạm, trong tâm trạng bi quan và hoảng
loạn (x. Ga, 20,19).
Trong
công trình sáng tạo thuở ban đầu, Thiên Chúa đã dùng Lời của Ngài làm
cho muôn vật muôn loài từ hư vô trở thành hiện hữu (x. St 1,1-25).
Trong
công trình sáng tạo mới, Thiên Chúa đã qua Ngôi Lời nhập thể để quy tụ
muôn loài muôn vật trong ánh sáng của sự phục sinh (x. Ep 1,10).
Khởi từ giấc ngủ của Ađam thứ nhất, Thiên Chúa đã tạo dựng người phụ nữ có tên là Evà, là mẹ của chúng sinh (x St 2,21).
Khởi
từ sự chết của Đức Giêsu, vị Ađam cuối cùng, Thiên Chúa làm phát sinh
cộng đoàn tín hữu có tên là Giáo Hội, xinh đẹp, không tỳ ố không vết
nhăn (x. Ep 5,27).
Ngôi mộ trống của ngày thứ nhất trong tuần là khởi nguồn của biết bao suy tư.
– Ngôi mộ trống nói với chúng ta về quyền năng của Thiên Chúa
Nếu
ngôi mộ trống là lý do để một số kỳ lão Do Thái phao tin đồn các môn đệ
đã lấy cắp xác người đã được an táng trong mộ, thì đối với các tín hữu,
ngôi mộ trống lại là bằng chứng của quyền năng Thiên Chúa. Nếu vào buổi
sáng ngày thứ nhất trong tuần, khi các phụ nữ ra viếng mộ mà họ vẫn còn
thấy ngôi mộ đóng kín, thì đó là chuyện rất đỗi bình thường, vì cái
chết của Đức Giêsu cũng chỉ giống như cái chêt của biết bao người khác
trong cõi nhân sinh này. Người đã chết vẫn nằm trong ngôi mộ, có gì đặc
biệt mà phải ầm ĩ? Nhưng không, các phụ nữ ngạc nhiên và lo sợ vì họ “không thấy thi hài Đức Giêsu đâu cả”
(Lc 24,3). Cả bốn tác giả Tin Mừng đều thuật lại hiện tượng này. Mặc dù
cách thức diễn tả có khác nhau, nhưng cả bốn vị đều nhằm khẳng định:
ngôi mộ trống!
Chính
từ ngôi mộ trống này mà quyền năng Thiên Chúa thể hiện. Bởi lẽ nếu ngôi
mộ trống, tức là thân xác Đức Giêsu không còn ở đó nữa. Người đã sống
lại. Các thiên sứ loan báo Đức Giêsu sống lại qua câu hỏi dành cho những
phụ nữ: “Sao các bà lại tìm người Sống ở giữa kẻ chết?”
(Lc 24,5). Trước đó, các bà đã từng chứng kiến cơn hấp hối đau thương
của Đức Giêsu trên thập giá (x. Lc 23,49). Giờ đây, tin Chúa sống lại
quá đột ngột đối với các bà, khiến các bà vừa sợ hãi vừa vui mừng.
Vâng,
Thiên Chúa là Đấng quyền năng trên sự sống và sự chết. Đức Giêsu đã
nhiều lần loan báo cái chết của Người, nhưng sứ mạng của Người không
dừng lại ở nấm mồ, cuộc đời của Người không kết thúc ở cái chết. Người
đã trỗi dậy giữa những kẻ chết nhờ quyền năng của Thiên Chúa. Sinh thời,
Đức Giêsu đã làm cho ông Ladarô chết bốn ngày được sống lại. Giờ đây,
chính Người bước ra từ nấm mồ, vì Người là Thiên Chúa quyền năng. Người
là chủ sự sống. Người có quyền trên sự chết. Người đã chiến thắng sự
chết và qua đó, Người giải phóng con người khỏi nỗi sợ hãi do sự chết ám
ảnh.
– Ngôi mộ trống nói về Thiên Chúa,
Đấng vừa hiện diện vừa vắng mặt giữa chúng ta
Thiên Chúa hiện diện trong cuộc đời này. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự hiện hữu của Ngài:
“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa
Không trung loan báo việc tay Ngài làm” (Tv 19,2).
Thiên Chúa hiện hữu mọi nơi. Ngài là Đấng quyền năng, không bị giới hạn bởi thời gian và không gian:
“Con có lên trời, Chúa đang ngự đó
Nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài” (Tv 139,8)
Tuy
vậy, chúng ta lại không thể cảm nhận Thiên Chúa bằng giác quan, như
chúng ta thường gặp gỡ tiếp xúc những người xung quanh. Vì vậy, có tác
giả đã gọi sự hiện diện của Thiên Chúa là “sự-hiện-diện-vắng-mặt”. Ngài ở
đây, nhưng ta lại không nhìn thấy. Ngài vẫn có quanh ta, nhưng lại
không giáp mặt Ngài. Người ta không thể làm thế nào để chứng minh sự
hiện hữu của Thiên Chúa như chứng minh một định đề toán học hay một sự
vật trong thế giới thực nghiệm, nhưng người ta cũng không thể phủ nhận
được sự hiện hữu của Ngài trong kiếp nhân sinh.
Ngôi
mộ trống muốn nói với chúng ta: mặc dù chúng ta không thể chạm tới
Thiên Chúa bằng những tiếp xúc thể lý, nhưng Ngài vẫn hiện diện trong
cuộc đời này. Nếu chúng ta không thể gặp gỡ Ngài “mặt giáp mặt”, thì
chúng ta lại có thể gặp gỡ Ngài qua cái nhìn của đức tin và tình mến.
Chính vào lúc chứng kiến cái chết của Đức Giêsu trên thập giá, viên đại
đội trưởng đã tuyên bố: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa”
(Mt 27,54). Ông nhận ra sứ mạng thiên sai của Đức Giêsu không phải vào
một thời điểm vinh quang huy hoàng, nhưng lại vào giây phút khổ đau đến
tột cùng của con người bị treo trên cây gỗ.
Hiệu
quả của công cuộc cứu độ do Đức Giêsu thực hiện cũng là một thực tại
vừa “đã rồi” vừa “chưa xong”. Quả vậy, Nước Trời Đức Giêsu loan báo đã
khởi đầu trong cuộc sống hôm nay, nhưng đang từng bước tiến triển và
chưa hoàn thành. Giáo Hội là cộng đoàn tín hữu do chính Đức Kitô thiết
lập. Cộng đoàn này là một dân lữ hành đang trên đường tiến về đời sau.
Vì là một dân lữ hành nên còn nhiều khiếm khuyết, cần được thanh tẩy và
tinh luyện mỗi ngày, cho tới khi đạt được hạnh phúc trọn hảo đời sau.
– Ngôi mộ trống nói với chúng ta về cuộc sống con người
Vừa mang tính hiện tại vừa hướng về tương lai
Mỗi
ngày, có biết bao khách hành hương tuôn về Giêrusalem để viếng nhà thờ
Mộ thánh, nơi còn ngôi mộ đã an táng Đức Giêsu. Họ đến đây để cùng suy
tư về cuộc khổ nạn của Đức Giêsu cách đây 2000 năm. Ngôi mộ trống ở
Giêrusalem hôm nay vừa nhắc chúng ta về cuộc khổ nạn của thời quá khứ,
vừa hướng chúng ta về với tương lai. Mỗi khi dừng lại bên nấm mộ của
người thân, mỗi chúng ta đều trải nghiệm về sự mỏng giòn chóng qua của
kiếp con người. Ngôi mộ trống vẫn mở ra từ sáng sớm ngày thứ nhất trong
tuần cách đây 2000 năm là một lời tuyên xưng vào sự sống vĩnh cửu cho
những ai tin vào Đức Giêsu. Vâng, sau một cuộc đời được đan xen giữa
những vui mừng và đau khổ, thất bại và thành công, thật là một điều phi
lý nếu con người bị chôn vùi mãi mãi trong lòng đất. Đức tin Công giáo
tuyên xưng “xác loài người ngày sau sống lại”. Tuy vậy, dù được sống lại, số phận của mỗi người lại không giống nhau: “Trong
số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì
để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời” (Đn 12,2).
Giáo lý Công giáo dạy: Nơi
Đức Giêsu phục sinh, các Kitô hữu được nếm “những sức mạnh của thế giới
tương lai và đời sống của họ được Đức Kitô lôi cuốn vào trong lòng đời
sống thần linh, “để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình
nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình (Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo số 655).
Ngôi
mộ trống nói với chúng ta: con người không chỉ có phần xác mà còn là
phần linh hồn; không chỉ có hôm nay mà còn có ngày mai. Thật lạ lùng, từ
20 thế kỷ nay, ngôi mộ trống bình thường là thế mà lại thu hút biết bao
khách hành hương tiến về Giêrusalem. Khá nhiều người đến cầu nguyện nơi
đây đã được thay đổi cuộc đời. Họ đã nhận ra Thiên Chúa từ một ngôi mộ
trống. Họ nhìn thấy tương lai từ một tấm huyệt mở. Họ đã gặp gỡ chính
bản thân mình qua không gian đơn sơ mà linh thiêng này.
Dù
chúng ta không thể hành hương đến Giêrusalem, ngôi mộ trống vẫn đang
hiện diện giữa chúng ta. Lễ Phục sinh chuyển tải đến chúng ta một thông
điệp: người tín hữu được sống lại cùng Đức Kitô, hãy cùng nắm tay nhau
để giới thiệu một Thiên Chúa đang hiện diện, để cùng xây dựng tương lai
từ ngày hôm nay.
Gm Giuse Vũ Văn Thiên
***********
Mầu nhiệm Thập Giá
2011-04-23 09:45:44
|
|
MẦU NHIỆM THẬP GIÁ
Bài giảng của Cha Raniero Cantalamessa, O.F.M.,
tại Đền Thờ Thánh Phêrô, chiều Thứ Sáu Thánh, 22-4-2011
tại Đền Thờ Thánh Phêrô, chiều Thứ Sáu Thánh, 22-4-2011
Thánh Phaolô viết cho Timôtê rằng trong cuộc Khổ Nạn, Đức Giêsu Kitô “đã trao chứng từ tốt đẹp của Ngài”
(1Tm 6,13). Chúng ta tự hỏi: chứng từ về điều gì thế? Không phải về sự
thật đời sống hay về chính nghĩa của Chúa Giêsu. Nhiều người đã chết, và
rất nhiều người vẫn đang chết hôm nay, cho một “chính nghĩa” sai lầm,
nhưng họ tin rằng họ đúng đắn. Cuộc Phục Sinh mới chính là chứng từ về
sự thật của Đức Kitô: “Thiên Chúa đã làm chứng với mọi người về Đức Giêsu, qua việc phục sinh Người từ cõi chết”, như vị Tông Đồ lên tiếng tại hội đồng Aêrôpagô (Cv 17,31).
Không phải cái chết, mà tình yêu của Đức Kitô mới là cái làm chứng cho sự thật. Thật vậy, tình yêu ấy là bằng chứng tột đỉnh: “Không ai có tình yêu lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình vì bạn hữu”
(Ga 15,13). Người ta có thể phản đối rằng có một tình yêu còn lớn hơn
tình yêu của kẻ hiến mạng mình vì bạn hữu, đó là tình yêu của người hiến
mạng cho những kẻ thù ghét mình. Nhưng đây chính là điều Đức Giêsu đã
làm. Như vị Tông Đồ viết cho các tín hữu Rôma: “Đức
Giêsu đã chết cho những kẻ độc ác. Thật khó có ai sẵn sàng chết cho lẽ
phải, họa chăng có người chết cho một người lương thiện. Nhưng Thiên
Chúa cho thấy tình yêu của Ngài đối với chúng ta qua thực tế rằng ngay khi chúng ta còn là tội nhân, thì Đức Kitô đã chết cho chúng ta” (Rm 5,6-8). “Ngài đã yêu chúng ta ngay khi chúng ta là những kẻ phản nghịch, để làm cho chúng ta trở thành bạn hữu” (Th. Augustin, Chú giải Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan, 9,9).
Một
“thần học thập giá” phiến diện nào đó có thể làm ta quên mất điều cốt
yếu. Thập giá không chỉ là sự phán quyết của Thiên Chúa về thế giới,
không chỉ là việc Thiên Chúa bác bỏ sự khôn ngoan của thế gian và mạc
khải cho thấy tội lỗi của thế gian. Thập giá không phải là sự bác bỏ của
Thiên Chúa đối với thế gian, nhưng là sự chấp nhận đầy yêu thương của
Ngài. Như Đức Thánh Cha đã viết trong quyển sách mới nhất của ngài về
Chúa Giêsu: “Người ta không thể
đơn giản phớt lơ không cần biết tới những sự bất công, sự dữ đang diễn
ra trong thực tế, nhưng phải truy khảo chúng và thắng vượt chúng. Đây
chính là tình thương đích thực. Và vì con người không đủ khả năng, chính
Thiên Chúa đã ra tay thực hiện – đây là lòng từ tâm vô điều kiện của
Thiên Chúa” (xem J. Ratzinger – Benedetto XVI, Gesù Nazaret II, NXB Vaticana, 2011, tr. 151).
Nhưng
liệu chúng ta có thể mạnh dạn nói về tình yêu của Thiên Chúa, trong khi
trước mắt ta là bao con người đang điêu linh khốn khổ, như trong thảm
họa ập xuống trên nước Nhật, hay như những bi kịch trong đó bao con
người bị nuốt chửng trên biển trong những tuần lễ vừa qua? Phải chăng ta
đừng nên nhắc gì đến những thảm cảnh ấy? Nhưng nếu hoàn toàn làm thinh
thì đó sẽ là phản bội niềm tin và là phớt lơ ý nghĩa mầu nhiệm mà chúng
ta đang cử hành.
Có
một sự thật cần phải được công bố cách hùng hồn trong ngày Thứ Sáu
Thánh. Đấng mà chúng ta chiêm ngắm trên Thập Giá chính là Thiên Chúa
bằng xương bằng thịt. Vâng, đây là con người Giêsu Nadarét, nhưng đây
cũng chính là người Con của Cha hằng hữu. Nếu chúng ta không nhận ra và
không nghiêm chỉnh lưu ý đến tín điều nền tảng của các Kitô hữu – tín
điều thứ nhất được xác định ở Công Đồng Nixêa – đó là Đức Giêsu Kitô là
Con Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa, cùng bản tính với Cha, thì nỗi
thống khổ của nhân loại vẫn còn chưa nhận được câu trả lời.
Người
ta không thể nói rằng “vấn nạn của ông Gióp vẫn còn sừng sững,” rằng
đức tin Kitô giáo cũng chẳng trả lời được cho bao thống khổ của con
người. Vấn đề là người đừng tiên thiên phủ nhận sự thực rằng có một câu
trả lời. Người ta làm gì để bảo đảm cho một ai đó rằng trong ly nước này
không chứa chất độc? Người ta đích thân uống nó trước mặt mọi người!
Đây chính là điều Thiên Chúa đã làm. Ngài đã uống cạn chén đắng khổ nạn.
Đau khổ của con người, vì thế, không thể bị đánh thuốc độc; nó không
thể chỉ mang ý nghĩa tiêu cực, mất mát, vô lý, vì chính Thiên Chúa đã
chọn nếm trải nó. Rốt cục thì chén đắng ấy là viên ngọc cho chúng ta.
Chúng ta gọi tên viên ngọc này là viên ngọc Phục Sinh! “Tôi nghĩ rằng những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải cho chúng ta” (Rm 8,18), và “Thiên
Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang
tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ biến mất” (Kh 21,4).
Nếu
sự sống kết thúc trên cõi thế này, người ta sẽ thật sự thất vọng khi
nghĩ đến hàng triệu hay có lẽ hàng tỉ con người phải sống đời bất hạnh,
phải dính chặt với tình trạng nghèo khổ và kém phát triển cho tới chết,
trong khi một số ít người khác có mọi thứ xa xỉ và họ không biết làm sao
hưởng thụ cho hết những gì họ đã kiếm được.
Nhưng câu chuyện không phải thế. Cái chết không chỉ xếp đặt lại các sự khác biệt, mà xếp đặt lại cả phần số nữa. “Anh nghèo chết và được các thiên thần đưa vào lòng Abraham – người phú hộ cũng chết và được đưa vào âm phủ”
(cf. Lc 16,22,23). Chúng ta không thể áp dụng cách đơn giản hóa lược đồ
này cho thực tế xã hội, nhưng điều quan trọng là ở đây chúng ta được
cảnh báo rằng đức tin của mình vào sự phục sinh không cho phép ta bỏ mặc
ai cứ thoải mái sống theo thói thường của họ. Chúng ta được nhắc nhở
rằng đừng bao giờ để cho khẩu hiệu “cứ sống như vẫn sống” biến thành “cứ
sống như vẫn chết”.
Câu
trả lời của thập giá không chỉ dành cho ta là những Kitô hữu, mà là cho
mọi người, vì Con Thiên Chúa đã chết cho mọi người. Trong mầu nhiệm cứu
độ có một khía cạnh khách quan và một khía cạnh chủ quan; bản thân mầu
nhiệm này là một sự kiện, nó nói với lương tâm người ta và thôi thúc câu
trả lời của đức tin trước mầu nhiệm. Khía cạnh thứ nhất mở ra khía cạnh
thứ hai. Như Công Đồng Vatican II xác nhận: “Chúa Thánh Thần, bằng cách thế chỉ có Thiên Chúa biết, cung ứng cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua” (Gaudium et spes, 22).
Một trong những cách để tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua chính là đi qua đau khổ. “Đau
khổ có nghĩa là trở nên nhạy cảm cách đặc biệt, nhất là nhạy cảm với
hành động cứu độ quyết liệt của Thiên Chúa được ban cho con người trong
Đức Kitô” - như Đức Gioan Phaolô II đã viết sau khi ngài bị tấn công
và phải nằm viện lâu ngày sau đó (x. Salvifici doloris, 23). Đau khổ,
hết mọi đau khổ, nhưng cách riêng là những đau khổ của người vô tội, có
sự nối kết với thập giá của Đức Kitô bằng một cách mầu nhiệm mà “chỉ mình Thiên Chúa biết”.
Theo chân Chúa Giêsu, những người đã “trao chứng từ tốt lành” và đã “uống chén đắng” là những vị tuẫn đạo! Câu chuyện về cái chết của các vị ấy ban đầu được gọi là “passio”, câu chuyện khổ nạn,
như câu chuyện về những đau khổ của Chúa Giêsu mà chúng ta vừa nghe
trong Bài Thương Khó. Thế giới Kitô giáo lại đang trải qua những chứng
tá tuẫn đạo mà người ta cứ tưởng rằng đã chấm dứt với sự sụp đổ của các
thể chế vô thần chuyên chế. Chúng ta không thể thinh lặng đi qua chứng
từ của họ. Các Kitô hữu sơ khai đã tôn vinh các vị tuẫn đạo của mình.
Những câu chuyện tuẫn đạo được đọc và được lan truyền giữa các cộng đoàn
Giáo Hội với niềm kính ngưỡng sâu xa. Cách riêng hôm nay, ngày Thứ Sáu
Thánh của năm 2011, tại một đất nước lớn của Á Châu, các Kitô hữu đã cầu
nguyện và lặng lẽ bước đi trên các con đường của một số thành phố để
cầu xin tránh được tai ương đang treo lơ lửng trên đầu mình.
Có
một điều phân biệt những hành động tuẫn đạo đích thực với những truyền
thuyết hình thành sau khi kết thúc cuộc bách hại. Trong những câu chuyện
tuẫn đạo đích thực, hầu như không có dấu vết gì về việc khiêu khích đấu
đá với những kẻ bách hại; tất cả sự chú ý đổ dồn vào tính cách anh hùng
của các vị tuẫn đạo, chứ không hướng vào sự nghiệt ngã của các quan tòa
hay các lý hình. Thánh Ciprianô thậm chí yêu cầu người của mình trao
tặng 25 đồng vàng cho viên lý hình chặt đầu ngài. Các vị tuẫn đạo là môn
đệ của Đấng đã thốt lên trong khi hấp hối: “Xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Đức Thánh Cha nhắc chúng ta trong quyển sách mới nhất của ngài rằng “Máu của Chúa Giêsu nói một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của máu Abel (cf. Dt 12,24): Máu Chúa Giêsu không kêu đòi sự báo thù và trừng phạt, nhưng là sự hòa giải” (J. Ratzinger – Benedetto XVI, sđd., tr. 211).
Thế
giới hôm nay cũng đang nghiêng mình trước những chứng từ hiện đại của
đức tin. Người ta giải thích như thế về sự thành công bất ngờ ở Pháp của
bộ phim Des Hommes et Des Dieux,
bộ phim kể lại câu chuyện bảy tu sĩ Xitô bị hành quyết ở Tibhirine vào
tháng ba năm 1996. Và làm sao ta có thể không cảm kích trước những lời
trong di chúc của Shahbaz Bhatti, một chính trị gia Công Giáo bị giết vì
đức tin mới cách đây vài tháng? Di chúc ấy cũng trao cho chúng ta nữa,
là anh chị em của con người ấy trong đức tin, và sẽ là vô ơn nếu ta để
những lời ấy trôi vào quên lãng.
Shahbaz Bhatti viết: “Người
ta hứa sẽ để tôi giữ chức vụ cao trong chính quyền, và người ta yêu cầu
tôi bỏ cuộc tranh đấu của tôi, nhưng tôi luôn luôn từ chối, cho dù nguy
hiểm đến chính tính mạng mình. Tôi không muốn nổi tiếng, cũng không
muốn những địa vị đầy quyền lực. Tôi chỉ muốn một chỗ dưới chân Chúa
Giêsu. Tôi muốn rằng cuộc sống của mình, tính cách và các
hành động của mình sẽ nói thay cho mình và làm chứng rằng tôi đang bước
theo Đức Giêsu Kitô. Niềm mong ước này mạnh đến nỗi tôi cho rằng trong
nỗ lực và trong cuộc tranh đấu của tôi để giúp đỡ người nghèo, người
túng thiếu, các Kitô hữu bị bách hại tại đất nước tôi, nếu Chúa Giêsu
muốn nhận sự sống của tôi làm hy lễ, thì đấy sẽ là ân huệ đặc biệt Chúa dành cho tôi. Tôi muốn sống cho Đức Kitô và tôi muốn chết cho Ngài.’
Như
thể chúng ta nghe lại những lời của Inhaxiô thành Antiôkia, vị giám mục
tuẫn đạo, khi ngài đến Rôma để chịu hành hình. Nhưng thái độ thinh lặng
của các nạn nhân không biện minh cho sự dửng dưng đáng trách của thế
giới trước số phận của họ. Tiên Tri Isaia đã than phiền rằng “Người công chính tiêu vong, thế mà chẳng ai lưu tâm đến; người hiếu nghĩa bị cất đi mà chẳng ai hay” (Is 57,1)!
Chúng
ta cũng thấy rõ rằng các vị tuẫn đạo Kitô giáo không phải là những
người duy nhất chịu đau khổ và chịu chết ở xung quanh ta. Ngoài niềm xác
tín của đức tin chúng ta rằng có một giá trị của sự đau khổ, ta còn có
thể trao gì cho những người không tin? Chúng ta có thể đau khổ với người
đau khổ, khóc với người khóc (Rm 12,15). Trước khi công bố về sự sống
lại và sự sống, đứng trước nỗi đau thương của các chị Ladarô, Đức Giêsu
đã “bật khóc” (Ga 11,35). Trong thời khắc này, thời khắc của đau khổ và
nước mắt, cách riêng với những người dân Nhật Bản sống sót qua một trong
những thiên tai kinh hoàng nhất của lịch sử, chúng ta cũng có thể nói
với các anh chị em ấy rằng chúng ta kính trọng phẩm giá của họ và thán
phục tấm gương bình tĩnh, tương trợ mà họ đã trao cho thế giới.
Xu
thế toàn cầu hóa có ít nhất hiệu ứng tích cực này: nỗi khổ của một dân
tộc trở thành nỗi khổ của tất cả, nó khơi lên sự liên đới của mọi người.
Nó cho chúng ta cơ hội để khám phá rằng chúng ta là một gia đình nhân
loại duy nhất, gắn kết với nhau trong điều tốt cũng như điều xấu. Nó
giúp chúng ta vượt qua những rào cản của chủng tộc, màu da, tôn giáo.
Như một thi sĩ thời nay đã thốt lên: “Những con người, ôi bình an! Trên mặt đất chông chênh này ắp đầy mầu nhiệm” (G. Pascoli, I due fanciulli).
Tuy
nhiên chúng ta cũng phải học lấy bài học trong các biến cố này. Động
đất, bão lụt, và những tai ương khác đổ ập trên cả người tội lỗi lẫn
người vô tội, đó không bao giờ là sự trừng phạt của Thiên Chúa. Trái
lại, nó làm tổn thương Thiên Chúa lẫn con người. Nhưng chúng là một cảnh
báo: trong trường hợp này, đó là sự cảnh báo để chúng ta đừng ảo tưởng
rằng chỉ cần khoa học và kỹ thuật là đủ để cứu chúng ta. Nếu chúng ta
không biết tự vạch cho mình những giới hạn, thì khoa học và kỹ thuật có
thể thực sự trở thành, như đã thấy, mối đe dọa khủng khiếp nhất cho mọi
người.
Cũng đã có một vụ động đất trong khoảnh khắc cái chết của Đức Kitô: “Thấy
động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng
ông canh giữ Ðức Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và nói: ‘Quả thật ông này là
Con Thiên Chúa’” (Mt 27,54). Nhưng còn có một cơn động đất khác lớn hơn, xung quanh khoảnh khắc Phục Sinh: “Và kìa, đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên” (Mt 28,2). Sự việc luôn luôn như thế. Mỗi cơn động đất của chết chóc sẽ dẫn đến một cơn động đất của sự sống lại và sự sống.
Có người đã thốt lên: “Đã tới lúc chỉ có Chúa mới có thể cứu được chúng ta” (Nur noch ein Gott kann uns retten, xem trong Antwort. Martin Heidegger im Gespräch, Pfullingen 1988). Và chúng
ta được bảo đảm chắc chắn rằng Ngài sẽ cứu, bởi vì “Thiên Chúa đã yêu
thế gian đến nỗi đã trao ban chính Con Một của Ngài” (Ga 3,16). Vì thế,
với niềm xác tín mới mẻ và niềm cảm kích tri ân, chúng ta sẵn sàng hát
lên lời ca của phụng vụ: “Đây là gỗ Thánh Giá, nơi treo Đấng cứu độ trần
gian; ta hãy đến tôn thờ”.
THIÊN PHONG dịch từ bản tiếng Ý trong trang www.vatican.va
************
Cho tôi xin nước uống.
2011-03-27 05:54:18
|
|
CHO TÔI XIN CHÚT NƯỚC UỐNG
Lời Chúa Chúa Nhật III Mùa Chay Năm A:
Ga 4, 5-42
Ga 4, 5-42
Khi ấy Ðức Giêsu đến một thành xứ Samaria,
tên là Xykha, gần thửa đất ông Giacóp đã cho con là ông Giuse. Ở đấy,
có giếng của ông Giacóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ
giếng. Lúc đó vào mười hai giờ trưa.
Có
một người phụ nữ Samari đến lấy nước. Ðức Giêsu nói với người ấy: “Chị
cho tôi xin chút nước uống!” Quả thế, các môn đệ của Người vào thành mua
thức ăn. Người phụ nữ Samari liền nói: “Ông là người Do thái, mà lại
xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông uống nước sao?” Ðức Giêsu trả lời:
“Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người nói với chị: Cho
tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị nước
hằng sống? Chị ấy nói: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu.
Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ Giacóp
chúng tôi, là người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước
giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” Ðức Giêsu
trả lời: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ
không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một
mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”
Người
phụ nữ nói với Ðức Giêsu: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để
tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” Người bảo chị ấy: “Chị hãy
gọi chồng chị, rồi hãy trở lại đây.” Người phụ nữ đáp: “Tôi không có
chồng.” Ðức Giêsu bảo: “Chị nói: tôi không có chồng là phải, vì chị đã
năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không phải là chồng
chị. Chị đã nói đúng.” Người phụ nữ nói với Người: “Thưa ông, tôi thấy
ông thật là một ngôn sứ... Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa
trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi phải thờ
phượng Thiên Chúa.” Ðức Giêsu phán: “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ
các ngươi sẽ thờ phượng Chúa Cha không phải trên núi này hay tại
Giêrusalem. Các ngươi thờ Ðấng các ngươi không biết; còn chúng tôi thờ
Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do thái. Nhưng giờ đã
đến - và chính là lúc này đây - giờ những người thờ phượng đích thực sẽ
thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm
những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những ai
thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” Người phụ
nữ thưa: “Tôi biết Ðấng Mêsia, gọi là Ðức Kitô, sẽ đến. Khi Người đến,
Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” Ðức Giêsu nói: “Ðấng ấy chính
là tôi, người đang nói với chị đây.” Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các
ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không
ai dám hỏi: “Thầy cần gì vậy?” hoặc “Thầy nói gì với chị ấy?”
Người
phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: “Ðến mà xem: có
một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải
là Ðấng Kitô sao?” Họ ra khỏi thành và đến gặp Người. Trong khi đó, các
môn đệ thưa với Người rằng: “Rabbi, xin mời Thầy dùng bữa.” Người nói
với các ông: “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết.”
Các môn đệ mới hỏi nhau: “Ðã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng?”
Ðức Giêsu nói với các ông: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của
Ðấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người. Nào anh em chẳng
nói: Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt? Nhưng này, Thầy bảo anh em:
Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái! Ai
gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để sống muôn đời, và như thế, cả
người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. Thật vậy, câu tục ngữ ‘kẻ này
gieo, người kia gặt’ quả là đúng! Thầy sai anh em đi gặt những gì chính
anh em đã không vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả; còn anh
em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ.”
Có
nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Ðức Giêsu, vì lời người
phụ nữ làm chứng: ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. Vậy, khi đến
gặp Người, dân Samari xin Người ở lại với họ, và Người ở lại đó hai
ngày. Số người tin vì lời Ðức Giêsu nói còn đông hơn nữa. Họ bảo người
phụ nữ: “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính
chúng tôi đã nghe và biết rằng người thật là Ðấng cứu độ trần gian.”
Suy niệm:
Sau nửa ngày hành trình từ Giuđê về Galilê,
Ðức Giêsu nghỉ mệt bên một giếng nước ở vùng Samari.
Ngài vừa đói vừa khát, giữa cái nắng ban trưa.
Các môn đệ vào thành mua thức ăn.
Còn lại một mình Ðức Giêsu ngồi bên bờ giếng.
Chính nơi đây đã diễn ra cuộc gặp gỡ
giữa Ngài và người phụ nữ Samari vốn bị coi là ô nhơ.
Ðức Giêsu bắt đầu gieo hạt
để chuẩn bị cho mùa gặt mai sau của các môn đệ.
“Cho tôi chút nước uống.”
Ðức Giêsu mở đầu cuộc đối thoại bằng một lời nài xin.
Ngài chẳng sợ thú nhận sự thiếu thốn của mình.
Xin nước uống là làm một cuộc cách mạng,
là bắc một nhịp cầu qua vực sâu
ngăn cách hai dân tộc Samari và Do Thái
vốn dĩ đã thù ghét và xa lánh nhau từ bốn thế kỷ.
Chẳng ai hiểu nổi một bậc thầy như Ðức Giêsu
lại nói chuyện và xin nước một phụ nữ Samari.
Ðức Giêsu đã cúi mình phá bỏ những hàng rào
để xây dựng một cuộc đối thoại đích thực và bình đẳng.
“Cho tôi chút nước uống.”
Ngài là người xin nước trước khi là người cho...
Chúng ta cũng có nhiều điều phải xin
nơi chính những người cần chúng ta giúp đỡ.
Ðức Giêsu cho thấy Ngài có một thứ nước lạ lùng,
uống vào không còn khát nữa.
Người phụ nữ vội vã xin Ngài thứ nước kỳ diệu đó.
Chị đâu ngờ chính mình đã bắt đầu được nếm rồi.
Nước đó chính là Lời của Ðức Giêsu,
Lời vén mở dần dần con người thâm sâu của Ngài.
Ðức Giêsu cho thấy Ngài biết rõ gia cảnh của chị.
Cái biết của Ngài không nhằm soi mói, nhưng để cảm thông.
Cái biết của Ngài về những điều riêng tư thầm kín
đã khiến chị coi Ngài là một ngôn sứ đáng tin.
Từ đó, chính chị gợi lên vấn đề tôn giáo,
một vấn đề khiến chị rất bận tâm;
Chính chị nói lên niềm mong đợi của mình về Ðấng Mêsia,
Ðấng sẽ đến dạy dỗ mọi sự (Ga 4,25);
rồi cũng chính chị đã bỏ vò nước lại
mà hân hoan chạy đi giới thiệu Ðức Giêsu cho đồng bào.
Chị đã tìm thấy thứ nước tuyệt diệu nơi Ðức Giêsu.
Ngài từ từ tỏ mình cho chị:
“Ðấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”
Không thấy nói đến chuyện Ðức Giêsu ăn hay uống.
“Lương thực của Thầy là thi hành ý Ðấng đã sai Thầy.”
Ðức Giêsu chỉ đói một điều, đó là nuôi dưỡng nhân loại.
Ngài chỉ khát một điều, đó là ban nguồn nước sự sống.
Chúng ta có dám chia sẻ cơn đói khát của Ngài không?
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con biết con,
xin cho con biết Chúa.
Xin cho con chỉ khao khát một mình Chúa,
quên đi chính bản thân,
yêu mến Chúa và làm mọi sự vì Chúa.
Xin cho con biết tự hạ,
biết tán dương Chúa và chỉ nghĩ đến Chúa.
Ước gì con biết hãm mình và sống trong Chúa.
Ước gì con biết nhận từ Chúa tất cả những gì xảy đến cho con
và biết chọn theo chân Chúa luôn.
Xin đừng để điều gì quyến rũ con, ngoài Chúa.
Xin Chúa hãy nhìn con, để con yêu mến Chúa.
Xin Chúa hãy gọi con, để con được thấy Chúa.
Và để con hưởng nhan Chúa đời đời. Amen.
xin cho con biết con,
xin cho con biết Chúa.
Xin cho con chỉ khao khát một mình Chúa,
quên đi chính bản thân,
yêu mến Chúa và làm mọi sự vì Chúa.
Xin cho con biết tự hạ,
biết tán dương Chúa và chỉ nghĩ đến Chúa.
Ước gì con biết hãm mình và sống trong Chúa.
Ước gì con biết nhận từ Chúa tất cả những gì xảy đến cho con
và biết chọn theo chân Chúa luôn.
Xin đừng để điều gì quyến rũ con, ngoài Chúa.
Xin Chúa hãy nhìn con, để con yêu mến Chúa.
Xin Chúa hãy gọi con, để con được thấy Chúa.
Và để con hưởng nhan Chúa đời đời. Amen.
(Thánh Âu-Tinh)
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
***********
Con Đường Nhỏ của một vị thánh lớn: Têrêxa Giêsu Hài Đồng
2010-09-30 22:40:34
|
|
Con Đường Nhỏ của một vị thánh lớn: Têrêxa Giêsu Hài Đồng
Tê-rê-xa
Hài Đồng Giêsu đã được phong thánh năm 1925, tức 28 năm sau khi từ trần
(thời đó coi là mau lắm), được chọn làm bổn mạng các xứ truyền giáo
cùng với thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê năm 1927 và được Đức Giáo Hoàng Gio-an
Phao-lô II nâng lên hàng tiến sĩ Hội Thánh ngày 19 tháng 10 năm 1997.
Tê-rê-xa Hài Đồng Giêsu đã được phong thánh năm 1925, tức 28 năm sau khi từ trần (thời đó coi là mau lắm), được chọn làm bổn mạng các xứ truyền giáo cùng với thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê năm 1927 và được Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nâng lên hàng tiến sĩ Hội Thánh ngày 19 tháng 10 năm 1997.
Vậy ngài không hề "nhỏ" chút nào!
Sự cao cả của thánh Tê-rê-xa là đã khám phá lại chân lý trọng tâm của Phúc Âm, đó là: trong Đức Giêsu Kitô, chúng ta được làm con cái Thiên Chúa, và chúng ta phải yêu mến Cha chúng ta trên trời như những đứa con thảo đầy tin tưởng và phó thác. Thánh Tê-rê-xa bám chắc vào giáo lý này với tất cả sức lực của ngài và cố gắng thực hành nó gần như sát mặt chữ. Sống thật sự như trẻ thơ là cách chắc chắn nhất, đơn giản nhất để làm đẹp lòng Chúa Cha. Ngài nói ngài vui mừng vì mình bé nhỏ bởi vì Chúa Giêsu đã dạy chỉ các trẻ em và những ai giống như chúng mới được vào Nước Trời. Đứa bé càng nhỏ, càng yếu đuối thì lại càng phải và có thể cậy dựa vào lòng thương xót, sự giúp đỡ và chăm sóc tận tình của cha mẹ và những người khác chung quanh.
Tê-rê-xa viết trong Thủ Bản gởi Mẹ bề trên Ma-ri Gông-da-ga năm 1897:
"Thưa Mẹ, như Mẹ biết, con hằng ước ao được nên thánh, nhưng than ôi, mỗi lần sánh mình với các thánh, con đều nhận thấy giữa các ngài và con có một khoảng cách như giữa một ngọn núi cao chót vót và một hột cát ti tiện dưới chân khách bộ hành. Nhưng thay vì thối chí, con lại tự nhủ: Chúa không khơi dậy những ước muốn không thể thực hiện được; dù thấp hèn, con cũng vẫn có thể khao khát nên thánh. Tự làm cho mình lớn lên thì không được, nên con có thế nào thì đành phải chịu như vậy với tất cả những khuyết điểm của con. Nhưng con muốn tìm ra một phương pháp lên trời bằng một con đường nhỏ vừa thẳng lại vừa ngắn, một con đường nhỏ hoàn toàn mới. Chúng ta đang ở trong thế kỷ phát minh, bây giờ không phải leo từng bậc thang nữa; những nhà giàu có đã thay những thang cổ điểm bằng thang máy, thật là tiện lợi. Phần con, con cũng muốn kiếm một cái thang máy để nâng con lên tới Chúa Giêsu, vì con bé nhỏ quá, chả sao lên được cái thang trọn lành dốc dác. Thế rồi con đi tìm trong Sách Thánh [...] và con đã đọc những lời sau đây phát xuất từ miệng Đấng Khôn Ngoan muôn đời: 'Ai thật bé nhỏ thì hãy đến với Ta' (Châm ngôn 9,4) [...]. Thế rồi con đã đến vì con đoán con đã gặp được điều con đang tìm kiếm [...]. Chiếc thang máy đưa con lên tận trời là chính đôi cánh tay Chúa đấy, Chúa Giêsu ôi! Vì thế mà con chả cần phải lớn lên, trái lại con cần phải cứ bé hoài và càng ngày sẽ càng bé dần đi mãi. Ôi lạy Chúa, Chúa đã ban cho con hơn sự con mong đợi, và con, con muốn ca ngợi lòng thương xót của Chúa..." (Thủ bản Tự Thuật, Hương Việt dịch, Sài Gòn 1967, tr. 188-189).
Áp dụng "phương pháp lên trời" hay sử dụng "chiếc thang máy" này, thánh Tê-rê-xa không cần phải tìm kiếm những việc cao siêu, to tát, nổi bật, chỉ cần phải rèn luyện cho mình thái độ làm con, và làm con bé nhỏ của Cha trên trời, ấy là hết lòng yêu mến, tin tưởng, phó thác. Mọi sự đều để mặc Cha lo, dù đầy khuyết điểm hay tội lỗi cũng không sợ! Càng tiến sâu vào con đường này, ngài càng được tình yêu Chúa chiếm đoạt trọn vẹn hơn, và ngài đưa tình yêu đó thấm nhuần mọi việc ngài làm, mọi khó khăn thử thách ngài gặp phải, mọi sự khó chịu của cuộc sống chung, v.v., biến tất cả thành những lễ vật dâng lên Chúa. Biết mình nhỏ bé, ngài luyện tập những nhân đức nho nhỏ; thích âm thầm chuyên lo làm vui lòng Chúa bằng những hy sinh nhỏ mọn mà chỉ một mình Chúa biết; ngài không bỏ qua một dịp hy sinh nào có được và cố gắng làm cho đời mình thành một cuộc tử đạo vì tình yêu Chúa. Chẳng hạn: uống thuốc đắng từng giọt để "kéo dài một việc hãm mình nhỏ mọn"; trong công việc chung, chọn những phần khó nhọc hơn, hay khi trời nóng, chọn nơi ngồi bất tiện hơn cho mình để dành chỗ mát mẻ cho chị em; chấp nhận cho kẻ khác đến quấy rầy mình; tránh tìm kiếm tiện nghi, v.v. Có tình yêu thì việc nhỏ sẽ trở thành việc có giá trị lớn. Thánh nữ gọi làm những việc như thế là "tung hoa" cho Chúa:
"Vâng lạy Đấng lòng con yêu mến, cuộc đời con sẽ tiêu hao như vậy đó ... Con không có phương pháp nào khác để minh chứng với Chúa tình yêu của con ngoài việc tung hoa, nghĩa là không để mất một hy sinh nhỏ nào, một cái nhìn nào, một lời nói nào; con sẽ lợi dụng tất cả mọi việc nhỏ nhặt nhất và làm chúng với cả một tâm tình yêu mến... Con muốn chịu đau khổ vì yêu mến, như vậy con sẽ tung hoa trước ngai Chúa; hễ gặp bất cứ bông hoa nào là con cũng rứt cánh dâng cho Chúa ... rồi tay thì tung hoa, miệng thì ca hát (làm sao có thể khóc được khi làm một việc vui như thế), và con sẽ hát ngay cả khi phải hái những bông hoa giữa gai góc, mà gai góc càng dài càng đâm đau bao nhiêu, tiếng hát của con càng du dương bấy nhiêu [...] Ôi Giêsu của con, con mến Chúa, con yêu Giáo Hội Mẹ con; con nhớ rằng "hành động nhỏ bé nhất mà do tình yêu tinh tuyền sẽ có ích hơn là tất cả những công trình khác hợp lại với nhau' (Thánh Gio-an Thánh Giá)" (Trích Thủ bản Tự Thuật, tr. 181).
Thánh Tê-rê-xa nhìn nhận rằng Thiên Chúa toàn năng đã làm cho ngài những việc trọng đại, và việc trọng đại nhất là cho ngài biết sự bé nhỏ và bất lực của mình (x. Thủ bản, tr 191). Từ sự ý thức đó, ngài đã rút ra cho mình một phương pháp đơn sơ, không chút cầu kỳ để đến với Chúa, mà người ta gọi là con đường thơ ấu thiêng liêng. Lời sau đây mà ngài đã nói với người chị ruột Marie du Sacré-Coeur trong một lá thư đề tháng 9 năm 1896, là một lời đầy khích lệ đối với chúng ta hôm nay:
"A, nếu hết mọi linh hồn yếu đuối và bất toàn cảm thấy điều mà linh hồn bé bỏng nhất trong mọi linh hồn, tức là linh hồn Tê-rê-xa nhỏ bé của Chị, thì sẽ không một ai ngã lòng trên đường lên núi tình yêu, vì Chúa Giêsu đâu có đòi những việc vĩ đại mà chỉ đòi sự phó thác và tri ân..." (Thủ bản, tr. 171).
Thánh Tê-rê-xa đã đưa lý tưởng nên thánh đến gần và vừa tầm với mọi người.
************
Sống trong Chúa Thánh Thần. Bài giảng lễ phong chức Tân Giám mục GP Vinh
2010-07-24 13:29:05
|
|
Sống trong Chúa Thánh Thần
Bài giảng của Đức Tổng giám mục Têphanô Nguyễn Như Thể
trong Thánh Lễ tấn Phong Giám mục giáo phận Vinh, 23-7-2010
1. Kính thưa cộng đoàn, Ngày
11 tháng 5, cách đây hơn hai tháng, giáo phận Vinh mừng kỷ niệm 50 năm
linh mục của Đức cha Phaolô Maria, với biệt danh là vị giám mục trên
từng cây số, đến đâu cũng là nhà, ngả đâu cũng là giường, một vị chủ
chăn đạo đức, khôn ngoan, khiêm tốn, giản dị.
Trong dịp nầy, chúng tôi rất vui mừng được hiện diện cùng tạ ơn Chúa với Đức cha và giáo phận nhà.
Qua
những tiếp xúc gặp gỡ, và sau khi tham dự buổi Diễn nguyện tối hôm
trước và Thánh lễ tạ ơn sáng hôm sau, chúng tôi cảm nhận được phần nào
sức sống mãnh liệt mà rất hồn nhiên, cởi mở, thân thiện của giáo phận
Vinh, từ giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ đến giáo dân miền núi, miền
biển, miền xuôi. Diễn nguyện tối qua và Thánh lễ sáng nay cũng cho thấy
như vậy.
Thật
là một giáo phận giàu truyền thống, đồng thời mang hơi thở của thời
đại, một giáo phận đang đi lên thấy rõ cả về số lượng, cả về chất lượng.
Người tín hữu giáo phận Vinh được tiếng là những người con rất mực
trung thành sắt son với Mẹ Giáo Hội, dù phải gánh chịu nhiều thiệt thòi,
đau thương qua dòng lịch sử của mình.
Hôm
nay, một người con gốc giáo phận nhà là cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp được
Chúa chọn gọi, và Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI bổ nhiệm làm giám mục giáo
phận Vinh thân yêu. Người con nầy được hưởng nhờ biết bao ân lộc của
giáo phận và phúc ấm của ông bà tổ tiên dòng tộc, nay về lại phục vụ quê
hương, tiếp nối sứ vụ tông đồ của vị tiền nhiệm kính yêu.
2. Kính thưa quý ông bà và anh chị em,
Giáo lý Công Đồng Vaticanô II dạy rằng: “Khi
được tấn phong, các giám mục lãnh nhận bí tích truyền chức thánh một
cách sung mãn trọn vẹn, mà tập tục phụng vụ Giáo Hội và các thánh giáo
phụ gọi là chức linh mục tối cao, và nhận lãnh thực tại toàn vẹn của
thánh vụ. Việc tấn phong giám mục trao ban nhiệm vụ thánh hóa cũng như
nhiệm vụ giảng dạy và quản trị. Tuy nhiên các nhiệm vụ ấy, do bản tính,
chỉ có thể thực thi trong sự hiệp thông phẩm trật với Đức Giáo Hoàng và
với các anh em trong giám mục đoàn” (Ánh Sáng Muôn Dân, 21).
Công Đồng nói tiếp: “Đức
Giáo Hoàng, Đấng kế vị Thánh Phêrô, là nguyên lý và nền tảng hữu hình,
vĩnh cửu của sự hợp nhất giữa các giám mục cũng như giữa các tín hữu
khắp thế giới. Còn mỗi giám mục là nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự
hợp nhất trong Giáo Hội địa phương, tức là giáo phận” (Ánh Sáng Muôn Dân, 23).
Như
người cha trong đại gia đình, vị giám mục hướng dẫn các thành viên
trong ngôi nhà giáo phận, lắng nghe và chia sẻ những vui buồn, thành
bại, những lo âu và hy vọng, chia sẻ cả sự mỏng giòn của cộng đoàn mình,
với sức mạnh và khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, chứ không phải của thế
gian.
Thánh Phaolô nói với cộng đoàn Côrintô rằng: “Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên?" (2 Cr 11,29).
Thánh Augustinô dùng một công thức tuyệt vời để nói về chức giám mục của mình: “Cho anh em tôi là giám mục, cùng với anh em tôi là kitô hữu” (Vobis enim sum episcopus, vobiscum sum christianus, Disc. 340, 1: In die ordinationis suae, PL 38, 1483).
3. Kính thưa cộng đoàn,
Chúa
Giêsu đến trần gian để loan báo Tin Mừng tình thương cứu độ. Trong hội
đường Do Thái ngày ấy, tại nơi sinh trưởng, Ngài áp dụng cho chính mình
những lời của ngôn sứ Isaia: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc. 4,18).
Ngài thành lập Giáo Hội cũng với mục đích ấy: “Anh em hãy đi khắp bốn phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc. 16,15).
Lẽ sống của Giáo Hội là rao giảng Phúc âm. Trong thông điệp “Sứ vụ Đấng Cứu Độ”, Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói rằng: “Suốt
dòng lịch sử Giáo Hội, nếu tính năng động trong truyền giáo là dấu hiệu
của sức sống, thì sự xao lãng truyền giáo lại là dấu hiệu của cơn khủng
hoảng đức tin” (Sứ vụ Đấng Cứu Độ, 2).
Cũng
trong thông điệp nầy, ngài nhấn mạnh đến những lãnh vực mới trong thế
giới hiện đại cần được loan báo Tin Mừng. Sau khi lưu ý đặc biệt đến
lãnh vực thông tin, ngài nói tới nhiều trung tâm văn hóa khác nhau, mà
hoạt động truyền giáo phải quan tâm như: tranh đấu cho hòa bình, cho
quyền con người, cho việc giải phóng và phát triển các dân tộc, nhất là
những nhóm thiểu số, cho sự thăng tiến phụ nữ và trẻ em, cho việc bảo vệ
môi trường sinh thái... (x. Sứ vụ Đấng Cứu Độ, 37).
Phải
chăng vì thế mà trong nhiều năm qua, Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp đã
dấn thân vào các lãnh vực văn hóa, giáo dục, xã hội...
Đây
không phải là chuyện nghiên cứu thuần túy, mà là nhắm ý hướng loan báo
Tin Mừng theo lời Chúa Giêsu dạy, và theo bước chân của Thánh Phaolô
tông đồ, của Cha Thánh Đa Minh, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.
Đức
cha Phaolô loan báo Tin Mừng với một trái tim nồng ấm và một đầu óc
lạnh tĩnh để nhận định, để biện phân tốt - xấu, đúng - sai, chính -
phụ... hầu hướng dẫn cộng đoàn một cách vững vàng và hài hòa trong “Sự thật và tình yêu” (Ep. 4,15) là châm ngôn mục vụ mà Đức cha đã chọn làm chỉ nam cho sứ vụ giám mục của mình.
Loan
báo Tin Mừng bằng cách thức tỉnh, gợi mở, gây ý thức, khơi nguồn cảm
hứng..., chứ không áp đặt, không tuyên truyền, không chinh phục..., như
một nhà tâm lý giáo dục đã nói:
“Người thầy tầm thường thì chỉ biết trình bày,
Người thầy giỏi thì biết giảng giải,
Người thầy xuất sắc thì biết chứng minh,
Người thầy vĩ đại thì biết thức tỉnh và khơi nguồn cảm hứng”
(William Arthur Ward).
4. Kính thưa anh chị em,
Chúa
Thánh Thần là Bậc Thầy Vĩ Đại trên hết mọi người thầy, là Đấng gợi mở,
linh ứng, luôn thức tỉnh và khơi nguồn cảm hứng cho đời sống kitô hữu,
làm cho mọi sự có hồn, có sinh khí, có linh khí và có sức lan tỏa, như
hương thơm lôi cuốn một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, không cần những chiêu
quảng cáo hào nhoáng.
Chúa
Thánh Thần làm cho cuộc sống chúng ta năng động, làm cho đức tin chúng
ta không ngừng sáng tạo và tái tạo, khiến cho ngày càng nhanh hơn, mạnh
hơn, cao hơn.
Người sống trong Chúa Thánh Thần thì chạy nhanh đến đỗi những trì trệ, xơ cứng không thể đồng hành với họ.
Họ
tiến mạnh đến đỗi sóng gió cuộc đời không làm họ ngả nghiêng, và giả
dối, lừa lọc, mánh khóe... không khiến họ chùn chân được.
Họ vươn cao đến đỗi những xúc phạm không thể chạm tới họ được.
Sống trong Chúa Thánh Thần,
Mắt
họ tinh anh để nhìn thấy Giáo Hội là Nhiệm thể Chúa Kitô, Giáo Hội bao
la hơn những tư kiến hạn hẹp và những thành kiến đóng khung của mình.
Tai
họ thính nhạy để không chỉ nghe tiếng ào ào của một cây rừng ngã đổ, mà
còn nghe rõ những tiếng lao xao của muôn vàn chồi non đang nhú lên
trong cả cánh rừng.
Lòng họ rộng lớn để nhìn xa hơn những thất bại trước mắt, và trông rộng hơn những thành công của ngày hôm nay.
Họ
không bực bội nôn nóng đòi nhổ ngay cỏ lùng ra khỏi ruộng lúa, điều nầy
chỉ dành cho chủ ruộng mà thôi, vả lại, họ cũng nhận thấy có cả cỏ lùng
mọc chung với lúa tốt trong chính bản thân mình.
Họ cùng nhau thắp lên những đốm lửa, chứ không ngồi mà than trách bóng tối, ngày ngày họ cầu nguyện và yêu thương, phục vụ.
Đối với họ, sa ngã và lỗi lầm không quan trọng bằng sửa sai và trỗi dậy tiếp tục bước đi với sức mạnh của Chúa Thánh Thần.
Họ không ngừng gột rửa, thanh luyện chính mình, và làm mới lại luôn mãi mỗi ngày.
Trên hết mọi sự, họ thành tâm phụng sự Chúa, yêu mến, phục vụ Giáo Hội và con người.
Hạnh
phúc thay, chúng ta được vui sống và lớn lên, tự do và trách nhiệm,
trong lòng Mẹ Giáo Hội, một Giáo Hội nao nức sống Tin Mừng và loan báo
Tin Mừng Cứu độ, cùng nhau vun đắp một môi trường sống chan hòa, trong
đó, những hoa quả của Chúa Thánh Thần được sum sê nảy nở, như lời Thánh
Phaolô nói: đó là “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl. 5,22-23). Amen.
Têphanô Nguyễn Như Thể
Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Huế
***********
Sứ điệp Mẹ Trà Kiệu. Bài chia sẻ của Đức Cha Giuse trong Thánh Lễ Hành Hương 31.5 tại Trà Kiệu
2010-06-02 10:20:53
|
|
SỨ ĐIỆP MẸ TRÀ KIỆU
Bài chia sẻ của Đức Cha Giuse
trong Thánh Lễ ngày 31/5/2010 tại Trà Kiệu.
trong Thánh Lễ ngày 31/5/2010 tại Trà Kiệu.
Kính thưa Cộng đoàn.
Bất cứ cuộc thăm viếng nào, Đức Maria cũng để lại sứ điệp.
Lúc
được Thiên sứ Gabriel thăm viếng trong ngày truyền tin, sứ điệp
của Đức Mẹ đã được chính Tin Mừng ghi lại. Đó là lời “Xin
Vâng” đầy uy lực và thần thánh làm rung động cả đất trời. Ngôi
Hai Thiên Chúa làm người trong lòng Mẹ. Từ đó, Mẹ trở thành
sứ giả của Thiên Chúa, đem Chúa Giêsu đến cho con người. Mẹ
cũng thường xuyên thăm viếng, mang tình yêu và sứ điệp của Thiên
Chúa đến cho con người qua muôn thế hệ.
Cuộc
thăm viếng đầu tiên được Tin Mừng Thánh Luca thuật lại trong
ngày kính Đức Mẹ Thăm Viếng Bà Thánh Elissabeth hôm nay cũng
thế, sứ điệp trang trọng đầy tính truyền thống và tiên tri mà
Đức Mẹ để lại, chính là lời kinh Magnificat lừng danh mà chúng
ta vừa nghe công bố. “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa”, là lời
khởi đầu được Đức Mẹ dùng để đáp lại lời chào hỏi và chúc
tụng của bà chị họ, và cũng được Trung Tâm Thánh Mẫu Trà
Kiệu chọn làm chủ đề cho cuộc hành hương kỷ niệm 125 năm Đức
Mẹ thăm viếng linh địa Trà Kiệu này. Vâng, mọi người chúng ta
hãy âm thầm và tràn đầy xác tín lặp lại lời của Đức Maria:
“Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa”.
Tại
Lộ Đức vào năm 1858 với Bernadette, một cô bé 13 tuổi tại hang
đá Massabielle. Hậu quả của cuộc cách mạng 1789 và phong trào
tục hóa đang làm đảo điên Giáo Hội Pháp, Trưởng Nữ của Hội
Thánh. Đức Mẹ đã tha thiết xin Bernadette hãy loan đi sứ điệp:
“Hãy ăn năn đền tội! Hãy ăn năn đề tội! Hãy ăn năn đền tôi!”
Xưng mình là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Mẹ xin Bernadette cầu
nguyện cùng Thiên Chúa cho kẻ có tội được ăn năn trở lại. Tội
lỗi làm phiền lòng Thiên Chúa và hạ nhục con người. Con người
sẽ bị tiêu diệt đời đời nếu không hồi tâm ăn năn trở về cùng
Thiên Chúa.
Đến
đầu thế kỷ 20, loài người như đang hấp hối giữa cuộc chiến
tranh thế giới lần thứ I tàn khốc, Mẹ đã viếng thăm nhân loại
qua ba em nhỏ Lucia, Giacinta và Phanxicô tại làng Fatima xa xôi
thuộc nước Bồ Đào Nha. Lucia đã kể lại cuộc trao đổi giữa Bà Đẹp
và ba em xảy ra trong lần hiện ra thứ 6 vào ngày 13/10/1917 như
sau: "Thưa Bà, Bà là ai và Bà muốn gì nơi con?"- "Ta là Nữ Vương Rất
Thánh Mân Côi. Ta muốn người ta xây dựng nơi đây một nhà nguyện để kính
Ta. Con hãy tiếp tục lần hạt Mân Côi mỗi ngày. Nhân loại phải cải thiện
đời sống và ăn năn hối cải!" Khi nói đến những lời cuối cùng này, gương
mặt Bà Đẹp trở nên âu sầu buồn bã. Một cách thành khẩn và đầy chua
xót, Bà Đẹp đã thốt lên lời cuối cùng và đồng thời cũng sứ điệp trọng
đại cho loài người từ Fatima: "Nhân loại hãy đừng xúc phạm đến Thiên Chúa nữa. Người đã bị xúc phạm quá nhiều rồi!"
Ngay
trên đất Việt với một Giáo Hội non trẻ và và chịu nhiều đau
khổ vì những cuộc bách hại liên tiếp, Đức Mẹ cũng đã viếng
thăm cách đặc biệt. Tại Lavang năm 1798 và Trà Kiệu năm 1885. Mẹ
không để lại những nơi này sứ điệp thành văn nào, nhưng điều
Mẹ muốn nói cũng không kém rõ ràng và mạnh mẽ. Mẹ muốn nói
với con người rằng: bách hại Giáo Hội là một tội ác. Ngăn
cản con người tôn thờ Thiên Chúa là một điều bất công và trái
đạo lý làm người, xúc phạm đến Thiên Chúa.
Sau
biến cố Lavang 70 năm, người ta ghi lại một lời của Đức Mẹ
được truyền khẩu: "Mẹ đã nhậm lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ
ai chạy đến cầu Mẹ tại chốn nầy, Mẹ sẽ nhậm lời theo như ý nguyện". Còn
tại Trà Kiệu chẳng có lời nào của Đức Mẹ được ghi chép hay
truyền khẩu. Nhưng biến cố thì đã được một số người trong
cuộc ghi chép rõ ràng.
Sứ
điệp Đức Mẹ Trà Kiệu là một bức tranh không lời, không nói
nhưng lại diễn tả rất nhiều và rất mạnh mẽ. Bức tranh ấy là
hình ảnh một người mẹ gan dạ và can đảm, lấy thân xác mình
che chắn đỡ đạn cho đàn con, như một lời thơ đã được dệt thành
nhạc của một người con Đức Mẹ Trà Kiệu diễn tả lại theo sử
sách: “Một bà mặc áo
trắng tinh, đứng cao trên đỉnh giáo đường, cản ngăn trăm nghìn
đạn pháo, để đàn con cái bình an”.
Những
lời được ghi trên Đền Thánh Bửu Châu hay tại tiền đường Nhà
thờ Trà Kiệu hôm nay: “Các con chớ lo. Này Mẹ con đây!”, không
phải là sứ điệp trực tiếp từ môi miệng của Mẹ, nhưng là từ
tấm lòng của Mẹ. Lời ấy luôn được thốt lên trên cửa miệng của
mọi người mẹ khi yêu thương chăm sóc con cái mình, nhất là khi
con gặp nguy hiểm, thì Đức Mẹ là Mẹ Hội Thánh, là Mẹ của
mỗi chúng ta với tình mẫu tử thiêng liêng dạt dào, chắc chắn Mẹ luôn muốn nói với chúng ta những lời chứa chan ân tình ấy: “ Các con chớ lo. Này Mẹ con đây!”
Vì
thế, dầu Đức Mẹ không để lại sứ điệp đặc biệt nào ở Trà
Kiệu, nhưng chính diễn tiến của biến cố Trà Kiệu năm xưa đã
được cẩn thận ghi chép lại, cho phép chúng ta hiểu được phần
nào Thánh Ý Thiên Chúa và tấm lòng của Đức Mẹ muốn diễn tả
với con người chúng ta hôm nay, không phải chỉ cho người Công
giáo.
1. Sứ điệp về tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa : Những
nơi khác, Mẹ đã khẩn thiết yêu cầu phải làm điều này, điều
nọ… Tại Trà Kiệu, hoàn toàn không. Không có yêu cầu nào được
đưa ra để được cứu giúp. Cha con xứ đạo Trà Kiệu chỉ tổ chức
phòng vệ gọi là, phần lớn đều sợ hãi chạy đến nhà thờ để
cùng sống cùng chết với nhau, để dọn mình chết lành trước sự
tấn công trực tiếp và hung hãn của những người bách hại. Mẹ
đã đến, đã hành động cách mạnh mẽ và hiệu quả mà con cái
Mẹ chẳng hề hay biết…
2. Sứ điệp hòa giải: Mẹ
không dùng quyền năng Thiên Chúa để tiêu diệt những người chống
phá Giáo Hội. Mẹ cũng không trang bị cho con cái Mẹ vũ khí
để chiến đấu, không ban lương thực khi họ bị bao vây kinh tế…
Nhưng Mẹ trang bị cho họ sức mạnh của niềm tin, của lòng nhẫn
nhục, của sự tha thứ để dành chiến thắng sau cùng. Sứ điệp
không lời của Mẹ là: Hãy hạ khí giới xuống. Thôi đừng chém
giết nhau nữa. Vũ khí Mẹ dùng chính là đôi cánh tay từ mẫu
dang ra để che chắn đạn pháo bảo vệ đàn con, và khoác tay ra
lệnh cho những kẻ tấn công thôi đừng nhả đạn nữa... Vũ khí
của Mẹ là hàng rào cơ binh các thiên thần đồng nhi đơn sơ vô
tội nhởn nhơ trước mũi súng làm nản lòng những ai muốn ra tay
sát hại người vô tội… Mẹ muốn mọi người giải hòa với nhau.
Mẹ muốn mọi người kính trọng nhau, yêu thương xích lại gần
nhau.
3. Sứ điệp về lòng yêu mến Giáo Hội: Mẹ
bảo vệ Giáo Hội của Chúa Giêsu Con Mẹ. Mẹ đã đứng cao trên
nóc giáo đường để cho binh lính nhắm bắn vào Mẹ, thay vì bắn
vào đàn con đang ẩn nấp
trong lòng giáo đường, tượng trưng cho Giáo Hội. Sứ điệp không
chỉ mời gọi các chính quyền dân sự không được bách hại tôn
giáo, nhưng còn là lời mời gọi con cái Mẹ trong Giáo Hội đừng
bắn phá lẫn nhau. Sứ điệp Mẹ Trà Kiệu trở nên tha thiết hơn
đối với Giáo Hội Việt nam chúng ta hôm nay, khi nhiều người đang
dùng vũ khí truyền thông để bắn phá Giáo Hội, tấn công hàng
Giáo phẩm. Đau lòng hơn nữa, khi người ta còn dùng cả danh xưng
của Mẹ để chống lại Giáo Hội của Con Mẹ. Không! Không! Mẹ
không bao giờ làm thế! Mẹ một lòng yêu mến Giáo Hội, Thân Thể
Mầu Nhiệm của Con Mình. Dù tấm thân đó rướm máu vì đòn
vọt, có lạnh lùng như cái xác không hồn… Mẹ vẫn tin yêu, vẫn
ôm ấp, vẫn đợi chờ, vẫn hy vọng.
4. Sứ điệp truyền giáo: Tại
Trà Kiệu, Đức Mẹ đã không hiện ra với những vị thánh hay với
các tín hữu, nhưng chính những người anh em lương dân lại nhìn
thấy Đức Mẹ. Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu, nhưng Đức Mẹ cũng
bảo vệ những binh lính lương dân vô tội không cho họ vấy máu
những người giáo dân vô tội. Trà Kiệu được bảo vệ cách đặc
biệt để được bình an qua cơn bách hại, chứ không phải nhờ vũ
lực mà dành chiến thắng để gây thù chuốt oán. Trà Kiệu không
phải sợ hãi để tiếp tục cửa đóng then cài, nhưng đã mở ra
với xã hội, với đồng bào của mình qua việc được chọn làm
Trung Tâm Thánh Mẫu, làm nơi gặp gỡ đón tiếp mọi người lương
giáo, tiếp tục làm cho sứ điệp yêu thương của Đức Mẹ mãi mãi
được vang vọng nơi đây, qua cộng đồng giáo xứ, giáo phận này,
và những đoàn hành hương mỗi ngày thêm đông đảo. Người Công
giáo chúng ta nhờ Mẹ đến với Chúa, thì anh em lương dân của
chúng ta cũng thế. Hãy đưa họ đến với Mẹ.
5. Sứ điệp về gia đình: Những
người làm cha làm mẹ gia đình hôm nay hãy học gương Đức Mẹ
trong gia đình Giáo Hội, để lo cho gia đình riêng của mình, như
một Giáo Hội thu nhỏ. Giáo Hội dù lớn dù nhỏ của Chúa không
bao giờ thiếu những thử thách gian nan. Đừng tưởng rằng những
cuộc bách hại đẩm máu đã lui vào quá khứ, vì cơn bách hại
hôm nay rất tinh vi và đầy nguy hiểm. Người ta tìm cách chống
lại ảnh hưởng của Kitô giáo bằng các trào lưu tục hóa, lối
sống ích kỷ hưởng thụ, bất công xã hội tràn lan, luân lý suy
đồi, nhân phẩm bị hạ nhục, sự sống bị khinh rẽ… Đây mới thật
là những nguy hiểm chết người, nếu chúng ta không biết ngăn
ngừa và bảo vệ những giá trị Kitô giáo nơi những người trẻ
trong gia đình, trong cộng đoàn mình, là thành phần dễ bị lây
nhiễm nhất.
Hình
ảnh Đức Maria trên đỉnh Giáo đường còn là một lời mời gọi
cho các mục tử là những người có trách nhiệm trong các gia
đình lớn nhỏ của Giáo Hội Chúa. Hãy yêu thương và chăm lo cho
Giáo Hội bằng lòng nhiệt thành can đảm để hoàn thiện các
nhiệm vụ thiêng liêng và trần thế của mình, nhất là những lúc
đàn chiên gặp thử thách gian nguy và bị lôi cuốn theo những
trào lưu thế tục, quên mất con đường nên thánh và ơn gọi sống
chứng nhân giữa đời.
Kính thưa Cộng đoàn,
Họp
nhau mừng lễ Mẹ Trà Kiệu hôm nay, chắc chắn mỗi người chúng
ta đều ước muốn làm đẹp lòng Mẹ, thậm chí muốn được Mẹ hiện
ra với mình, thăm viếng gia đình mình. Đức Mẹ cũng rất muốn
điều đó, nên đây không chỉ là một ước muốn đơn thuần nữa, mỗi
người chúng ta hãy biết đem Mẹ về nhà mình như Thánh Gioan Tông
Đồ xưa, để cùng với Mẹ thăm viếng phục vụ những người chung
quanh, cùng Mẹ tích cực xây dựng Giáo Hội Chúa Giêsu tại thế,
dấu chỉ của một Vương Quốc An Bình Thánh Thiện đang mỗi ngày
một đến gần.
Lạy Đức Mẹ Trà Kiệu – Xin cầu cho chúng con. Amen.
***********
Bài chia sẻ Tin Mừng của Đức Tổng Giám mục Phó TGP Hà Nội
2010-05-11 16:17:37
|
|
Bài chia sẻ Tin Mừng của Đức Tổng Giám mục Phó TGP Hà Nội
Phêrô Nguyễn Văn Nhơn ngày 07-05-2010
Nguồn: WHĐ
Phêrô Nguyễn Văn Nhơn ngày 07-05-2010
Nguồn: WHĐ
Anh
chị em thân mến, tôi quả thực rất băn khoăn không biết phải nói gì, nói
như thế nào với anh chị em trong giây phút đặc biệt này. Và tôi cũng
đoán chắc anh chị em cũng rất chờ đợi ở những lời đầu tiên của tôi,
trong tư cách là người cộng tác với Đức Tổng Giám mục Giuse trong trách
vụ mục tử.
Thế
nhưng Lời Chúa hôm nay trích từ sách Công vụ và Tin Mừng Gioan mà
chúng ta vừa nghe quả là lời giải đáp cho tất cả chúng ta. Thật vậy, Lời
Chúa vừa giúp tôi biết phải nói gì với anh chị em, vừa có thể giúp anh
chị em hiểu cách sâu xa nhất tâm tình của tôi lúc này.
Trước
hết, sách Công vụ kể cho chúng ta về một tình thế khó khăn, căng thẳng
trong Giáo Hội sơ khai, xoay quanh việc có nên cắt bì hay không cho
những người gốc dân ngoại trở lại. Thực tế đó là cuộc khủng hoảng trầm
trọng đe dọa đến sự hiệp nhất của Hội Thánh, nhưng đàng khác có thể nói
là một cơ may để Giáo Hội minh định rõ hơn niềm tin của mình, ngay cả
với Do Thái Giáo. Dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần, Hội Thánh thời bấy
giờ đã mạnh dạn công bố: Ơn cứu độ hệ tại ở niềm tin vào Đức Kitô chứ
không hệ tại ở việc cắt bì hay không cắt bì. Và để thông truyền sứ điệp
Tin Mừng đó mà các Tông Đồ, các kỳ mục cùng với toàn thể Hội Thánh lúc
bấy giờ đã quyết định chọn Phaolô và Barnaba, Giuđa và Xila đi Antiokia.
Như
anh chị em thấy, khi được Thánh Thần và Giáo Hội cắt đặt, Phaolô và
Barnaba đã vui mừng đi đến Antiokia và thực hiện những gì được ủy thác.
Hành trang của các ngài là sứ điệp Tin Mừng và Tin Mừng đó không loại
trừ một ai, dù là Do Thái hay Hy Lạp, cắt bì hay không cắt bì, dù là nô
lệ hay tự do. Nói khác đi, Tin Mừng các Tông Đồ mang theo là Tin Mừng có
sức giải thoát, đồng thời góp phần xây dựng sự hiệp nhất trong lòng Hội
Thánh.
Hơn nữa, Phaolô và Barnaba được giới thiệu không phải bằng một danh hiệu hay điều gì khác hơn là “những người đã cống hiến cuộc đời vì Danh Đức Giêsu”.
Và như chúng ta đều biết, sau này trong các lá thư của Ngài, thánh
Phaolô cho thấy đối với Ngài, không có danh hiệu nào cao cả hơn, đáng
quí hơn là danh hiệu “tôi tớ của Đức Kitô”.
Được biết đức Kitô, được phục vụ cho Đức Kitô, được chia sẻ đau khổ của
Đức Kitô nơi tất cả chi thể của Người thì hơn tất cả.
Chúng
ta có thể tự hỏi: Tại sao danh hiệu “tôi tớ của Đức Kitô” là cao cả,
đáng quí đến mức như thế? Tại sao thánh Phêrô, thánh Phaolô cũng như các
Tông Đồ khác đều coi việc phục vụ cho Đức Kitô như là điều đáng kể nhất
đối với cuộc đời mình, trong khi các Ngài có đủ lý do để hãnh diện, để
xưng mình bằng nhiều danh hiệu cao trọng hơn?
Thánh Gioan, trong đoạn Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe, cho chúng ta câu trả lời rất đơn giản mà vô cùng thấm thía: “Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em… Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ mà là bạn hữu”.
Tôi nghĩ, danh hiệu “tôi tớ của Đức Kitô” thực ra mang nặng kinh
nghiệm của các Tông Đồ về lòng mến của Đức Giêsu dành cho các ngài. Thật
vậy, các Tông Đồ như Phêrô, như Phaolô là những người hiểu rõ hơn ai
hết sự bất xứng của mình, và cũng nhờ kinh nghiệm về sự bất xứng đó mà
các Ngài thấm thía thế nào là Tình Yêu của Thiên Chúa, thế nào là niềm
hạnh phúc được trở nên bạn hữu của Chúa và đâu là sứ mạng mà Chúa muốn
họ thực hiện. “Anh em là bạn hữu của
Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy… (và) Điều Thầy
truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau”. Như thế, sứ mạng của
các Tông Đồ và cũng là kỳ vọng sâu xa nhất của Chúa đặt nơi họ, đó là
rao truyền tình yêu của Thiên Chúa qua chính đời sống yêu thương, hiệp
nhất với nhau. “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em yêu thương nhau”.
Anh
chị em rất thân mến, tôi đến với anh chị em không mang theo tâm tình
hay hành trang nào khác ngoài sứ điệp của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, và
điều tôi mong muốn được phục vụ anh chị em cũng không gì khác hơn là
điều mà Phaolô và Barnaba đem lại cho các Kitô hữu ở Antiôkia, theo sự
ủy thác của “Thánh Thần và Hội Thánh”, đó là Tình Yêu Cứu Độ của Thiên
Chúa dành cho mọi con người, một tình yêu phá bỏ mọi khoảng cách và tạo
nên sự hiệp nhất trong Hội Thánh cũng như trong cộng đồng nhân loại.
Cho
dù Hội Thánh có nhiều chức vụ khác nhau, nhiều đặc sủng khác nhau,
nhiều hoạt động khác nhau, nhưng tất cả đều là để phục vụ cho Tình Yêu
Cứu Độ của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Ước gì tất cả chúng ta trong Tổng
giáo phận Hà Nội thân yêu này dám tin rằng, chỉ có Tình Yêu là đáng kể,
và chớ gì sự hiệp nhất của tất cả chúng ta, các kitô hữu, sẽ là dấu chỉ
khả tín cho Tin Mừng Cứu Độ của Đức Giêsu Kitô trong cuộc sống hôm
nay. ■
TGM Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
***********
Cần ý thức chiều kích mầu nhiệm của Giáo Hội
2010-04-26 12:37:07
|
|
“Cần ý thức chiều kích mầu nhiệm của Giáo Hội”
Bài giảng của Đức cha Giuse Nguyễn Năng,
hành hương Năm Thánh Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà (22-4-2010)
Trong
mùa Phục Sinh, các bài đọc Lời Chúa thuật lại sinh hoạt của Giáo Hội sơ
khai, chủ yếu là việc loan báo Tin Mừng. Nhờ quyền năng Thánh Thần, Tin
Mừng về Đức Kitô Phục Sinh lan rộng rất nhanh.
Thật
ra, công cuộc loan báo Tin Mừng không hề dễ dàng thuận lợi. Ngay từ
đầu, các tông đồ đã gặp phải những khó khăn cản trở, thậm chí bị bách
hại trăm chiều. Nhưng dù gặp thử thách, Tin Mừng vẫn ngày càng lan rộng
khắp nơi. Bài đọc I hôm nay kể lại việc phó tế Philipphê đã làm phép rửa
cho quan thái giám nước Ethiopie. Không phải bỗng dưng Philipphê có mặt
ở miền này. Ngài đến đó vì tại Giêrusalem xảy ra cuộc bách hại Giáo
Hội, nên mọi người phải chạy trốn tản mác về quê. Nhưng các môn đệ đi
đến đâu thì Lời Chúa lại được loan truyền đến đó, và dân chúng vui mừng
đón nhận Phúc Âm.
Có
một điều lạ lùng khó lý giải, đó là sau mỗi lần gặp khó khăn, Tin Mừng
lại gặt hái được những thành quả lớn lao. Nếu chỉ dùng lý lẽ tự nhiên,
chúng ta không thể nào giải thích được những thành quả của công cuộc
loan báo Tin Mừng, không thể hiểu được tại sao trong suốt lịch sử 2000
năm của Giáo Hội toàn cầu cũng như trong lịch sử của từng Giáo Hội địa
phương, các môn đệ của Đức Kitô luôn gặp những khó khăn bách hại, thế mà
Giáo Hội vẫn đứng vững, hơn nữa, vẫn không ngừng phát triển. Giáo Hội
được xây dựng không phải chỉ bằng những việc chúng ta làm, mà còn bằng
những đau khổ chúng ta phải chịu.
Đó
chính là bí mật của lịch sử cứu độ. Con người chỉ thấy được phần nổi là
những biến cố xảy ra trước mắt, còn phần chìm bên trong, chúng ta không
thấy. Tuy nhiên, đối với các Kitô hữu, chúng ta biết rằng Chúa Thánh
Thần ở với Giáo Hội và không ngừng hoạt động trong Giáo Hội. Phần chìm
bên trong là quyền năng của Chúa Thánh Thần, chúng ta không thấy; nhưng
dù không thấy, tác động của Chúa Thánh Thần là có thực và rất mạnh mẽ.
Công đồng Vatican II trích lời thánh Augustinô: “Giáo Hội lữ hành giữa cơn bách hại của thế gian và trong niềm an ủi của Thiên Chúa”, và còn thêm: “Giáo
Hội vững mạnh nhờ thần lực của Chúa phục sinh, để toàn thắng các khó
khăn và sầu muộn từ bên trong cũng như bên ngoài bằng yêu thương và kiên
trì, và trung thành mạc khải cho thế gian mầu nhiệm của Chúa còn giấu
trong bóng tối, cho đến khi được phô bày dưới ánh sáng vẹn toàn trong
ngày sau hết” (LG 8).
Nhân
dịp mừng Năm Thánh 80 năm Dòng Chúa Cứu Thế hiện diện tại Thái Hà, khi
nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta cũng nhận ra sự hiện diện đầy
quyền năng của Đức Kitô Phục Sinh qua các biến cố, từ ngày khởi đầu cho
tới hôm nay. Hành trình của các linh mục và tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế hiện
diện và làm chứng cho Tin Mừng tại đây cũng đã phải trải qua những
thăng trầm, khó khăn và gian khổ như hành trình của hạt lúa gieo vào
lòng đất. Theo tôn chỉ và đặc sủng của mình, Dòng Chúa Cứu Thế đã hiện
diện bên cạnh người nghèo và bé mọn trong xã hội, cùng chia sẻ nỗi niềm
và ưu tư của họ, cùng với họ dấn thân hoạt động cho công bằng và chân
lý.
Không
phải lúc nào những hoạt động của Hội dòng cũng thành công, trái lại,
không ít lần đã gặp trở ngại và chịu sức tấn công của quyền lực sự dữ.
Tuy nhiên đức tin Kitô giáo mời gọi chúng ta không chỉ dừng lại ở phần
nổi của các biến cố, nhưng biết nhận ra hoạt động vô hình của Chúa Thánh
Thần trong lịch sử. Những điều hôm nay xem ra là thất bại, nhưng nếu
được thực hiện theo đường lối của Chúa, thì chắc chắn một ngày nào đó,
sẽ đem lại những thành quả lớn lao. Như lời Công đồng Vatican II dạy,
Giáo Hội cần biết kiên trì và biểu lộ tình thương, biết tin tưởng vào
Đức Kitô Phục Sinh. Người Kitô hữu nhiệt thành dấn thân cho sứ vụ Phúc
Âm hoá, nhưng đồng thời cũng biết kiên trì chờ đợi Chúa hành động và
chấp nhận thời gian cần thiết để lịch sử chín mùi.
Tin
Mừng không biến đổi trần gian theo kiểu cách mạng xã hội, nhưng thầm
lặng và tiệm tiến như men ủ trong bột đợi ngày cả rá bột dậy men. Điều
chúng ta mong đợi không phải chỉ là những thành quả trước mắt, mà là
loan báo Tin Mừng của Chúa, một Tin Mừng có khả năng biến đổi toàn diện
con người và xã hội. Trong huấn từ ngỏ lời với các giám mục Việt Nam dịp
Ad Limina 2009, ĐTC Bênêđictô XVI nói: “Khi
cống hiến nét đặc thù của mình là loan báo Tin Mừng của Đức Kitô, Giáo
Hội đóng góp vào việc phát triển nhân bản và thiêng liêng của con người,
và đồng thời cũng đóng góp vào sự phát triển đất nước”.
Như
vậy, chúng ta cần ý thức chiều kích mầu nhiệm của Giáo Hội. Điều này là
một trong ba trục của chương trình Năm Thánh 2010 của Giáo Hội Việt Nam:
Giáo Hội mầu nhiệm-hiệp thông-sứ vụ. Mầu nhiệm không có nghĩa là bí
mật, khó hiểu. Tính cách mầu nhiệm của Giáo Hội được Công đồng Vatican
II diễn tả như sau: “Giáo Hội vừa có
yếu tố nhân loại vừa có yếu tố thần linh; vừa là một tổ chức xã hội có
phẩm trật, vừa là Nhiệm Thể Chúa Kitô; là đoàn thể hữu hình, đồng thời
cũng là cộng đoàn thiêng liêng; là Giáo Hội tại thế nhưng lại dư tràn
của cải thiêng liêng trên trời”.
Rất
nhiều khi người ta chỉ quan niệm Giáo Hội như là một tổ chức xã hội của
những người có cùng một niềm tin, mà quên rằng Giáo Hội còn là Thân Thể
Đức Kitô và là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần. Rất nhiều khi các tín hữu
chỉ quan tâm tới phần nổi hữu hình mà quên mất phần chìm vô hình của
Giáo Hội. Và cũng rất nhiều khi chúng ta chỉ quan tâm tới khía cạnh nhân
loại của Giáo Hội mà quên mất khía cạnh thần linh.
Chúng
ta khiêm tốn nhìn nhận mình chỉ là những con người với khả năng giới
hạn, thậm chí là những tội nhân bất xứng. Dù là giáo hoàng, giám mục,
linh mục, tu sĩ, giáo dân, tất cả chúng ta là những con người hèn mọn.
Mới đây, các trang tin điện tử tung lên mạng tấm hình Đức Giáo hoàng
đang ngủ gật trong một nghi lễ phụng vụ cử hành tại Malta.
Thực ra điều ấy cũng chỉ là bình thường. Giáo Hội là như vậy, Giáo Hội
là những con người tài hèn sức mọn. Chúng ta làm những điều mình xét là
tốt nhất trong hiện tại, chúng ta xây dựng Giáo Hội và làm chứng về Chúa
với tất cả khả năng nhỏ bé của mình. Nhưng đồng thời chúng ta cũng biết
rằng mình chỉ là những đầy tớ bất xứng, chúng ta làm những điều phải
làm. Phaolô trồng, Apollo tưới, nhưng chính Chúa mới là Đấng làm cho mọc
lên. Chúng ta tin rằng Đức Kitô Phục Sinh vẫn luôn hoạt động trong Giáo
Hội bằng Thần Khí của Người. Bất chấp mọi khó khăn nghịch cảnh từ bên
ngoài cũng như từ trong nội bộ, Giáo Hội vẫn lớn lên và tiến bước vững
vàng. Điều quan trọng là chúng ta thực hiện thánh ý Chúa và luôn sống
trong đức ái và chân lý.
Vì
thế chúng ta hãy cùng với Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà dâng lời tạ ơn
Chúa. Kinh Thánh thường nhắc nhở con người đừng quên lãng những kỳ công
của Chúa. Khi nhận ra những hồng ân của Chúa trong quá khứ, chúng ta tin
tưởng tiến bước vào tương lai. Đồng thời hồng ân của Chúa cũng chính là
tiếng gọi thúc bách tiếp tục dấn thân cho sứ mệnh phục vụ sự sống và
tình thương.
Xin
cầu chúc cho sứ mạng loan báo Tin Mừng của Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà,
sau những gian truân thử thách, sẽ gặt hái được mùa lúa bội thu với
những thành quả to lớn vượt quá mọi ước mơ.
Gm Giuse Nguyễn Năng
************
Bài giảng Lễ Dầu của Đức Cha Giuse, GM Đà Nẵng.
2010-04-02 23:11:57
|
|
Bài giảng THÁNH LỄ TRUYỀN DẦU
Năm Linh Mục – Năm Thánh 2010
“Trăm Con Mắt Đều Đổ Dồn Về Phía Người”
( Lc 4,20b)
Kính thưa Cộng đoàn Phụng vụ.
Hôm
nay, Thứ Năm Tuần Thánh, được coi là Sinh Nhật của Chức Linh mục. Hơn
nữa, Năm Linh Mục đang được sốt sắng cử hành trong toàn Giáo Hội như một
lời mời gọi tha thiết hướng về các linh mục. Trong suốt năm qua, rộn
ràng với bao nhiêu diễn từ về chức linh mục, hoành tráng với những cuộc
hội ngộ linh mục đông đảo khắp nơi, thánh thiêng với những câu ca lời
kinh hướng về chức linh mục. Hình ảnh Cha
Sở Xứ Ars: Gioan Maria Vianey, quan thầy các linh mục, như một tượng
đài sừng sững. Bên cạnh đó, còn biết bao chân dung linh mục Việt Nam như
muốn được phong thánh, từ các giáo phận chọn lọc và gửi đăng trên các
websites Công giáo tiếng Việt, kể cả trang của giáo phận nhà. Những hình
ảnh linh mục như ánh sao lung linh ngời sáng trên bầu trời Giáo Hội.
Nhưng
thời điểm Tuần Thánh và Lễ Dầu năm nay cũng rơi vào giữa một cơn khủng
hoảng thật nặng nề và u ám, một cơn khủng hoảng thật sự trong Giáo Hội,
là hệ lụy trực tiếp của những linh mục đã và đang hư hỏng đó đây, ngay
giữa lòng Giáo Hội, như tình trạng lạm dụng tình dục trẻ em ở một số
nơi... Các báo cáo gửi về tới
tấp... Đức Giáo Hoàng đã quá khổ tâm và nhìn nhận rằng những vụ bê bối
này “thật đáng căm ghét và đáng hổ thẹn”... Rồi những thực trạng khác
chưa rơi vào khủng hoảng nhưng thực đáng quan tâm, khi không thiếu những
linh mục anh em chúng ta thường xuyên bê trễ nhiệm vụ linh thánh, không
biết giữ mình trước những thú vui, hơn thua đố kỵ với nhau hoặc đối với
cả giáo dân được trao phó cho mình chăm sóc… Bên cạnh hình ảnh những
linh mục lung linh ngời sáng là những mảnh đời linh mục tối tăm và gây
thất vọng đau lòng.
Các
vụ việc lớn nhỏ đang làm rúng động Giáo Hội trong những ngày này không
phải hoàn toàn là những vụ việc mới. Nỗi khổ tâm của Đức Giáo Hoàng cũng
không phải là chưa từng. Vì thế, chúng ta có lý do để quyết đoán rằng
Năm Thánh Linh Mục này được cử hành không duy chỉ vì để kỷ niệm 150 năm
ngày Cha Sở Xứ Ars qua đời, mà chính yếu hơn, Đức Thánh Cha muốn nhân cơ
hội này thúc đẩy một sự chấn chỉnh triệt để đời sống linh mục trong
toàn Giáo Hội.
Tôi
có quá bi quan không khi đề cập đến những bấn đề tiêu cực này trong
ngày vui của cộng đoàn hướng về chức linh mục?! Thưa hoàn toàn không!
Linh mục luôn là một ơn gọi và sứ vụ cao cả và cần thiết không có gì so
sánh bằng, không có gì thay thế được.
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay, cũng như các kinh nguyện trong ngày Lễ Dầu đều tập trung vào chức Linh Mục như “ Người Được Xức Dầu Thánh Thần”.
Chúa Giêsu trong những ngày đầu xuất hiện công khai, khi được mời đọc
và giảng giải sách thánh trong hội đường Nadarét, quê hương mình, đã gặp
lời của Tiên tri Isaia nói trước về sứ vụ của mình: “Thánh Thần Chúa
ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi. Người đã sai tôi đem
Tin Mừng cho người nghèo khó, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố
lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm…”. Chúng ta có thể tưởng tượng tâm
tình của Chúa Giêsu lúc này: lòng đầy xác tín và trào dâng xúc cảm sau
ba mươi năm âm thầm chờ đợi được công khai thi hành sứ vụ. Nước mắt Ngài
rưng rưng khi thấy “hằng trăm con mắt đổ dồn về phía mình”. Nhìn
mình chăm chăm. “Trăm con mắt đổ dồn về Người,” nghĩa là chờ đợi Người,
mong mỏi, hy vọng nơi Người một điều gì đó. Trăm con mắt đổ dồn về
Người, thì dù muốn hay không, Người cũng đang là trung tâm thu hút sự
chú ý, Người cũng đang là ‘ngôi sao’, là ‘VIP’, là người của công
chúng... Và Chúa Giêsu đã nói gì, làm gì, để đáp lại những ánh mắt khắc
khoải mong chờ ấy của đám đông? Ngài nói: “Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh quí vị vừa nghe!”
Nghĩa là Chúa Giêsu muốn nói: chính tôi đây được xức dầu Thánh Thần,
chính tôi đây được Thiên Chúa sai đi, chính tôi đây là người loan báo
Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, chính tôi công bố sự tha thứ cho kẻ bị giam
cầm, chính tôi cho người mù sáng mắt, chính tôi trả tự do cho người bị
áp bức, và chính tôi công bố một năm hồng ân của Đức Chúa! Vâng! Chính
con người tôi đây, chính sự hiện diện của tôi giữa anh chị em đây, là
bảo đảm cho tất cả những điều ấy. Và ngay từ “hôm nay”, chứ anh chị em
không còn phải đợi đến mai mốt nào khác nữa! Và thực sự đã xảy ra như
thế. Chúa Giêsu, Linh Mục Thượng Phẩm, đã thực hiện điều đã ghi chép về
mình cách hoàn hảo.
Và
đó cũng là điều được kỳ vọng nơi từng con người linh mục! Là linh mục,
nghĩa là người luôn luôn có thể nói với công chúng rằng “Hôm
nay ứng nghiệm điều anh chị em vừa nghe: người đau ốm bệnh tật được
chữa trị, người tù tội được thứ tha, người nghèo được nghe Tin Mừng...” Còn Tin Mừng nào mừng hơn, còn Tin Vui nào vui hơn thế nữa!
Xin Cộng đoàn cho tôi có đôi lời cùng anh em linh mục thân mến của tôi trong ngày đặc biệt này.
Anh em linh mục thân mến,
Vì
Tin Mừng cần được tiếp tục rao giảng cho đến ngày tận thế. Dân Chúa cần
được dạy dỗ, thánh hoá và lãnh đạo. Chúa Giêsu đã thiết lập và truyền
chức linh mục cho các Thánh Tông đồ. Qua việc đặt tay của các Ngài và
những người kế vị, Chúa cũng đặt chúng ta lên chức linh mục. Nhưng đây
không phải là trao ban chức tước hay quyền bính, nhưng Chúa Giêsu trao
ban Thánh Thần của Ngài cho chúng ta, chuyển giao sứ vụ và cả những tâm
tình của Ngài cho chúng ta, để chúng ta nên những “Alter Christus”,
những Chúa Kitô-khác giữa Dân Ngài.
Mỗi khi xuất hiện giữa lòng Dân Chúa thi hành thánh vụ của mình, đừng quên chúng ta cũng là “Người Được Thánh Thần Xức Dầu và Sai Đi”.
Hằng trăm ánh mắt cũng đổ dồn về phía chúng ta. Không phải chỉ hằng
trăm con mắt, mà hằng trăm lỗ tai, trăm trái tim, cả trăm cánh tay vươn
về phía chúng ta, và hằng trăm cõi lòng đang mở về phía chúng ta như
đang mong chờ một điều gì đó. Chúng ta có thấy nước mắt rưng rưng ?!
Chúng ta có thấy tâm hồn thổn thức? Chúng ta có đủ xác tín và hãnh diện về sứ vụ của mình để thốt lên với mọi người rằng: “Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh tai quý vị vừa nghe”.
Ứng nghiệm gì? Chúa Giêsu đang hiện diện trong chúng ta. Trăm con mắt
đang nhìn về chúng ta để tìm bóng dáng Chúa Giêsu mục tử ở đó, từ ngày
chúng ta nhận thừa tác vụ linh mục.
Mỗi
linh mục chúng ta, dù ở lứa tuổi nào, cả tuổi già đã kém trí nhớ về
những chuyện khác, không ai quên được những cảm xúc và ấn tượng mạnh mẽ
trong ngày nhận sứ vụ linh mục. Chính vì thế, mỗi năm trong Thánh Lễ
Truyền Dầu, Giáo Hội mời gọi các linh mục sốt sắng lặp lại lời tuyên hứa
ngày nhận chức linh mục, xác tín lại sứ vụ cao quý của mình, làm sống
lại những cảm xúc nóng bỏng ngày ấy, cũng như hâm nóng lại “lòng mến
thuở ban đầu “ trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh.
Chúng ta hãy dành ít phút để khơi lại những tâm tình mà chắc chắn mỗi người chúng ta đã trải qua trong ngày định mệnh đó.
Khi xức dầu thánh vào lòng bàn tay chúng ta, giám mục trịnh trọng cầu xin:
“
XIN CHÚA GIÊSU KITÔ, ĐẤNG MÀ CHÚA CHA ĐÃ XỨC DẦU BẰNG THÁNH THẦN VÀ SỨC
MẠNH, GÌN GIỮ CON, ĐỂ CON THÁNH HOÁ DÂN KITÔ GIÁO VÀ HIẾN DÂNG HY LỄ
LÊN THIÊN CHÚA”.
Khi trao bánh rượu trong chén đĩa cho chúng ta, giám mục dõng dạc tuyên bố:
“CON
HÃY NHẬN LỄ VẬT CỦA DÂN THÁNH MÀ DÂNG LÊN THIÊN CHÚA. CON HÃY Ý THỨC
VIỆC CON LÀM, NOI THEO ĐIỀU CON THỰC HIỆN, VÀ RẬP ĐỜI SỐNG CON THEO
KHUÔN MẪU MẦU NHIỆM THÁNH GIÁ CHÚA”.
Trước
đó một thời gian, trong nghi thức phong chức Phó tế, khi trao sách
thánh cho mỗi tân chức chúng ta, Giám mục ân cần nhắc nhở:
“CON
HÃY NHẬN LẤY PHÚC ÂM ĐỨC KITÔ MÀ CON ĐÃ TRỞ THÀNH NGƯỜI RAO GIẢNG, VÀ
CON HÃY BIẾT LÀ PHẢI TIN ĐIỀU CON ĐỌC, DẠY ĐIỀU CON TIN VÀ THI HÀNH ĐIỀU
CON DẠY”.
Vâng,
thưa Anh Em Linh Mục, đây không phải chỉ là nghi thức. Đây chính là
những lời chuyển giao tâm huyết. Những lời này không phải chỉ trao cho
chúng ta một lần trong đời, nhưng phải là những tâm niệm và qui luật
sống, những câu “thần chú” ngày ngày chúng ta phải lặp đi lặp lại trong
suốt đời linh mục của chúng ta, để nuôi dưỡng sứ vụ, ơn gọi và tâm tình
linh mục của chúng ta. Giáo Hội, khi trao ban cho chúng ta một sứ vụ,
cũng mở ra cho chúng ta cả một chân trời mênh mông, một cánh đồng bát
ngát, đòi hỏi chúng ta cả một tấm lòng, và phải dành cả một đời người để
thực hiện.
Tôi
nói nhiều đến tấm lòng hay tâm tình mục tử. Vì chu toàn công việc được
giao phó, khó mà không khó; nhưng để tâm, để trí để cả tấm lòng vào công
việc, ấy mới là vấn đề, và công việc của chúng ta mới trở thành mục vụ,
mới có niềm vui mục vụ, mới có đức ái mục vụ. Thi hành mục vụ không chỉ
là chăm chăm chú chú vào luật lệ hay lề thói một cách khô khan máy móc,
nhưng phải thâm nhập vào môi trường mục vụ, nắm bắt nhu cầu mục vụ, và
từ đó, nảy sinh sáng kiến mục vụ.
Anh Em Linh Mục thân mến, chúng ta cùng hân hoan mạnh dạn tiếp tục hành trình đời linh mục thánh thiện và cao quý của mình.
Phần
tôi, với tư cách là giám mục giáo phận, người anh em, người đồng hành
đồng nghiệp với anh em, tôi xin hứa, sẽ sát cánh với anh em trong việc
chăm sóc và dẫn dắt cách tốt đẹp và hiệu quả nhất đàn chiên đã được trao
phó cho anh em trong từng xứ đạo gần xa, từng sứ vụ lớn nhỏ. Xin anh em
đừng quên quan tâm nâng đỡ hỗ trợ tôi trong sứ vụ, thánh chức cũng như
thánh thẩm. Và trên hết, hãy hiệp nhất với nhau trong cùng một lời
nguyện, và cả những ước mơ cho ngôi nhà chung của Giáo phận. Xin cám ơn
anh em về tất cả.
Đối
với đàn dân đã được giao phó cho anh em, hãy thật lòng yêu thương họ.
Khi họ dễ bảo cũng như khi họ bướng bỉnh. Chúng ta được sai đi rao giảng
Tin Mừng cho người nghèo hèn, nhưng còn biết cách làm cho họ sống hạnh
phúc hơn. Được sai đi băng bó những tâm hồn tan nát, nhưng cũng phải
biết khơi dậy niềm hy vọng nơi đáy lòng họ hướng về tương lai. Được sai
đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được phóng thích, nhưng cũng phải
biết dạy cho họ ăn ngay ở lành. Báo cho người mù biết họ được sáng mắt,
nhưng cũng cho họ biết cách giữ gìn đôi mắt cho khỏi bị mù lòa. Trả tự
do cho người bị áp bức, nhưng cũng ngăn cản họ đừng áp bức ai. Công bố
năm hồng ân của Chúa, nhưng cũng giúp họ biết đón nhận và san sẻ hồng ân
cho mọi người.
Cùng Cộng đoàn Dân Chúa trong Giáo phận, cách riêng là Quý Chức, những người thân cận của hàng linh mục chúng tôi.
Là
mục tử của Dân Chúa, chúng tôi có trách nhiệm với anh chị em, tất cả và
từng người. Nhưng cả anh chị em nữa, anh chị em cũng có trách nhiệm đối
với chúng tôi, nhất là các linh mục đang phục vụ tại xứ đạo của anh chị
em. Trong chức Tư Tế Cộng Đồng, anh chị em cũng đã được xức dầu và cũng
được sai đi. Anh chị em cũng phải quyết tâm chu toàn nhiệm vụ cao quý
của mình trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội. Anh chị em cũng có
mỗi người một phần vụ trong đời sống Giáo Hội, để cùng chúng tôi lao
nhọc trong cánh đồng mục vụ truyền giáo bao la và thúc bách.
Cách
riêng, đối với các linh mục đang phục vụ trực tiếp tại các giáo xứ. Tôi
xin anh chị em hãy cư xử với các Ngài trong tình con thảo. Anh em không
phải là tôi tớ, nhưng là bạn hữu. Hãy là những người đồng trách nhiệm
với các Ngài trong việc xây dựng Cộng đoàn. Hãy rộng lượng bù đắp cho
những gì còn thiếu sót nơi các Ngài, và đừng đòi hỏi các Ngài những gì
vượt quá khả năng. Hãy nâng đỡ động viên các Ngài khi quá mệt mỏi, nhất
là lúc yếu đau bệnh hoạn, tinh thần hay thể chất.Và trên hết, đừng bao
giờ quên cầu nguyện cho các Ngài và cho hàng linh mục, giám mục chúng
tôi nói chung.
Tôi
có thói quen trong tòa giải tội, nếu hối nhân ra về với lời đề nghị:
xin cha cầu nguyện cho con; thì tôi tận dụng ngay cơ hội: xin cầu nguyện
cho cha nữa. Tôi biết, có nhiều người ngạc nhiên. Nhưng thực ra, chẳng
có gì đáng ngạc nhiên cả. Đây là bổn phận của anh chị em, là lẽ công
bằng!
Chúng
ta cũng đừng quên sự hiện diện âm thầm của hai Đức Cha già, các Cha hưu
dưỡng, đừng để các Ngài cảm thấy quá cô đơn hay bị bỏ rơi. Chúng ta
mang ơn các Ngài rất nhiều. Chúng ta cũng hãy cầu nguyện cách riêng cho
những anh em vắng mặt hôm nay vì bận công vụ, đi học xa hay bệnh hoạn. Xin Chúa thương nâng đỡ các Ngài.
Tôi
cũng không quên bày tỏ tâm tình với các tu sĩ nam nữ, những phần chi
thể đặc biệt, làm phong phú và thêm xinh đẹp cho Nhiệm Thể Giáo Hội. Tôi
trân trọng ghi nhận và biết ơn những hy sinh cống hiến của anh chị em
cho Thiên Chúa và Giáo phận. Tôi mong ước được thấy anh chị em luôn sát
cánh với chúng tôi và với nhau trên cánh đồng mục vụ truyền giáo của
Giáo phận, miền xuôi cũng như miền ngược. Chúng ta có chung một mục tiêu
trước hết và trên hết: lợi ích cho các linh hồn và dựng xây Hội Thánh.
Cách đặc biệt đối với các nữ tu Dòng Thánh Phaolô, trong Năm Thánh kỷ
niệm 50 năm thành lập Tỉnh Dòng Đà Nẵng.
Trong
Thánh lễ hôm nay, chúng ta sốt sắng cảm tạ Chúa đã ban thánh chức linh
mục và các linh mục cho chúng ta. Xin Chúa tiếp tục thánh hóa và dạy dỗ
Dân Chúa qua các linh mục. Xin Thánh Thần Chúa không ngừng hoạt động để
canh tân đổi mới Giáo Hội qua các linh mục. Hội Thánh trong thế giới
ngày nay rất cần được đổi mới. Nhưng Giáo Hội không thể đổi mới được,
nếu các linh mục không đổi mới chính mình. Nhất là trong lúc Giáo Hội
gặp những khó khăn thử thách, vai trò của các linh mục càng quan trọng
biết bao. Như vậy, không phải chỉ
là “hàng trăm con mắt,” mà là hàng tỉ con mắt của các tín hữu trên thế
giới ngày nay đang đổ dồn về các linh mục và từng linh mục của mình,
đang mong chờ khắc khoải với một niềm hy vọng lớn lao.
Các
loại Dầu được làm phép và thánh hiến hôm nay sẽ nhắc lại bao nhiêu bí
tích chúng ta đã và sẽ nhận qua các linh mục. Tất cả đều là chứng tích
của tình yêu Thiên Chúa và sự chăm sóc của Mẹ Hiền Giáo Hội.
Xin
Thánh Tâm CGS, bổn mạng Giáo phận, Đức Trinh Nữ Maria, Thánh cả Giuse,
các Thánh Tông Đồ, các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Chân Phước Anrê Phú Yên
nâng đỡ, để mỗi chúng ta luôn biết sống Yêu Thương Phục Vụ, Hiệp Nhất và
Bình An, mỗi người theo ơn gọi và lối sống của mình mà xây dựng Nhiệm
Thể Chúa Kitô là Hội Thánh.
“Trăm
con mắt đều đổ dồn về phía Người”, cộng đoàn chúng ta giờ đây cùng
hướng nhìn về bàn thờ , nơi Chúa Giêsu sắp ngự đến, để nên Hy Lễ Tình
Yêu Cứu Độ của người Mục Tử tốt lành đối với đàn chiên của mình. Amen.
+ Giuse Châu Ngọc Tri
Giám mục Đà Nẵng
Giám mục Đà Nẵng
***********
Bài giảng Lễ Tạ Ơn Kim Khánh Tỉnh Dòng Phaolô Đà Nẵng
2010-03-06 20:11:09
Bài giảng Thánh Lễ Tạ Ơn mừng Kim Khánh
Tỉnh Dòng Phaolô Đà Nẵng
của Đức Cha Giuse, Giám mục Đà Nẵng
Gn, 12, 1-4; Ep. 1,3-14 và Ga 15,9-17
KẾ HOẠCH YÊU THƯƠNG
Kính thưa Quý Đức Cha, Quý Viện Phụ, Quý Cha,
Quý Bề Trên và Chị Em nữ tu Dòng Thánh Phaolô,
Cùng Cộng đoàn Dân Chúa và thân hữu gần xa.
Nhà
thờ Chính Toà Đà Nẵng hôm nay như một ngày hội lớn, chúng ta từ khắp
nơi quy tụ về để cùng Hội Dòng và Tỉnh Dòng Thánh Phaolô Đà Nẵng dâng
Thánh Lễ Tạ Ơn mừng 50 năm thành lập, đồng thời cũng mừng 150 năm hiện
diện của các Chị Em Dòng Thánh Phaolô thành Chartres tại Việt Nam. Hình
ảnh người nữ tu trong đời sống Giáo Hội bao nhiêu quen thuộc, thì bóng
dáng các nữ tu Dòng Thánh Phaolô tại Việt Nam, và riêng tại Giáo phận Đà
Nẵng này cũng bấy nhiêu thân thương gần gũi từ hơn 50 năm qua.
Những
cuộc di cư trong Thánh Kinh đã viết lên những trang sử mới cho các dân
tộc. Dân Chúa dưới sự lãnh đạo của Mai-sen đã rời Ai-Cập tiến về lập cư
tại miền đất hứa. Trước đó, Abraham đã theo lệnh Chúa, bỏ xứ sở ra đi và
đã trở nên tổ phụ một dân đông như cát biển sao trời, như trong bài đọc
I chúng ta mới nghe. Tôi liên tưởng đến sự hình thành của Tỉnh Dòng
Phaolô Đà Nẵng hồi 50 năm về trước, sau hiệp định Genève và biến cố di
cư vào năm 1954. Tỉnh Dòng Hà Nội kể như đã hoá thân thành Tỉnh Dòng Đà
Nẵng vào năm 1960. Và cũng trong vòng 50 năm ấy, điều kỳ diệu hôm nay là
các nữ tu Phaolô Tỉnh Dòng Đà Nẵng góp phần không nhỏ đem lại sự hồi
sinh cho Tỉnh Dòng Mẹ Hà Nội.
"Hãy
rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho
ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta
sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành”.
Như Abraham xưa, nay đất hứa của các Chị chính là Đà Nẵng, dân tộc của
các chị chính là Tỉnh Dòng. Từ nơi đây, các Chị được chúc phúc, được lẫy
lừng và trở thành mối phúc lành cho Giáo Hội và cho những ai các Chị
yêu thương phục vụ.
Hành
trình của Abraham sau khi theo lệnh Chúa rời quê cha đất tổ, từ
Ca-na-an, ông đến Si-khem, rồi sang miền núi phía đông Bết-En, rồi đến
Ne-ghép, để gầy dựng một dân đông đảo, dân riêng của Chúa… Sự lớn mạnh
của Tỉnh Dòng hôm nay được bắt đầu bằng việc ra đi của mỗi nữ tu theo
tiếng Chúa gọi như Abraham ngày xưa. Sau 50 năm hình thành, được thanh
luyện trong gian khổ và lớn lên như một phép mầu, Tỉnh Dòng Phaolô Đà
Nẵng nay đã trở nên một dân đông đảo với gần 700 thành viên, trong đó có
505 nữ tu, chia làm 57 cộng đoàn, có mặt trên cánh đồng truyền giáo của
12 Giáo phận Việt Nam, từ duyên hải đến đồng bằng, từ Nam ra Bắc, lên
tận cao nguyên hẻo lánh và đến những vùng đất xa xôi nơi tận cùng thế
giới.
Ra
đi và lên đường đã trở thành ơn gọi và sứ vụ đặc thù của các Chị như
chính Thánh Phaolô, Tông đồ dân ngoại, quan thầy của Hội Dòng và tôn sư
của các Chị. Vị Tông đồ đã từng xác quyết: “Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Phúc Âm”.
Không rao giảng Phúc Âm khi đã được đón nhận Phúc âm là một điều “khốn
nạn”, nhưng ra đi rao giảng Phúc Âm thì phải chấp nhận muôn điều khốn
đốn. Thánh Tông đồ đã chọn rao giảng Phúc Âm, đã chấp nhận khốn đốn, bất
chấp tất cả để đi trọn con đường ơn gọi cuộc đời, mà Ngài xác tín đó là
Kế Hoạch Yêu Thương Cứu Độ của Thiên Chúa. Chính vì để thi hành kế
hoạch này mà Ngài được chọn gọi.
Ngài đã truyền lại cho chúng ta cảm nghiệm quí báu này trong bức thư gửi Giáo đoàn Ê-phê-sô mà chúng ta vừa nghe. “Thiên
Chúa là Ðấng làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của Người, đã
tiền định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Người, để chúng tôi là những người đầu tiên đặt hy vọng vào Ðức Kitô, chúng tôi ngợi khen vinh quang Người”.
Và hơn ai hết, những người ra đi theo tiếng gọi của Chúa, đặt niềm hy
vọng vào Chúa, phải ý thức mình là cơ nghiệp riêng theo kế hoạch yêu
thương của Chúa. Kế hoạch này không phải riêng cho mình hay chung cho
ai, nhưng là cho vinh quang của Thiên Chúa, cho Nước Trời.
Tin
Mừng Thánh Gioan được công bố hôm nay là một bằng chứng thuyết phục
nhất cho ơn gọi và sứ mệnh của chúng ta. Kế hoạch lớn nhất của Thiên
Chúa chính là sai Con Một của Ngài xuống trần, và Người thực hiện hoàn
hảo nhất kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa cũng chính là Đức Giêsu
Kitô, Chúa chúng ta. Rồi chính Đức Kitô đã kêu gọi, đã chọn lựa và sai
chúng ta đi, từ thế hệ này đến thế hệ khác, “Không
phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử
anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn
tại.”
Chúng ta được kêu gọi lên đường, được tuyển chọn làm cơ nghiệp và được sai đi để thực hiện kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa.
- Để thực hiện kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, trước hết chúng ta phải có khả năng yêu thương.
- Để lên đường thực hiện kế hoạch yêu thương, hành trang của chúng ta phải đầy ắp yêu thương.
- Để vượt qua những khó khăn thử thách, sức mạnh của chúng ta chính là tình yêu thương.
- Để bảo vệ chúng ta khỏi sự tấn công của quân thù, khiên thuẫn của chúng ta làm bằng chất liệu yêu thương.
- Để chiến đấu chống lại tội lỗi và bất công, vũ khí của chúng ta cũng chính là yêu thương.
- Chúng ta được sai đi để gieo trồng yêu thương, thì hoa trái chúng ta mang về cũng phải là hoa trái yêu thương.
Chính
vì thế, Thánh Gioan đã kết thúc bài Tin Mừng kể lại tâm tình của Chúa
Giêsu khi chọn gọi và cắt cử các môn đệ ra đi, bằng lệnh truyền gãy gọn
và rõ ràng của Ngài: “Ðiều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.” Và chỉ có thế!
Kính
thưa Cộng đoàn, chung lời tạ ơn với các Chị Em nữ tu Dòng Thánh Phaolô
Việt Nam hôm nay, cách riêng với Tỉnh Dòng Đà Nẵng, nhân kỷ niệm 50 năm
thành lập, là tạ ơn về điều gì? Chắc chắn không phải chỉ tạ ơn vì các
Chị đã được Đức Kitô yêu thương chọn gọi và được sai đi, nhưng điều đáng
tạ ơn và cần phải tạ ơn nhất là các Chị đã hăng say cộng tác thực hiện
kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, và tạ ơn về những hoa trái yêu
thương mà các Chị đã mang về cho Đấng đã sai mình. Đọc lướt qua cuốn kỷ
yếu kỷ niệm 150 năm hiện diện trên Đất Việt của các Chị gửi tặng, thú
thật tôi thấy choáng ngợp về khối lượng và qui mô những công việc mà các
Chị đã thực hiện cho Hội Thánh và Dân tộc Việt Nam, hôm qua cũng như
hôm nay, và còn định hướng mạnh mẽ về tương lai với khẩu hiệu : Trung
Thành- Sáng Tạo, Hy Vọng-Năng Động. Xin chung lời tạ ơn và chúc mừng,
chia vui cùng các Chị.
Nhưng Chúa Giêsu cũng đã chú thích rất cặn kẽ: “và để hoa trái các con tồn tại”.
Điều này chứng tỏ rằng có những hoa trái tồn tại và cũng có những hoa
trái không tồn tại. Chúng ta phải cùng nhau khiêm tốn nhìn nhận rằng có
rất nhiều công việc chúng ta làm vì yêu thương, nhưng cũng có ít nhiều
công việc chúng ta làm chỉ nhân danh sự yêu thương. Đây là chước cám dỗ
và cớ vấp ngã rất lớn cho mỗi người chúng ta hôm nay, không trừ ai, kể
cả các Chị đang đầy ắp tâm tình tạ ơn và vui mừng trong ngày mùa thu
hoạch này.
Nói
với nhau điều này không phải để chúng ta buồn phiền, nhưng là sự phấn
khích chúng ta hướng về tương lai với một quyết tâm “cao hơn, xa hơn và
nhanh hơn” như người lực sĩ của Thiên Chúa. Thánh Tông Đồ đã viết: “Quên hết quá khứ, mà lao về phía trước”, “Tôi làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi”.
Sức mạnh của chúng ta chính là Thánh Thể Chúa Giêsu, bí tích của Tình Yêu. Chính Ngài đã mời gọi chúng ta: “Hãy ở lại trong Tình Yêu Thầy”, Thánh Gioan đã cảm nghiệm sâu xa và viết lên điều vừa được lặp lại cho chúng ta hôm nay: “Hãy ở lại trong Tình Yêu Thầy”.
Ở lại với Thầy không phải là ở mãi một nơi, đắm say một con người, cho
dù người đó là Giêsu, nhưng lại phải vâng lệnh Thầy mà ra đi, ra khỏi
chính mình mà lên đường, mà mang tình yêu của Chúa đi muôn nơi, mà trao
ban tình yêu của Chúa cho muôn người, để loan báo kế hoạch yêu thương
cứu độ của Chúa cho đến tận cùng thế giới.
Luôn
luôn với Mẹ Maria đồng hành. Một người Mẹ đầy tâm tình và giàu kinh
nghiệm yêu thương. Mẹ đã yêu thương đến cùng Đấng là Con Mẹ đã chết vì
yêu thương đến cùng. Hoa trái do lòng Mẹ sinh ra chính là hoa trái yêu
thương tinh ròng và muôn đời tồn tại khi dâng mình trên Thánh Giá. Hiệp
thông với Con mình, Mẹ có đổ huyết lệ hay không đổ huyết lệ, nơi này hay
nơi kia, và thậm chí ngay cả ở đây hôm nay, cũng không làm thay đổi
niềm tin yêu của chúng ta vào một Thiên Chúa là Cha Yêu Thương. Dù Satan
có sám hối mà phụng thờ Thiên Chúa, thuyết phục chúng ta bằng những dấu
lạ điềm thiêng, cũng không làm thay đổi sứ điệp yêu thương mà mỗi người
chúng ta nhận lãnh từ Tin Mừng Sống Động nhất là Đức Giêsu Kitô Chúa
chúng ta, Đấng đã chết vì yêu thương.
Xin mượn lời của Mẹ Tổng Quyền Myriam de Sainte Anne đang
hiện diện hôm nay, trong thư gửi chúc mừng ba Tỉnh Dòng Phaolô Việt Nam
nhân dịp này, khi nói về Mẹ Benjamin, người nữ tu thuộc Dòng Thánh
Phaolô đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1860, và cũng là Mẹ Bề trên tiên
khởi của Tỉnh Dòng Sài Gòn, để cám ơn và cầu chúc ba Chị Bề Trên Giám
Tỉnh và tất cả Chị Em Dòng Thánh Phaolô Việt Nam bằng những lời tôn vinh
mà Mẹ Myriam đã dành cho Mẹ Benjamin:
- Chị là người phụ nữ của niềm tin.
- Chị là người phụ nữ thật gan dạ.
- Chị là người phụ nữ tràn đầy bác ái.
- Chị là người phụ nữ của niềm hy vọng.
- Chị là người phụ nữ hướng về tương lai.
Và Chị là người phụ nữ trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Amen.
************
Sống đức tin trong thế giới hôm nay
2010-01-19 17:32:25
|
|
Sống đức tin trong thế giới hôm nay
Nguồn : WHĐ
WHĐ (17.01.2010) – Cuối tuần qua, Đức Hồng y Godfried
Danneels (Bỉ), đã tuyên bố ngài sẽ về hưu trong ít ngày sắp tới. Năm
nay ĐHY đã bước vào tuổi 77. Hai năm trước, lúc 75 tuổi, ngài đã đệ đơn
từ chức nhưng Tòa Thánh chưa chấp thuận.
Hiện danh tánh của vị mục tử kế nhiệm vẫn chưa được Tòa Thánh công bố.
ĐHY
Godfried Danneels hiện đang đảm nhiệm cương vị Tổng giám mục
Mechelen-Brussel (Malines-Bruxelles), kiêm Chủ tịch Hội đồng Giám mục
Bỉ.
Ngài là một trong những gương mặt lớn của Giáo Hội đương đại.
Tên
tuổi của ĐHY Danneels được biết đến với những đóng góp của ngài vào sự
hình thành văn kiện Hiến chế Công đồng Vatican II về Phụng vụ Thánh Sacrosanctum Concilium.
Trong
hơn ba thập niên đảm nhận vai trò mục tử của Giáo Hội tại Bỉ, kể từ năm
1977 khi ngài được ĐGH Phaolô VI đặt làm giám mục Antwerp và đến nay
làm Giáo trưởng của Giáo Hội Bỉ, ĐHY đã có những đóng góp lớn cho Giáo
Hội địa phương và thế giới trên các lĩnh vực mục vụ và nghiên cứu, học
thuật.
Bài
giảng của ĐHY trong Thánh lễ giã từ cộng đồng Dân Chúa tại
Malines-Bruxelles, vào cuối tuần qua, có thể được coi như di chúc để lại
cho cộng đoàn tín hữu của mình.
Trong
bài giảng này, Đức Hồng y Godfried Danneels đã chia sẻ những suy tư sâu
sắc về đời sống đức tin của người Kitô hữu trong thế giới hôm nay.
Những suy tư rất đáng lắng nghe và chiêm nghiệm. WHĐ hân hạnh giới
thiệu.
***
Sách
Giảng viên nói rằng mọi sự dưới bầu trời này đều có thời điểm của nó
(x. 3,2). Có một thời để bắt đầu và một thời để kết thúc, một thời để
đến và một thời để đi, một thời để nói và một thời để im lặng. Các mục
tử đến rồi đi. Chỉ có một Đấng còn lại: Đấng Chăn chiên lành, Đức Giêsu
Kitô, “Vị Mục tử vĩ đại của đoàn chiên” (Dt 13,20).
Hãy tập trung nhìn vào Chúa Giêsu
Chính
Người là Đấng phải nói đến: Đức Giêsu Kitô. Thưa anh chị em, trong ngày
tôi ra đi, tôi xin nói với anh chị em: “Hãy tập trung nhìn vào Chúa
Giêsu là Sứ giả, là Thượng tế cho lời tuyên xưng đức tin của chúng ta”
(Dt 3,1). Hãy nhìn ngắm Người. Ngày nay có biết bao điều ta đang nhìn
thấy: khủng hoảng kinh tế, Giáo Hội trong cơn bão táp, thiếu nhân sự và
phương tiện, biết bao người đang sống trong cảnh cùng khổ vật chất và
còn nhiều hơn nữa những người sống trong bất ổn về tinh thần, tất cả đều
muốn tìm nhưng chẳng gặp được hạnh phúc bao nhiêu. Phải, tôi lập lại:
hãy tập trung nhìn vào Chúa Giêsu. Vâng, hình như Người đang ở đàng lái,
dựa đầu vào gối mà ngủ. Và cũng như các tông đồ trong Phúc âm, chúng ta
la lên: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” (Mc
4,38). Và Người trả lời chúng ta ra sao trong cơn hoảng loạn: “Tại sao
lại sợ hãi như thế?” Đó là lời trách cứ duy nhất Người sẽ nói với ta:
“Tại sao lại sợ hãi như thế?” (Mc 3,40). Không, Người sẽ không trách
chúng ta vì đã không chịu khó làm việc, vì thiếu kế hoạch, thiếu tổ
chức, thiếu quản trị, thiếu dự án. Không, Người sẽ trách chúng ta vì sợ
hãi và không nhận ra rằng Người vẫn đang ở trên thuyền với ta.
Vâng,
Người ở đó, giữa chúng ta, trong những người nghèo và bé mọn; Người
đang nhìn chúng ta qua cặp mắt của họ. Người ở đó trong lời của Người,
trong Sách Thánh và lời rao giảng của Giáo Hội. Người hiện diện ở đó
trong phụng vụ. Nhất là Người ở đó trong rượu và bánh Thánh Thể, trong
Mình và Máu Người. Vâng, hãy tập trung nhìn vào Chúa Giêsu Thánh Thể.
Hãy trở nên một Giáo Hội thờ phượng như tôi đã xin anh chị em trong dịp
lễ Các Thánh 2006 ở Bruxelles. Một lần nữa, tôi xin anh chị em điều đó
như di chúc để lại của một vị tổng giám mục lên đường đi hưu.
Hãy yêu mến Giáo Hội
Hãy
yêu mến Giáo Hội như Giáo Hội là, tuy đen đủi nhưng nhan sắc mặn mà như
người thiếu nữ trong sách Diễm Ca: “Hỡi các thiếu nữ Giêrusalem, da tôi
đen nhưng nhan sắc mặn mà… Xin đừng để ý nếu da tôi rám nắng, nếu mặt
trời đã làm cháy da tôi, anh em tôi đã cắt đặt tôi canh giữ các vườn
nho” (1,5). Ôi Giáo Hội, tôi yêu mến Giáo Hội suốt đời tôi như người ta
yêu vợ mình. Tôi mang trên ngón tay mình chiếc nhẫn của cuộc hôn phối
lâu dài này. Hãy yêu mến Giáo Hội. Chắc chắn rồi, Giáo Hội có những vết
nhăn, đó là điều dễ hiểu sau 2000 năm. Nhưng Giáo Hội đẹp và trung tín.
Để
thấy Giáo Hội thực sự, phải nhìn bằng con mắt đức tin, con mắt có khả
năng nhìn thấy những sự vô hình, nhận ra mầu nhiệm vừa thần linh vừa
nhân loại. Như thánh Augustinô đã nói: “Khi nói về Giáo Hội, tôi không
thể ngừng nói về những điều thiện hảo”. Và mỗi khi tôi khám phá khiếm
khuyết nơi Giáo Hội, đức tin lại biến đổi khiếm khuyết đó thành vết tích
của cái đẹp. Khiếm khuyết này là vết nhăn trên khuôn mặt người mẹ. Có
người mẹ nào lại không có vết nhăn. Nhưng đó là mẹ tôi. Và những vết
nhăn thì sao? Nếu nhìn kỹ, tôi sẽ khám phá ra đó cũng là vết nhăn của
tôi. Chúng ta đã đón nhận tất cả từ Mẹ Giáo Hội: Sách Thánh, các bí
tích, cử hành phụng vụ, chăm sóc mục vụ, nhất là từ Mẹ Giáo Hội, chúng
ta đón nhận biết bao anh chị em trong cùng một đức tin, và hơn nữa, cả
các thánh.
Nhất
là Giáo Hội ban cho chúng ta phụng vụ. Sức mạnh và vẻ đẹp của Giáo Hội
là ở đó, trong mầu nhiệm phụng vụ thánh. Khi phụng vụ được cử hành với
tất cả sự sốt sắng và cái đẹp, thì chiều sâu của Giáo Hội được biểu lộ ở
đó. Vừa đơn sơ vừa vĩ đại. Sức mạnh lớn nhất của công cuộc phúc âm hoá
cũng ở nơi phụng vụ. Vẻ đẹp của phụng vụ lôi cuốn tất cả. Phụng vụ có
thể trở thành phương thế tuyệt vời nhất để loan báo Tin Mừng trong một
nền văn hoá xa lạ, dửng dưng với tôn giáo, nếu không nói thẳng ra là thù
nghịch.
Ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian
Nhiều
người đương thời với chúng ta không còn biết đến sứ điệp của Phúc âm.
Ngay cả ngôn ngữ Phúc âm, người ta cũng không hiểu. Phải chăng chúng ta
đang trở lại thời kỳ đầu tiên của Giáo Hội khi chỉ có một nhóm nhỏ Kitô
hữu giữa lòng thế giới ngoại giáo và dửng dưng với Kitô giáo? Và ngày
nay là một thế giới không biết gì đến Kitô giáo. Phải làm gì?
Hãy
bắt đầu bằng cách triển khai nơi chúng ta một ý thức đúng đắn về căn
tính Kitô hữu của mình. Đây không phải là chuyện kiêu căng hay tự mãn;
đơn giản chỉ là sống đúng căn tính của mình. Làm thế nào có thể đi theo
một ai đó đang khi người đó chỉ là một bóng mờ như ảo ảnh? Hãy sống đúng
như chúng ta là: là những môn đệ của Chúa Kitô và người mang Tin Mừng.
Không mặc cảm cũng không ngạo mạn. Hãy là chính mình. Bởi vì như thánh
Phaolô nói, “nếu kèn chỉ phát ra một tiếng vu vơ thì ai sẽ chuẩn bị
chiến đấu?” (1Cr 14,8). Loan báo và thực hành Phúc âm cách triệt để.
Đừng che giấu.
Nhưng
còn phải hơn thế nữa. Đừng ngần ngại tham gia vào nền văn hoá trong
thời đại chúng ta: khoa học của nó, những tiến bộ của nó, sự phát triển
kỳ diệu của kỹ thuật, triết lý, nghệ thuật, cảm nhận của thời đại. Chắc
chắn phải có sự phân định. Không phải mọi thứ được rao bán trên thị
trường văn hoá thời đại đều đáng giá. Phải phân định. Nhưng làm sao phân
định nếu không biết?
Người
Kitô hữu sống trong nghịch lý này: ở trong thế gian nhưng không thuộc
về thế gian. Có những lúc ta cảm nhận như bị treo trên thập giá. Chúa
Giêsu đã trải qua như thế: người ta đóng đinh Người trên thập giá, lơ
lửng giữa trời và đất. “Người đã đến trong nhà Người, nhưng người nhà
không đón tiếp”. Người đã yêu thương thế gian nhưng thế gian không yêu
mến Người. Đó cũng là thập giá của tất cả chúng ta: bị treo lơ lửng giữa
trời và đất. Nhưng chính trong tư thế bị treo trên thập giá như thế mà
chúng ta đem đến cho thế giới sức mạnh của ơn phục sinh.
Chưa
bao giờ có ai nói như người này. Người ta nhận định về Chúa Giêsu như
vậy. Ước gì người ta cũng nói như thế về chúng ta, các Kitô hữu trong
thời đại này. Phải chăng cần la lối cho lớn tiếng? Chắc chắn cũng có lúc
phải như thế. Nhưng chủ yếu là như tiên tri Isaia nói về Người Tôi tớ:
“Người sẽ không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố
phường…” (42,2). Chúng ta cần có ơn biết ăn nói với thời đại này: mạnh
mẽ và không thoả hiệp, nhưng không bao giờ lên giọng kẻ cả và khinh khi
người khác. Chúng ta cần phải nói như Chúa Giêsu. “Người chạnh lòng
thương đám đông dân chúng vì họ bơ vơ lạc lõng như những con chiên không
có người chăn” (Mc 9,36). Hãy ngỏ lời với con người hôm nay để phục vụ
chứ không để thống trị.
Ơn tha thứ và hoà giải
Có
lẽ còn cần điều này nữa. Là Kitô hữu, có nhiều điều chúng ta phải làm
cho thế giới này: dấn thân cho công lý, tình liên đới, chống đói nghèo
và bạo lực, cứu lấy hành tinh. Đó là điều chúng ta làm. Nhưng có lẽ nhân
loại còn cần điều gì khác hơn thế: hoà giải và tha thứ. Trong đất nước
chúng ta và ở những nơi khác… Chắc chắn là ở nền tảng luôn luôn phải có
sự tôn trọng luật pháp và công lý. Thế nhưng thế giới này chỉ sống được
khi trên lớp phân bón của công bằng và bình đẳng, sẽ mọc lên loại thuốc
chữa lành có tên là hoà giải và tha thứ…
Nhìn
lại đời giám mục của mình, tôi thấy những điều đã làm được và những
điều chưa làm được, tôi thấy những thành công và thất bại, những cơ hội
tôi đã biết vận dụng và những cơ hội bỏ lỡ. Biết nói gì đây? Cùng với vị
linh mục trẻ trong tiểu thuyết của Georges Bernanos “Nhật lý một cha sở
miền quê”, tôi muốn nói: “Mọi sự là hồng ân”. Có phải là chuyện tình cờ
khi thánh nữ Têrêxa Hài đồng cũng nói, “Mọi sự là hồng ân”. Vâng, mọi
sự là hồng ân. Tạ ơn Chúa.
Hồng y Godfried Danneels
Tổng giám mục Malines-Bruxelles
HTT chuyển ý
**********
Sống đức tin trong thế giới hôm nay
2010-01-19 17:32:25
|
|
Sống đức tin trong thế giới hôm nay
Nguồn : WHĐ
WHĐ (17.01.2010) – Cuối tuần qua, Đức Hồng y Godfried
Danneels (Bỉ), đã tuyên bố ngài sẽ về hưu trong ít ngày sắp tới. Năm
nay ĐHY đã bước vào tuổi 77. Hai năm trước, lúc 75 tuổi, ngài đã đệ đơn
từ chức nhưng Tòa Thánh chưa chấp thuận.
Hiện danh tánh của vị mục tử kế nhiệm vẫn chưa được Tòa Thánh công bố.
ĐHY
Godfried Danneels hiện đang đảm nhiệm cương vị Tổng giám mục
Mechelen-Brussel (Malines-Bruxelles), kiêm Chủ tịch Hội đồng Giám mục
Bỉ.
Ngài là một trong những gương mặt lớn của Giáo Hội đương đại.
Tên
tuổi của ĐHY Danneels được biết đến với những đóng góp của ngài vào sự
hình thành văn kiện Hiến chế Công đồng Vatican II về Phụng vụ Thánh Sacrosanctum Concilium.
Trong
hơn ba thập niên đảm nhận vai trò mục tử của Giáo Hội tại Bỉ, kể từ năm
1977 khi ngài được ĐGH Phaolô VI đặt làm giám mục Antwerp và đến nay
làm Giáo trưởng của Giáo Hội Bỉ, ĐHY đã có những đóng góp lớn cho Giáo
Hội địa phương và thế giới trên các lĩnh vực mục vụ và nghiên cứu, học
thuật.
Bài
giảng của ĐHY trong Thánh lễ giã từ cộng đồng Dân Chúa tại
Malines-Bruxelles, vào cuối tuần qua, có thể được coi như di chúc để lại
cho cộng đoàn tín hữu của mình.
Trong
bài giảng này, Đức Hồng y Godfried Danneels đã chia sẻ những suy tư sâu
sắc về đời sống đức tin của người Kitô hữu trong thế giới hôm nay.
Những suy tư rất đáng lắng nghe và chiêm nghiệm. WHĐ hân hạnh giới
thiệu.
***
Sách
Giảng viên nói rằng mọi sự dưới bầu trời này đều có thời điểm của nó
(x. 3,2). Có một thời để bắt đầu và một thời để kết thúc, một thời để
đến và một thời để đi, một thời để nói và một thời để im lặng. Các mục
tử đến rồi đi. Chỉ có một Đấng còn lại: Đấng Chăn chiên lành, Đức Giêsu
Kitô, “Vị Mục tử vĩ đại của đoàn chiên” (Dt 13,20).
Hãy tập trung nhìn vào Chúa Giêsu
Chính
Người là Đấng phải nói đến: Đức Giêsu Kitô. Thưa anh chị em, trong ngày
tôi ra đi, tôi xin nói với anh chị em: “Hãy tập trung nhìn vào Chúa
Giêsu là Sứ giả, là Thượng tế cho lời tuyên xưng đức tin của chúng ta”
(Dt 3,1). Hãy nhìn ngắm Người. Ngày nay có biết bao điều ta đang nhìn
thấy: khủng hoảng kinh tế, Giáo Hội trong cơn bão táp, thiếu nhân sự và
phương tiện, biết bao người đang sống trong cảnh cùng khổ vật chất và
còn nhiều hơn nữa những người sống trong bất ổn về tinh thần, tất cả đều
muốn tìm nhưng chẳng gặp được hạnh phúc bao nhiêu. Phải, tôi lập lại:
hãy tập trung nhìn vào Chúa Giêsu. Vâng, hình như Người đang ở đàng lái,
dựa đầu vào gối mà ngủ. Và cũng như các tông đồ trong Phúc âm, chúng ta
la lên: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” (Mc
4,38). Và Người trả lời chúng ta ra sao trong cơn hoảng loạn: “Tại sao
lại sợ hãi như thế?” Đó là lời trách cứ duy nhất Người sẽ nói với ta:
“Tại sao lại sợ hãi như thế?” (Mc 3,40). Không, Người sẽ không trách
chúng ta vì đã không chịu khó làm việc, vì thiếu kế hoạch, thiếu tổ
chức, thiếu quản trị, thiếu dự án. Không, Người sẽ trách chúng ta vì sợ
hãi và không nhận ra rằng Người vẫn đang ở trên thuyền với ta.
Vâng,
Người ở đó, giữa chúng ta, trong những người nghèo và bé mọn; Người
đang nhìn chúng ta qua cặp mắt của họ. Người ở đó trong lời của Người,
trong Sách Thánh và lời rao giảng của Giáo Hội. Người hiện diện ở đó
trong phụng vụ. Nhất là Người ở đó trong rượu và bánh Thánh Thể, trong
Mình và Máu Người. Vâng, hãy tập trung nhìn vào Chúa Giêsu Thánh Thể.
Hãy trở nên một Giáo Hội thờ phượng như tôi đã xin anh chị em trong dịp
lễ Các Thánh 2006 ở Bruxelles. Một lần nữa, tôi xin anh chị em điều đó
như di chúc để lại của một vị tổng giám mục lên đường đi hưu.
Hãy yêu mến Giáo Hội
Hãy
yêu mến Giáo Hội như Giáo Hội là, tuy đen đủi nhưng nhan sắc mặn mà như
người thiếu nữ trong sách Diễm Ca: “Hỡi các thiếu nữ Giêrusalem, da tôi
đen nhưng nhan sắc mặn mà… Xin đừng để ý nếu da tôi rám nắng, nếu mặt
trời đã làm cháy da tôi, anh em tôi đã cắt đặt tôi canh giữ các vườn
nho” (1,5). Ôi Giáo Hội, tôi yêu mến Giáo Hội suốt đời tôi như người ta
yêu vợ mình. Tôi mang trên ngón tay mình chiếc nhẫn của cuộc hôn phối
lâu dài này. Hãy yêu mến Giáo Hội. Chắc chắn rồi, Giáo Hội có những vết
nhăn, đó là điều dễ hiểu sau 2000 năm. Nhưng Giáo Hội đẹp và trung tín.
Để
thấy Giáo Hội thực sự, phải nhìn bằng con mắt đức tin, con mắt có khả
năng nhìn thấy những sự vô hình, nhận ra mầu nhiệm vừa thần linh vừa
nhân loại. Như thánh Augustinô đã nói: “Khi nói về Giáo Hội, tôi không
thể ngừng nói về những điều thiện hảo”. Và mỗi khi tôi khám phá khiếm
khuyết nơi Giáo Hội, đức tin lại biến đổi khiếm khuyết đó thành vết tích
của cái đẹp. Khiếm khuyết này là vết nhăn trên khuôn mặt người mẹ. Có
người mẹ nào lại không có vết nhăn. Nhưng đó là mẹ tôi. Và những vết
nhăn thì sao? Nếu nhìn kỹ, tôi sẽ khám phá ra đó cũng là vết nhăn của
tôi. Chúng ta đã đón nhận tất cả từ Mẹ Giáo Hội: Sách Thánh, các bí
tích, cử hành phụng vụ, chăm sóc mục vụ, nhất là từ Mẹ Giáo Hội, chúng
ta đón nhận biết bao anh chị em trong cùng một đức tin, và hơn nữa, cả
các thánh.
Nhất
là Giáo Hội ban cho chúng ta phụng vụ. Sức mạnh và vẻ đẹp của Giáo Hội
là ở đó, trong mầu nhiệm phụng vụ thánh. Khi phụng vụ được cử hành với
tất cả sự sốt sắng và cái đẹp, thì chiều sâu của Giáo Hội được biểu lộ ở
đó. Vừa đơn sơ vừa vĩ đại. Sức mạnh lớn nhất của công cuộc phúc âm hoá
cũng ở nơi phụng vụ. Vẻ đẹp của phụng vụ lôi cuốn tất cả. Phụng vụ có
thể trở thành phương thế tuyệt vời nhất để loan báo Tin Mừng trong một
nền văn hoá xa lạ, dửng dưng với tôn giáo, nếu không nói thẳng ra là thù
nghịch.
Ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian
Nhiều
người đương thời với chúng ta không còn biết đến sứ điệp của Phúc âm.
Ngay cả ngôn ngữ Phúc âm, người ta cũng không hiểu. Phải chăng chúng ta
đang trở lại thời kỳ đầu tiên của Giáo Hội khi chỉ có một nhóm nhỏ Kitô
hữu giữa lòng thế giới ngoại giáo và dửng dưng với Kitô giáo? Và ngày
nay là một thế giới không biết gì đến Kitô giáo. Phải làm gì?
Hãy
bắt đầu bằng cách triển khai nơi chúng ta một ý thức đúng đắn về căn
tính Kitô hữu của mình. Đây không phải là chuyện kiêu căng hay tự mãn;
đơn giản chỉ là sống đúng căn tính của mình. Làm thế nào có thể đi theo
một ai đó đang khi người đó chỉ là một bóng mờ như ảo ảnh? Hãy sống đúng
như chúng ta là: là những môn đệ của Chúa Kitô và người mang Tin Mừng.
Không mặc cảm cũng không ngạo mạn. Hãy là chính mình. Bởi vì như thánh
Phaolô nói, “nếu kèn chỉ phát ra một tiếng vu vơ thì ai sẽ chuẩn bị
chiến đấu?” (1Cr 14,8). Loan báo và thực hành Phúc âm cách triệt để.
Đừng che giấu.
Nhưng
còn phải hơn thế nữa. Đừng ngần ngại tham gia vào nền văn hoá trong
thời đại chúng ta: khoa học của nó, những tiến bộ của nó, sự phát triển
kỳ diệu của kỹ thuật, triết lý, nghệ thuật, cảm nhận của thời đại. Chắc
chắn phải có sự phân định. Không phải mọi thứ được rao bán trên thị
trường văn hoá thời đại đều đáng giá. Phải phân định. Nhưng làm sao phân
định nếu không biết?
Người
Kitô hữu sống trong nghịch lý này: ở trong thế gian nhưng không thuộc
về thế gian. Có những lúc ta cảm nhận như bị treo trên thập giá. Chúa
Giêsu đã trải qua như thế: người ta đóng đinh Người trên thập giá, lơ
lửng giữa trời và đất. “Người đã đến trong nhà Người, nhưng người nhà
không đón tiếp”. Người đã yêu thương thế gian nhưng thế gian không yêu
mến Người. Đó cũng là thập giá của tất cả chúng ta: bị treo lơ lửng giữa
trời và đất. Nhưng chính trong tư thế bị treo trên thập giá như thế mà
chúng ta đem đến cho thế giới sức mạnh của ơn phục sinh.
Chưa
bao giờ có ai nói như người này. Người ta nhận định về Chúa Giêsu như
vậy. Ước gì người ta cũng nói như thế về chúng ta, các Kitô hữu trong
thời đại này. Phải chăng cần la lối cho lớn tiếng? Chắc chắn cũng có lúc
phải như thế. Nhưng chủ yếu là như tiên tri Isaia nói về Người Tôi tớ:
“Người sẽ không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố
phường…” (42,2). Chúng ta cần có ơn biết ăn nói với thời đại này: mạnh
mẽ và không thoả hiệp, nhưng không bao giờ lên giọng kẻ cả và khinh khi
người khác. Chúng ta cần phải nói như Chúa Giêsu. “Người chạnh lòng
thương đám đông dân chúng vì họ bơ vơ lạc lõng như những con chiên không
có người chăn” (Mc 9,36). Hãy ngỏ lời với con người hôm nay để phục vụ
chứ không để thống trị.
Ơn tha thứ và hoà giải
Có
lẽ còn cần điều này nữa. Là Kitô hữu, có nhiều điều chúng ta phải làm
cho thế giới này: dấn thân cho công lý, tình liên đới, chống đói nghèo
và bạo lực, cứu lấy hành tinh. Đó là điều chúng ta làm. Nhưng có lẽ nhân
loại còn cần điều gì khác hơn thế: hoà giải và tha thứ. Trong đất nước
chúng ta và ở những nơi khác… Chắc chắn là ở nền tảng luôn luôn phải có
sự tôn trọng luật pháp và công lý. Thế nhưng thế giới này chỉ sống được
khi trên lớp phân bón của công bằng và bình đẳng, sẽ mọc lên loại thuốc
chữa lành có tên là hoà giải và tha thứ…
Nhìn
lại đời giám mục của mình, tôi thấy những điều đã làm được và những
điều chưa làm được, tôi thấy những thành công và thất bại, những cơ hội
tôi đã biết vận dụng và những cơ hội bỏ lỡ. Biết nói gì đây? Cùng với vị
linh mục trẻ trong tiểu thuyết của Georges Bernanos “Nhật lý một cha sở
miền quê”, tôi muốn nói: “Mọi sự là hồng ân”. Có phải là chuyện tình cờ
khi thánh nữ Têrêxa Hài đồng cũng nói, “Mọi sự là hồng ân”. Vâng, mọi
sự là hồng ân. Tạ ơn Chúa.
Hồng y Godfried Danneels
Tổng giám mục Malines-Bruxelles
HTT chuyển ý
***********
Theo Chúa cũng lắm hạng người
2009-08-21 13:52:57
Chúa Giêsu xuất hiện rao giảng Tin Mừng, làm các phép lạ và dân chúng lũ
lượt đi theo Ngài. Thế nhưng những kẻ đi theo Ngài là một đám đông ô
hợp, đủ hạng người. Tin Mừng cho chúng ta thấy ít là có 4 hạng người đi
theo Chúa.
- Hạng người theo Chúa vì tính hiếu kỳ:
Thấy Chúa Giêsu giảng dạy lôi cuốn, giáo lý mới mẻ hấp dẫn, nhất là được chứng kiến một loạt các phép lạ lớn lao phi thường, họ đi theo. Đây là hạng người theo Chúa chỉ vì tính hiếu kỳ của mình: “Dập dìu người đi, tớ cũng đi”; “Thấy hay thì vỗ tay vào”. Chính vì thế khi nghe Chúa Giêsu nói những lời chói tai, khó hiểu, họ đã nghi ngờ không biết ông Giêsu này có thật là Đấng Tiên Tri phải đến hay không; hay ông ta chỉ là người hâm hẩm. Thậm chí có lần người nhà đã từng cho rằng Ngài bị mất trí, nên đi tìm để bắt ngài về. Và một khi lòng hiếu kỳ bị thương tổn, họ đã bỏ Chúa mà không một chút luyến tiếc.
- Hạng người theo Chúa vì mục đích kinh tế:
Đây là những người có lối sống thực dụng. Mối quan tâm của họ chỉ là cơm áo gạo tiền và những nhu cầu đời tạm này, một hình thức “đạo gạo” của thập niên 60, 70 tại Việt Nam chúng ta. Đối với họ, Chúa Giêsu xuất hiện như một vị cứu tinh với vai trò giải thoát chúng sinh khỏi đau khổ và nghèo đói của kiếp người, qua những phép lạ: hoá bánh ra nhiều, làm nên những mẻ cá lạ lùng, tay không chữa bệnh, phục sinh kẻ chết… Điều này lý giải tại sao họ đã ùn ùn đi theo Chúa Giêsu tựa đàn kiến phát hiện được con mồi. Đơn giản vì theo Chúa Giêsu, họ sẽ không lo vất vả làm lụng, không sợ hạn hán lụt lội, hay kinh tế khủng hoảng,… Theo Chúa Giêsu, họ sẽ có bảo hiểm y tế cả đời. Dịch cúm H1N1 cũng chẳng ngán, nan y Siđa cũng chẳng tè, v.v… Cứ trực chỉ lương y Giêsu là được chữa lành hết, chẳng phải tốn một đồng nào. Tắt một lời, Giêsu đem lại cho họ qúa nhiều lợi lộc về mặt kinh tế.
Thế nhưng, cũng chính vì “Chúa tể họ thờ là cái bụng”, nên khi thấy Đức Giêsu suốt ngày chỉ nói đến một thứ lương thực thiêng liêng trừu tượng, đến một thứ của ăn linh hồn đâu đâu, họ đành phải ngậm ngùi giã từ Ngài. Giã từ Ngài để trở về với “án phạt của tổ tông xưa”: đổ mồ hôi sôi nước mắt hầu có của nuôi thân. Lơ tơ mơ, vợ con ở nhà chết đói như chơi !
- Hạng người theo Chúa vì động cơ chính trị:
Danh vọng, quyền lực trần thế là điểm nhắm của những người này khi men theo dấu chân của Đức Giêsu. Bởi đó, khi thấy Đức Gêsu ban đầu xuất hiện như một Mêsia trần thế, làm nhiều điều hiển hách phi thường, họ tưởng Ngài sẽ làm một cuộc đại cách mạng lật đổ thế lực Rôma ngoại bang, đem lại hưng thịnh cho đất nước. Dù chưa dám nói ra, nhưng trong lòng họ vẫn nuôi hy vọng một ngày nào đó họ sẽ được đổi đời, sẽ thoát khỏi cái kiếp làm “phó thường dân” dài dài, nhờ vào cái ô dù to tướng của ông Giêsu này. Nói cách khác, đi theo Chúa Giêsu, chắc chắn sẽ kiếm được một chổ đứng, một địa vị nào đó để lên hương với đời và lên mặt với người.
Tuy nhiên, khi nghe Chúa Giêsu chỉ thao thao diễn giải về một thứ đạo lí phục vụ hi sinh, hiến thân quên mình…, họ cảm thấy thất vọng và đành rút lui trong trật tự.
- Hạng người theo Chúa vì xác tín rằng Chúa mới có Lời ban sự sống đời đời:
Tiêu biểu cho hạng người này là Nhóm Mười Hai. Dẫu rằng ban đầu, động cơ đi theo Chúa cũng còn rất trần tục: họ muốn kiếm “chút cháo” cho gia đình và “chút công danh sự nghiệp” cho bản thân… Nhưng khi được Chúa Giêsu thanh tẩy, gạn lọc, họ đã dần xác tín vào Ngài và đã đón nhận mạc khải của Ngài với trọn cả tâm hồn. Họ đã nhận ra Lời của Chúa Giêsu có khả năng mang lại sự sống đời đời và họ cũng tin nhận nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu, qua vị đại diện là Phêrô: “Bỏ Thầy con biết theo ai. Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Chính Thầy là Đấng thánh của Thiên Chúa.” Và từ niềm xác tín đó, các ông đã chân thành tín thác đi theo Chúa trọn đời dù có phải chịu nhiều thử thách gian truân trong cuộc đời. Tất nhiên vòng nguyệt quế mà Chúa Giêsu hứa ban cho người chiến thắng đã thuộc về họ. Sự sống đời đời chính là phần thưởng lớn lao mà họ đã giành được nhờ Đấng đã ban sức mạnh cho họ.
Phần tôi thì sao ? Tôi có được niềm xác tín như các tông đồ là “Bỏ Thầy con biết theo ai. Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời” hay không ?
Thực tế, nhiều người đã tự nguyện bỏ Chúa, bỏ ngày Chúa Nhật để đi theo tiếng gọi của tình ái, tiếng gọi của tiền tài, tiếng gọi của đủ thứ thú vui hưởng thụ… Hậu quả là một khi bỏ Chúa thì đời họ sẽ bơ vơ như cánh chim trong khung trời lộng gió. Một khi bỏ Chúa thì đời họ sẽ như chiếc thuyền dật dờ trên biển cả mêng mông. Một khi bỏ Chúa thì tương lai đời họ sẽ trở nên mịt mờ vô định. Và một khi bỏ Chúa thì đời họ sẽ như một cuộc hành trình cô đơn buồn bã.
Chớ gì trong mọi hoàn cảnh, chúng ta luôn chọn Chúa, chọn Chúa làm gia nghiệp đời mình. Để cuộc đời mình dẫu vẫn là một cuộc hành trình dài, vẫn là cánh chim trong khung trời lộng gió, vẫn như chiếc thuyền giữa biển cả mêng mông; nhưng trong cuộc hành trình đó, đã có Đức Giêsu Kitô đồng hành, cánh chim biết hướng bay, con thuyền có người lèo lái và cuộc đời chúng ta chắc chắn sẽ về tới bến bờ bình an hạnh phúc.
Thấy Chúa Giêsu giảng dạy lôi cuốn, giáo lý mới mẻ hấp dẫn, nhất là được chứng kiến một loạt các phép lạ lớn lao phi thường, họ đi theo. Đây là hạng người theo Chúa chỉ vì tính hiếu kỳ của mình: “Dập dìu người đi, tớ cũng đi”; “Thấy hay thì vỗ tay vào”. Chính vì thế khi nghe Chúa Giêsu nói những lời chói tai, khó hiểu, họ đã nghi ngờ không biết ông Giêsu này có thật là Đấng Tiên Tri phải đến hay không; hay ông ta chỉ là người hâm hẩm. Thậm chí có lần người nhà đã từng cho rằng Ngài bị mất trí, nên đi tìm để bắt ngài về. Và một khi lòng hiếu kỳ bị thương tổn, họ đã bỏ Chúa mà không một chút luyến tiếc.
- Hạng người theo Chúa vì mục đích kinh tế:
Đây là những người có lối sống thực dụng. Mối quan tâm của họ chỉ là cơm áo gạo tiền và những nhu cầu đời tạm này, một hình thức “đạo gạo” của thập niên 60, 70 tại Việt Nam chúng ta. Đối với họ, Chúa Giêsu xuất hiện như một vị cứu tinh với vai trò giải thoát chúng sinh khỏi đau khổ và nghèo đói của kiếp người, qua những phép lạ: hoá bánh ra nhiều, làm nên những mẻ cá lạ lùng, tay không chữa bệnh, phục sinh kẻ chết… Điều này lý giải tại sao họ đã ùn ùn đi theo Chúa Giêsu tựa đàn kiến phát hiện được con mồi. Đơn giản vì theo Chúa Giêsu, họ sẽ không lo vất vả làm lụng, không sợ hạn hán lụt lội, hay kinh tế khủng hoảng,… Theo Chúa Giêsu, họ sẽ có bảo hiểm y tế cả đời. Dịch cúm H1N1 cũng chẳng ngán, nan y Siđa cũng chẳng tè, v.v… Cứ trực chỉ lương y Giêsu là được chữa lành hết, chẳng phải tốn một đồng nào. Tắt một lời, Giêsu đem lại cho họ qúa nhiều lợi lộc về mặt kinh tế.
Thế nhưng, cũng chính vì “Chúa tể họ thờ là cái bụng”, nên khi thấy Đức Giêsu suốt ngày chỉ nói đến một thứ lương thực thiêng liêng trừu tượng, đến một thứ của ăn linh hồn đâu đâu, họ đành phải ngậm ngùi giã từ Ngài. Giã từ Ngài để trở về với “án phạt của tổ tông xưa”: đổ mồ hôi sôi nước mắt hầu có của nuôi thân. Lơ tơ mơ, vợ con ở nhà chết đói như chơi !
- Hạng người theo Chúa vì động cơ chính trị:
Danh vọng, quyền lực trần thế là điểm nhắm của những người này khi men theo dấu chân của Đức Giêsu. Bởi đó, khi thấy Đức Gêsu ban đầu xuất hiện như một Mêsia trần thế, làm nhiều điều hiển hách phi thường, họ tưởng Ngài sẽ làm một cuộc đại cách mạng lật đổ thế lực Rôma ngoại bang, đem lại hưng thịnh cho đất nước. Dù chưa dám nói ra, nhưng trong lòng họ vẫn nuôi hy vọng một ngày nào đó họ sẽ được đổi đời, sẽ thoát khỏi cái kiếp làm “phó thường dân” dài dài, nhờ vào cái ô dù to tướng của ông Giêsu này. Nói cách khác, đi theo Chúa Giêsu, chắc chắn sẽ kiếm được một chổ đứng, một địa vị nào đó để lên hương với đời và lên mặt với người.
Tuy nhiên, khi nghe Chúa Giêsu chỉ thao thao diễn giải về một thứ đạo lí phục vụ hi sinh, hiến thân quên mình…, họ cảm thấy thất vọng và đành rút lui trong trật tự.
- Hạng người theo Chúa vì xác tín rằng Chúa mới có Lời ban sự sống đời đời:
Tiêu biểu cho hạng người này là Nhóm Mười Hai. Dẫu rằng ban đầu, động cơ đi theo Chúa cũng còn rất trần tục: họ muốn kiếm “chút cháo” cho gia đình và “chút công danh sự nghiệp” cho bản thân… Nhưng khi được Chúa Giêsu thanh tẩy, gạn lọc, họ đã dần xác tín vào Ngài và đã đón nhận mạc khải của Ngài với trọn cả tâm hồn. Họ đã nhận ra Lời của Chúa Giêsu có khả năng mang lại sự sống đời đời và họ cũng tin nhận nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu, qua vị đại diện là Phêrô: “Bỏ Thầy con biết theo ai. Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Chính Thầy là Đấng thánh của Thiên Chúa.” Và từ niềm xác tín đó, các ông đã chân thành tín thác đi theo Chúa trọn đời dù có phải chịu nhiều thử thách gian truân trong cuộc đời. Tất nhiên vòng nguyệt quế mà Chúa Giêsu hứa ban cho người chiến thắng đã thuộc về họ. Sự sống đời đời chính là phần thưởng lớn lao mà họ đã giành được nhờ Đấng đã ban sức mạnh cho họ.
Phần tôi thì sao ? Tôi có được niềm xác tín như các tông đồ là “Bỏ Thầy con biết theo ai. Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời” hay không ?
Thực tế, nhiều người đã tự nguyện bỏ Chúa, bỏ ngày Chúa Nhật để đi theo tiếng gọi của tình ái, tiếng gọi của tiền tài, tiếng gọi của đủ thứ thú vui hưởng thụ… Hậu quả là một khi bỏ Chúa thì đời họ sẽ bơ vơ như cánh chim trong khung trời lộng gió. Một khi bỏ Chúa thì đời họ sẽ như chiếc thuyền dật dờ trên biển cả mêng mông. Một khi bỏ Chúa thì tương lai đời họ sẽ trở nên mịt mờ vô định. Và một khi bỏ Chúa thì đời họ sẽ như một cuộc hành trình cô đơn buồn bã.
Chớ gì trong mọi hoàn cảnh, chúng ta luôn chọn Chúa, chọn Chúa làm gia nghiệp đời mình. Để cuộc đời mình dẫu vẫn là một cuộc hành trình dài, vẫn là cánh chim trong khung trời lộng gió, vẫn như chiếc thuyền giữa biển cả mêng mông; nhưng trong cuộc hành trình đó, đã có Đức Giêsu Kitô đồng hành, cánh chim biết hướng bay, con thuyền có người lèo lái và cuộc đời chúng ta chắc chắn sẽ về tới bến bờ bình an hạnh phúc.
**********
No comments:
Post a Comment