Wednesday, July 11, 2012

BÀI GIẢNG MẸ DIỄM PHÚC

Mẹ Diễm Phúc
2009-08-13 23:47:32
Ngày 1.11.1950, đúng vào dịp lễ các Thánh Nam Nữ, Đức Thánh Cha Piô XII long trọng tuyên bố cho toàn thể thế giới Công giáo rằng: “Thánh Mẫu Thiên Chúa là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Maria Trọn Đời Đồng Trinh, sau khi sống trọn cuộc đời trần thế, đã được triệu hồi cả hồn và xác vào trong vinh quang thiên quốc.” Kể từ lời tuyên bố trong thánh lễ tuyên tín long trọng hôm ấy, mầu nhiệm Đức Maria được Thiên Chúa đưa về trời cả hồn và xác, trở thành chân lý đức tin cho toàn thể thế giới Công giáo.
Chỉ trong một lời tuyên tín ngắn gọn và quan trọng để tuyên bố một tín điều, Đức Giáo Hoàng đã liệt kê cùng lúc đầy đủ bốn đặc ân vô cùng cao cả, ngoài Đức Maria không có bất cứ ai có được. Đó cũng là bốn chân lý tuyệt đối của lòng tin thuộc về đời sống và nhân đức riêng tư của Đức Maria mà mỗi người Kitô hữu phải tin:
- Đức Maria Thánh Mẫu Thiên Chúa, Mẹ được làm Mẹ Thiên Chúa.
- Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ không hề mắc tội tổ tông truyền từ ngay khi thành thai trong lòng mẹ.
- Đức Maria Đồng Trinh Trọn Đời, dù mang thai và sinh con, Mẹ vẫn trinh khiết vẹn toàn.
- Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, Mẹ được Chúa triệu hồi cả hồn và xác vào trong vinh quang thiên quốc, sống trong hạnh phúc vĩnh cửu.
Trong lịch Phụng Vụ, tháng Năm là tháng Hoa dâng kính Mẹ Maria, tháng Mười cũng dành kính Mẹ qua tràng chuỗi Mân Côi. Tháng Tám này, tuy Giáo Hội không chính thức dành để tôn kính Mẹ, nhưng lại là khoảng thời gian đặc biệt trong năm dành cho các cuộc hành hương kính Đức Mẹ. Cứ nhìn vào các cuộc hành hương được tổ chức trong và ngoài nước trong tháng 8 này thì chúng ta cũng thấy rõ lòng sùng kính và yêu mến Mẹ của người Công Giáo Việt Nam đặc biệt đến thế nào.
Ngày lễ hôm nay, Giáo hội mừng kính một tạo vật đầu tiên, Mẹ Maria đã được khải hoàn và bước vào quê hương thiên quốc.
Bầu khí phụng vụ mang một sắc thái vui tươi với những lời ngợi khen và chúc tụng Đức Trinh Nữ lên trời hiển vinh. Từ nay, Mẹ có vai trò quan trọng là Nữ Vương Trời Đất, Mẹ nhân loại.
Lên trời là lên ở đâu?
Lên trời là kiểu nói bị chi phối bởi cách suy nghĩ của chúng ta. Sống trong thời gian, các biến cố luôn xảy ra gắn liền với không gian. Trời không phải là môt nơi chốn, lên không phải là nơi đó cao hơn. Thời gian và không gian chẳng có ý nghĩa gì đối với Thiên Chúa vì Thiên Chúa siêu thời gian. Giáo hội mừng lễ Mẹ Lên Trời cả hồn lẫn xác là mừng việc Thiên Chúa đưa Mẹ ra khỏi trần gian bị tội lỗi làm nhiễm độc một ngày kia sẽ tiêu tan để tiến vào một thế giới mới trong đó Thiên Chúa ngự trị tuyệt đối. Mẹ được đưa về trời ở cùng Chúa Kitô trong vinh quang. Tín điều khẳng định : sự liên kết Đức Mẹ với Chúa Kitô Phục sinh trên trời cả hồn lẫn xác.
Mẹ chết rồi sống lại và về trời
hay là không phải chết?
Thế kỷ 19, một số người cho rằng Mẹ không phải phải chết, họ cho rằng Mẹ không mắc nguyên tội nên không chết vì sự chết là hình phạt của tội nguyên tổ. Đa số cho rằng Mẹ đã chết và sau đó sống lại. ĐGH Piô XII không nói đến vấn đề này, không nói Mẹ không phải chết cũng không nói Mẹ đã chết và đã sống lại mà chỉ rằng sau khi chấm dứt cuộc đời dương thế người được cất về trời cả hồn lẫn xác.
Có thể hiểu rằng: Mẹ đã chết rồi sống lại cũng như chính Đức Kitô đã chết và sống lại và Mẹ sống lại là nhờ quyền năng Chúa Kitô. Sự chết là hình phạt do tội lỗi gây nên. Adam-Eva bất tử trong địa đàng, vì phạm tội bất tuân nên đau khổ sự chết tràn vào trần thế. Sự chết không phải là hình phạt đối với Mẹ. Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội nên không nhận lấy hậu quả sự chết của tội Adam. Nhưng sự chết đối với Mẹ là một sự tự hiến dâng làm của lễ như Chúa Kitô. Vì thế, thân xác của Mẹ không thể hư nát như thân xác chúng ta. Thiên Chúa đã đưa thân xác Mẹ vào cõi vinh quang cùng với hồn để Mẹ hưởng vinh phúc trên thiên quốc. Từ đây cái chết đã thay đổi ý nghĩa : chết là về với Chúa, là niềm vui. Chúa Phục Sinh, Lên Trời là do thiên tính vì Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Mẹ sống lại lên trời là do hồng ân Thiên Chúa ban. Ý thức như vậy nên phụng vụ Giáo Hội gọi sự Phục Sinh Lên Trời của Chúa Giêsu là Ascenciô (đi lên). Đối với Đức Mẹ là Assumptio (được nhắc lên). Hồn Xác Lên Trời là một hồng ân cao cả mà Thiên Chúa ban cho Mẹ. Mẹ là người diễm phúc nhất trong mọi người nữ. Thiên Thần đã ngợi khen : Đấng đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng bà. Và Mẹ đã hát lên bài ca Magnificat: phận nữ tỳ hẹn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Mẹ được hết mọi đời khen là diễm phúc chính là vì Đấng Toàn Năng đã làm cho Mẹ biết bao điều cao cả. Điều cao cả nhất là làm Mẹ Chúa Cứu Thế. Mẹ là cây sinh quả phúc và nhờ quả phúc ấy mà Mẹ được biết đến và được ca tụng. Mẹ là cây trường sinh mang quả đầu mùa mà Thiên Chúa đã trồng trong vườn địa đàng mới hầu đem lại sự sống đời đời cho mọi thế hệ loài người. Chính vì thế mà Thiên Chúa muốn cho cây mang quả trường sinh ấy được nhân lên trong vườn địa đàng mà Người muốn mở rộng diện tích tới tận cùng trái đất.
Hằng năm đến ngày rằm tháng Bảy âm lịch (vào khoảng giữa tháng Tám) các chùa đều tổ chức lễ Vu Lan để các Phật tử đến cúng dường, cầu nguyện cho các vong linh được siêu sanh tịnh độ, và cầu cho cha mẹ có được đời sống an lành phước lộc. Đại Lễ Vu Lan là dịp các Phật tử nhớ ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ cha. Trong ngày này, nhớ ơn mẹ, ở Nhật có tục lệ cài hoa hồng lên áo. Người nào còn mẹ được cài lên áo hoa hồng đỏ, người nào không còn mẹ thì cài hoa hồng trắng. Một vị thiền sư Việt Nam đi du học ở Nhật thấy tập quán này hay và có ý nghĩa nên du nhập tập quán này vào Việt Nam. Bài hát quen thuộc và phong trào "Bông Hồng Cài Áo" được Phật tử hưởng ứng và phổ biến rộng rãi từ đó.
Tình mẹ thương con bao la như trời như biển. Nói đến tình mẹ thì không có thứ tình cảm nào đậm đà và cao quý như tình mẹ thương con. Đã có biết bao nhiêu vần thơ, bao nhiêu câu hò, điệu hát ca tụng tình mẹ thiêng liêng.
“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào,
Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào.”
Chẳng ai trong chúng ta lại không biết câu hát này. Với giai điệu thật mượt mà, sâu lắng, với ca từ thấm đẫm chất thơ gợi lên những hình ảnh thật bình dị, gần gũi, nhạc sĩ Y Vân đã viết thành một bài hát tuyệt vời ca ngợi tình mẹ.

Thương con mẹ nào có quản nắng mưa, có ngại gì sớm khuya vất vả… Tình mẹ mãi mãi là như thế, dẫu ở thời nào, dẫu thuộc nền văn minh văn hóa nào và dẫu ở đâu đâu tình mẹ cũng vẫn cứ mãi mãi là như thế.

Văn hoá Việt Nam gắn liền với cuộc sống và diễn tả tình cảm con người Việt Nam rất sâu sắc, nhất là diễn tả tình mẹ con, một thứ tình cảm thiêng liêng cao quý nhất, mà không ai trong chúng ta có thể chối từ. Ngay chính Con Một Thiên Chúa Nhập Thể Làm Người cũng đã nhận lấy con đường bình thường mà trân quý ấy. Maria, người nữ Sion đã vâng phục ngay từ ngày đầu khi thiên sứ truyền tin, nhận lấy những nhọc nhằn vất vả của vai trò làm Mẹ. Mẹ đã đảm nhận trọn vẹn thiên chức cao quý nhưng không thiếu khổ đau như bất cứ người mẹ nào trong nhân loại. Trong lòng tin, người mẹ ấy đã âm thầm vâng phục, đón nhận, lắng nghe và bước theo Con của mình trong hành trình cứu độ. Cuối cùng, người nữ ấy được Thiên Chúa đoái thương cất nhắc về Trời cả hồn lẫn xác, một trong bốn đặc ân cao cả Thiên Chúa đã ban cho Mẹ.

Mừng lễ Đức Mẹ Lên Trời một cách có ý nghĩa nhất, đó là ta hãy noi gương Đức Mẹ: xin Chúa Thánh Thần đến tràn ngập tâm hồn ta như Ngài đã đến trong lòng Đức Mẹ, giúp ta cảm nghiệm được những ơn lành Chúa ban và giúp ta mau mắn đáp lại tình yêu thương đó.

Trong cuộc hành hương nội tâm hay lữ hành nơi dương thế, chúng ta tin rằng có Mẹ Maria luôn cầu bầu che chở, trong niềm hy vọng sẽ được về trời với Mẹ, chúng ta nhìn lên Mẹ như mẫu gương của lòng cậy trông, kiên nhẫn với tin yêu để chia sẻ với người, với đời tình yêu mà ta đã nhận được với lời tha thiết nguyện xin.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
(Nguồn giaophanvinh.net)
 ***********
Đức Mẹ - Mẫu gương đức tin của chúng ta
2009-08-13 23:21:07
LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI Kn 11: 19a, 12:1-6a, 10ab; Tv 45; I Cor 15: 20-27;Lc 1: 39-56 Ít khi chúng ta được nghe đọc sách Khải huyền trong phụng vụ. Nếu Anh chị em là tôi thì chắc cũng ít khi giảng về sách Khải huyền. Và khi đọc Thánh Kinh chúng ta cũng ít khi đọc đến sách Khải huyền. Đây là một dịp giảng về sách Khải huyền, vì thế tôi sẽ chú trọng đến bài đọc thứ nhất, và thêm vài ý nghĩ về lễ hôm nay.
Khi tôi làm mục vụ ở trại tù San Quentin ở California, một trại tù cho những tù trọng án, tôi rất ngạc nhiên những người tù đọc Thánh Kinh lại thích sách Khải huyền. Vì sao họ lại thích sách đó, và những gì đã thu hút họ? Trong sách Khải huyền có nhiều điển tích quá đáng thương làm giáo dân ít khi đọc. Tôi bắt đầu hiểu những người tù thích đọc sách Khải huyền vì sách đó diễn tả sự tranh chấp giữa thiện và ác. Và họ hy vọng một ngày nào đó sự trừng phạt nặng nề họ đang chịu sẽ được bãi bỏ. Đây cũng là sự ao ước của những Kitô Hữu tiên khởi sống dưới thời bị đô hộ của đế quốc La Mã bách hại họ. Và cũng để an ủi những tù nhân phía bắc trại San Quentin. Đó cũng là tin an ủi cho tất cả chúng ta, những người phải chống lại sức mạnh của “Con mãng xà” trong thế giới ngày nay.

Một điểm khác nữa thu hút sự chú ý của các tù nhân, họ tin là biết được mật mã, và họ biết tìm ra những dấu hiệu và những hàm ý chính trong sách Khải huyền. Họ cảm nhận ra họ là một thành phần có sự hiểu biết đặc biệt, và những kẻ khác đều không hiểu gỉ cả. Họ còn tự cao về sự “hiểu biết” đó, đối với những người cùng hoàn cảnh như họ. Nhưng, mặc dù họ có những ý nghĩ sai lầm về sách Khải huyền, chúng ta cũng có thể hiểu vì sao họ thích sách ấy vì những lời tiên và viên tướng trong đó. Sách Khải huyền nói đến những người bị trừng phạt nặng nề.

Sách Khải huyền được viết cho những Kitô Hữu thời tiên khởi, vì họ bị bắt buộc phải thờ kính Hoàng Đế La Mã. Nếu họ không làm như thế, họ sẽ bị trừng phạt về tôn giáo và về chính trị nữa. Kitô Hữu phải chọn một Chúa để thờ. Nếu họ chọn Chúa về tôn giáo, họ sẽ bị giết. Sách Khải huyền không phải là một sách trừu tượng, về những hình ảnh kì lạ và những mẫu chuyện hợp thời. Sách Khải huyền được viết để giúp Kitô Hữu trung thành với đức tin, và để giúp họ hiểu Con Chiên (như trong bài đọc hôm nay, người con) sẽ được toàn thắng.

Đối với chúng ta, chúng ta có thể hiểu và tin là đức tin của chúng ta sẽ mạnh mẽ không? Lượt qua báo hôm nay thì lại thấy thêm xe gài bom khủng bố ở Iraq. Dân quân vũ trang vẫn còn chém giết ở Sudan; ở các nước nhược tiểu bệnh nhân AIDS còn chết nhiều vì thiếu thuốc men; ở Gaza vẫn còn tranh chấp giữa người Israel và người Palestin v.v… Chúng ta thử tự hỏi “Ai là người làm chủ hiện nay?”. Thế giới bị sự dữ hoành hành ghê sợ. Thiện và ác, sức nào sẽ thắng? Chúng ta, những người có đức tin đứng ở bên thắng, hay sức yếu hèn của chúng ta sẽ ta dần trước sức mạnh của “con mãng xà đỏ có 7 đầu và 10 sừng”?

Sách Khải huyền muốn cam đoan cho chúng ta biết là sự thiện sẽ thắng. Cũng như những Kitô Hữu thời tiên khởi, chúng ta có thể bị mặc cảm rồi bỏ rơi những việc làm chúng ta cam kết vì đức tin, trước ánh sáng và quyền lực của sự ác. Chúng ta, những Kitô Hữu theo vị Chúa nào? Thiên Chúa đang ở đây, và chúng ta muốn và có thể trung thành với Ngài là Thiên Chúa của Thánh Kinh và của công chính. Ngài sẽ làm mọi nên công chính. Sách Khải huyền mời gọi chúng ta hướng mắt về Thiên Chúa sẽ thấy sức mạnh ghê gớm của con mãng xà, đuôi nó quét hết một phần ba các ngôi sao trên trời. Nhưng, người con trai sinh ra thì được đưa ngay lên Thiên Chúa và sẽ thắng.

Trong sách Khải huyền không có mật mã nào để giúp chúng ta giải thích những lời đó, và các lời đó giúp chúng ta tưởng tượng ra nhiều cách khác nhau để giải thích. Sự chiến đấu chống sự đe dọa của cái xấu của sự ác đang muốn cuốn trôi tất cả sự thật là có thật. Một dân tộc mới; cộng đoàn Kitô hữu; được sinh ra trong đau đớn và quằn quại. Nhưng mặc dù có đe dọa đến sự sống của người con, người con ấy được Thiên Chúa đưa ngay lên trời và được bằng an. Ai đọc sách này cũng hiểu là đây là Thánh Kinh Do Thái. Cũng như Thiên Chúa đã che chở cho người Do Thái, Nay Ngài sẽ tiếp tục che chở cho dân tộc mới của Người. Lời Chúa không phải là lời nói trong quá khứ, mà giúp dựng nên, che chở cho dân mới mà Chúa Giêsu đã hiến thân trong hiện tại.

Cộng đoàn Kitô hữu mà thánh Gioan nghĩ đến đang gặp rất nhiều khó khăn. Sách Khải huyền khuyến khích họ tin tưởng vào Thiên Chúa vì Thiên Chúa thấu hiểu sự đau khổ của họ, và Ngài sẽ đến cứu họ. Sự ác không thắng được. Vì thế, bài sách Khải huyền đọc trong ngày lễ Đức Mẹ lên trời hôm nay liên kết với bà ca ngợi của Đức Maria. Đức Maria mừng rỡ trong việc cứu chuộc của Thiên Chúa. “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh… dẹp tan lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế…” Rõ là Thánh Kinh được ghi ra hai hình thức, để nói lên một sự hy vọng vào Thiên Chúa. Thánh Gioan không viết tiên đoán cho tương lai. Nhưng ông viết sách Khải huyền để khuyến khích và an ủi những Kitô Hữu trong thời đó, đang trải qua bao đau khổ hầu giúp họ, và giúp cả chúng ta giữ vững sự trung tín vào quyền uy và lẽ công chính của Thiên Chúa sẽ chiến thắng.

Hôm nay Giáo hội mừng lễ Đức Mẹ Lên Trời. Chúng ta thấy Đức Mẹ là mẫu gương cho đức tin của chúng ta. Cũng như Đức Mẹ, chúng ta đem Chúa Kitô đến thế gian này. Chúng ta nên nhớ là tuy Chúa Kitô đau khổ, nhưng Ngài đã được Thiên Chúa giữ gìn Ngài. Ngài trở về lại với Thiên Chúa và Ngài sẽ trở lại để đưa tất cả chúng ta đến nơi an nghỉ với Ngài. Vậy thì con mãng xà không thắng được. Người Kitô Hữu đang chiến đấu với sự ác có thể nói lên rằng “Thiên Chúa, Đấng cứu độ đã đến”. Thiên Chúa, nguồn ao ước của chúng ta đang đưa tay cứu giúp chúng ta ngay lúc này là lúc chúng ta đang chiến đấu

Chuyển ngữ FX Trọng Yên, OP
Lm Jude Siciliano, OP
************

Trái Tim Yêu Thương: Lễ Thánh Tâm - Ngày Thế Giới Xin Ơn Thánh Hoá Linh Mục
2009-06-20 16:07:33

Nếu một ngày kia trái tim này ngừng đập và tôi đã trở thành người thiên cổ, nhưng trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa tôi đang an nghỉ. Hôm nay, lúc này, xin tạ ơn Chúa, trái tim tôi vẫn còn nhịp đập. Và như vậy là tôi đang sống, đang hạnh phúc trong tình yêu của Thiên Chúa.



Tháng 6 hằng năm được phụng vụ dành riêng cho việc kính thờ Trái Tim Chúa Giêsu. Tháng Trái Tim, bầu khí thiêng liêng thổi hơi ấm đạo đức bao phủ các cộng đoàn giáo xứ. Một cuộc trao đổi giữa trái tim tín hữu với trái tim Chúa Giêsu, giữa các trái tim tín hữu với cuộc đời.

Tấm lòng người Công giáo Việt Nam đối với Thánh Tâm đúng là tâm tình đạo đức nhiệt thành. Tâm tình này là một cách đáp trả lòng thương xót đặc biệt mà Chúa dành cho chúng ta. Trái tim là trung tâm điểm của tình yêu. Thiên Chúa là tình yêu, nên nói tới tình yêu Thiên Chúa, chúng ta liên tưởng tới Trái Tim Chúa Giêsu.

Như trái tim

Trái tim là nguồn phát máu đi nuôi thân thể con người, khi nào trái tim ngừng đập, lúc ấy không còn sự sống nữa. Trái tim làm việc kinh khủng để cung cấp máu, không hề nghỉ một giây phút, từ lúc con người sinh ra cho đến lúc chết. Tính ra mỗi phút trái tim chuyển được 10 lít máu, mỗi giờ được 600 lít, một ngày được 14.000 lít, một năm được 5.110.000 lít. Và nếu ai sống được 60 tuổi thì trái tim đã làm việc để chuyển đi được 30.000.000 lít máu. Một ngày, tim đập được 100.000 lần, có một sức mạnh tổng cộng có thể nâng được một toa xa hỏa nặng 45 tấn lên cao một mét. Quả tim có sức mạnh phi thường, không ai ngờ được. Trái tim, một công trình tạo dựng siêu bền. Rất nhỏ được đặt trong lồng ngực, nhưng hoạt động cách không thể ngờ. Mỗi người với 24 giờ, trái tim bơm và lọc được 14.000 lít máu. Thật bất ngờ khi biết được con số, điều bất ngờ không dừng ở đấy và tôi khám phá ra công việc bơm và lọc 14. 000 lít máu của trái tim, cho tôi 24 giờ sống tinh tuyền nhất mặc dù rất nhiều bất toàn trong tôi.

Tôi nhớ đến Lời Chúa nói qua tiên tri Edêkiel với toàn thể dân Do thái: “Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới. Bên trong các ngươi Ta sẽ ban xuống một thần khí mới”. Lời ấy như một Lời tái tạo con người cũ thành con người mới. Như trái tim lọc những dòng máu dơ bẩn khi đi qua các ngõ ngách của cơ thể, để thay vào đó dòng máu tinh tuyền và mang sức sống nuôi dưỡng và làm phát triển toàn thân. Thiên Chúa đang từng giây phút thanh lọc tôi bằng Lời của Người qua dòng đời tôi đang sống. Lời đã sáng tạo và Lời hằng làm nên cái mới. Thiên Chúa đang làm nên những cái mới lưu chảy trong tim tôi. Từng phút giây, Người vẫn không ngừng đổ rót hồng ân Thánh Thần đổi mới cuộc sống trong tôi. Kìa cái cũ đang qua đi và cái mới đang thành sự.

Như công việc của trái tim, tôi không thấy cụ thể những điều trái tim đang làm việc, nhưng tôi biết trái tim vẫn không ngừng rung nhịp đập với trung bình 70 lần một phút trong tôi. Theo từng nhịp đập của trái tim ấy, Thiên Chúa đang hoạt động trong tôi, bởi vì tôi biết rằng Người đã dựng nên tôi, Người cho tôi sự sống và sự sống ấy không ngừng lưu chuyển, cho đến khi tôi được yên nghỉ trong Người. Nếu một ngày kia trái tim này ngừng đập và tôi đã trở thành người thiên cổ, nhưng trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa tôi đang an nghỉ. Hôm nay, lúc này, xin tạ ơn Chúa, trái tim tôi vẫn còn nhịp đập. Và như vậy là tôi đang sống, đang hạnh phúc trong tình yêu của Thiên Chúa. Khám phá ra điều này, tôi nhận thức rằng, mỗi ngày tôi có cả ngàn lý do để tạ ơn Chúa. Sự sống nào không phải là hồng ân Chúa ban tặng để tạ ơn Người luôn mãi?

Như chức năng lọc của trái tim, Thiên Chúa đang thanh luyện cuộc đời tôi bằng Thánh Thần của Người. Lọc những vị kỷ để còn vị tha. Lọc hiềm thù để còn yêu thương. Lọc những gì là ô uế để còn những gì tinh trong. Nếu trái tim không lọc rửa, dòng máu sẽ trở thành dòng sông đem đến chết chóc. Nếu Thánh Thần không được ban xuống trong tôi, như trái tim không còn lọc tẩy, cuộc sống tôi sẽ chết dần chết mòn trong ô uế và tội lỗi. Thánh Thần đang đổi mới cuội đời tôi.

Như chức năng của máu là nuôi dưỡng những phần nhỏ nhất của cơ thể, Thiên Chúa đang tháp nhập toàn bộ cuộc sống này của tôi vào lòng yêu thương của Người bằng cách thẩm thấu. Nếu dòng máu bơm đi từ tim không tới được phần cơ thể nào, cơ thể ấy sẽ chết, và sớm cần được cắt rời khỏi thân thể. Thiên Chúa sống trong tôi và đó là điều tôi cảm nghiệm trong dòng máu lưu chuyển châu thân này, nên tôi biết trong thân thể mỏng giòn yếu đuối này, tôi cần được tham dự vào sự sống của Người.

Hãy yêu như đang sống.

Hãy sống như đang yêu.

Yêu để sự sống tồn tại.

Sống để tình yêu có mặt.

Tình yêu làm hỗn mang trở nên mầu nhiệm sự sống. Và cũng chính tình yêu ấy làm cho sự sống trường tồn bất diệt khi vượt qua sự chết. Thiên Chúa đã bước vào trần thế bằng thân thể, bằng hình hài, và mang trái tim bằng thịt. Cuộc sống trở nên kỳ diệu khi Thiên Chúa biểu lộ bằng trái tim của nhân loại. Thiên Chúa, Người yêu thương tôi bằng trái tim con người và bằng trái tim của Thiên Chúa. Sự chết không thể chôn kín được tình yêu, bởi sức mạnh của tình yêu là làm cho sống. Một trái tim bằng thịt, không phải là bằng kim khí hoạt động như chiếc động cơ do con người chế tạo. Bằng thịt nên trái tim dễ bị tổn thương, và trái tim được đặt vào lồng ngực được những hàng rào xương sườn che chắn. Thiên Chúa biết tôi mỏng giòn và là bình sành dễ vỡ nên người yêu thương tôi, bao bọc tôi bằng ân sủng của Người. Tình yêu của Thiên Chúa khiến tôi không ngừng tự hỏi: “Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm”. Người yêu thương tôi nhưng sao Người lại đặt trái tim của Người bên ngoài lồng ngực của Người” ?

Xin ơn thánh hoá các linh mục

Trong lịch Phụng vụ, ngày lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu được ghi là ngày thế giới xin ơn thánh hoá các linh mục.

Chỉ mấy dòng chữ đó thôi cũng gợi cho chúng ta thấy:

- Thánh hoá các linh mục đang trở thành một nhu cầu thế giới.

- Thánh hoá các linh mục là một ơn ta phải xin với Chúa.

- Thánh hoá các linh mục được hiểu một cách cụ thể là theo mẫu gương Thánh Tâm Chúa.

Cầu nguyện cho linh mục với tâm tình kính trọng và cảm thương chân thành

Kính trọng và cảm thương nói đây là một yêu cầu đạo đức của nhân bản, của văn hoá, nhất là của Phúc Âm.

Bởi vì linh mục mang rất nhiều bổn phận quan trọng đáng kính và đáng được nâng đỡ.

Thực vậy, Ngài có bổn phận phải sống mật thiết với Chúa, Đấng đã ban cho ngài chức quyền cao quý.

Ngài có bổn phận phải hiệp thông chặt chẽ với Hội Thánh, một thực thể được Chúa thiết lập như dụng cụ và dấu chỉ của sự cứu rỗi.

Ngài có bổn phận phải cộng tác một cách khiêm nhường và hiếu thảo với Đức Giám Mục của ngài.

Ngài có bổn phận phải phục vụ cộng đoàn được trao phó. Phục vụ theo gương Chúa Giêsu, "Đấng đến không để được hầu hạ mà để hầu hạ" (Mc 10,45), Đấng nên gương phục vụ hết tình qua việc rửa chân cho các môn đệ (x. Ga 13,5) trước khi tự nguyện đi vào cuộc thương khó dẫn đến cái chết trên thánh giá (x. Ga 20,21).

Ngài có bổn phận phải loan báo Tin Mừng và làm chứng về Chúa cho mọi người, cho quê hương yêu dấu.

Kể ra bằng ấy bổn phận vẫn chỉ là phác hoạ sơ sài hình ảnh linh mục. Nhưng hình ảnh thô sơ đó vẫn mang những chiều kích thiêng liêng rất đáng kính trọng.

Những chiều kích thiêng liêng ấy là những tiếng gọi khác nhau của tình yêu Thiên Chúa.

Điều quan trọng là linh mục biết đón nhận những tiếng gọi ấy. Và khi ý thức được đúng những đòi hỏi của những tiếng gọi ấy, linh mục sẽ càng cảm thấy mình rất cần đón nhận ơn Chúa và những đỡ nâng của bất cứ ai. Bởi vì, các ngài mang thân phận con người, cảm nghiệm thấm thía những yếu đuối, những bất xứng và những giới hạn của mình.

Vì thế, dù các linh mục của ta đạo đức đến đâu, chúng ta vẫn hãy cứ cầu nguyện cho các ngài. Phương chi khi các ngài có vẻ như bị rơi vào một cảnh khó khăn nào đó, chúng ta càng cần cầu nguyện cho các ngài.

Trong bất cứ trường hợp nào, chúng ta hãy cầu nguyện với tâm tình kính trọng và cảm thương. Việc cầu nguyện như thế chắc chắn sẽ rất đẹp lòng Chúa. Đó cũng là một cách chúng ta tỏ lòng biết ơn và đền ơn đối với Chúa, Hội Thánh và các linh mục.

Cùng với tâm tình kính trọng và cảm thương, chúng ta còn cần cầu nguyện cho linh mục với tâm tình khiêm tốn cộng tác với Chúa.

Cầu nguyện cho linh mục với tâm tình cộng tác với Chúa

Tâm tình cộng tác với Chúa nói đây là cầu cho các linh mục được sống theo thánh ý Chúa.

Những điều Chúa muốn nơi linh mục thì nhiều. Nhưng điều Chúa muốn hơn hết nơi ngài là ngài hãy đặt đời sống thiêng liêng lên hàng đầu. Trong cuốn "Hướng dẫn sứ vụ và đời sống linh mục", Toà Thánh quả quyết đời sống thiêng liêng phải chiếm địa vị ưu tiên tuyệt đối nơi linh mục.

Đời sống thiêng liêng cốt ở sự "ở lại với Chúa" (Mt 3,14). Nó được tồn tại và tăng cường bằng việc cầu nguyện. Cầu nguyện liên lỉ theo gương Chúa Giêsu. Cầu nguyện thiết tha cùng nhịp với Hội Thánh.

Nhờ đời sống thiêng liêng đó, linh mục mới có thể làm chứng hữu hiệu cho Chúa qua đức ái vô vị lợi, qua đức vâng lời khiêm tốn, qua đức khó nghèo và khiết tịnh từ bỏ chính mình, qua đức nhiệt thành rao giảng Lời Chúa.

Thiếu đời sống thiêng liêng, người linh mục sẽ dễ rơi vào hoàn cảnh làm linh mục, chứ không thực sự là linh mục của Chúa.

Vì thế, khi cầu cho linh mục, ta nên khẩn khoản xin Chúa cho linh mục được sống theo thánh ý Chúa, tức là ưu tiên biết lo cho đời sống thiêng liêng của mình.

Nếu đời sống thiêng liêng nơi một linh mục dần dần trở nên khô cạn, rồi cả linh mục lẫn cộng đoàn của linh mục coi đó là chuyện bình thường, không chút áy náy, thì tình hình đạo nơi đó sẽ khó tránh khỏi những hậu quả đáng lo ngại.

Công bằng mà nói, nhiều trường hợp đời sống thiêng liêng nơi linh mục bị giảm sút, cũng một phần do những yếu tố bên ngoài tác động. Trong những yếu tố bên ngoài đó, không thiếu yếu tố nội bộ. Ngoài ra, ác quỷ vô hình bao giờ cũng rất hăng say tìm cách làm hư những người theo Chúa. Mưu mô của chúng thường được trá hình dưới nhiều hình thức và động lực mang màu đạo đức.

Vì thế, cầu cho ơn thánh hoá linh mục nhiều khi cũng nên kèm theo việc xin Chúa thanh luyện cơ chế, bầu khí và cộng đoàn mà linh mục cùng chung sống.

Chia sẻ trên đây của tôi chỉ là một ý kiến nhỏ về một vấn đề lớn.

Mong rằng, thao thức này cũng được kể như một lời cầu nguyện chân thành tha thiết hiệp thông. Với ý thức rằng: Vấn đề này đang và sẽ còn trở thành phức tạp. Nó sẽ là một thử thách lớn cho Hội Thánh toàn cầu nói chung và cho Hội Thánh Việt Nam nói riêng.

Tuy nhiên, nếu chúng ta vững tâm cầu nguyện với Thánh Tâm Chúa, thì vấn đề này, dù khó khăn đến đâu, cũng sẽ được giải quyết tốt đẹp. Các linh mục của chúng ta sẽ được ơn phản chiếu tình yêu cứu độ của Thánh Tâm. Dù trong hoàn cảnh nào, các ngài sẽ là những linh mục của Thánh Tâm, dấn thân đưa tình yêu Chúa vào các linh hồn đang đợi chờ Nước Chúa (theo ĐGM JB Bùi Tuần)

Mừng kính trái tim Chúa Giêsu, xin cho các linh mục được có con tim nhạy cảm, tấm lòng yêu thương như Chúa để các Ngài luôn trung tín, sẵn sàng hy sinh cho tình yêu, cho đàn chiên.

“Thánh Tâm Chúa Giêsu,nguồn êm ái dịu dàng, xin hãy ban xuống lòng con tràn lửa say yêu một Chúa... Xin thương những người đã dám vô tình xúc phạm đến Thánh Tâm Cha.”

LM Giuse Nguyễn Hữu An
VietCatholic News (18 Jun 2009 16:11)


Trái Tim Yêu Thương: Lễ Thánh Tâm
Ngày Thế Giới Xin Ơn Thánh Hoá Linh Mục

Lời Chúa: Hs 11,1.3-4,8c-9;Ep 3,8-12.14-19; Ga 19,31-37

***********
Nếu Chúa Gọi Bạn Làm Linh Mục
2009-06-20 15:29:13

Bạn sẽ thấy trong thế giới này vang lên lời ca tụng Thiên Chúa, một vũ trụ hữu hình và vô hình tuyệt hảo, có rất nhiều người và nhiều dân tộc có một lịch sử làm cho chúng ta say mê. Bạn nhận thấy trong thế giới này có một âm diệu tuyệt vời thầm kín mà người hòa âm chính là Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên mọi sự mọi vật và luôn góp phần vào điệu hát của bạn.


Nếu Chúa Gọi Bạn Làm Linh Mục
Bài giảng của Đức Hồng Y Lustiger trong Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi

Nếu Chúa gọi bạn, thì bạn sẽ nhận biết ngay. Trong thế giới ngày nay nơi chúng ta đang sinh sống, là một thế giới thờ ơ và lãnh đạm vì những khốn cùng và im lặng, một thế giới bị tàn phá mà ở đó tuồng như vắng bóng của Thiên Chúa, nhưng trong tim của bạn đang bùng cháy lên một ngọn lữa nhiệt tình của Thiên Chúa và bạn nhận biết tiếng của Ngài, không phải chỉ dành riêng cho bạn mà còn cho những ngưòi anh em của bạn nữa. Sự hiện diện này trổi lên một hòa âm trong vũ trụ, không phải mất hút đi trong sa mạc, hoặc tan biến đi trong một thế giới vô nghĩa, mà lan tràn ra trong một thế giới đầy những vẻ đẹp.

Bạn sẽ thấy trong thế giới này vang lên lời ca tụng Thiên Chúa, một vũ trụ hữu hình và vô hình tuyệt hảo, có rất nhiều người và nhiều dân tộc có một lịch sử làm cho chúng ta say mê. Bạn nhận thấy trong thế giới này có một âm diệu tuyệt vời thầm kín mà người hòa âm chính là Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên mọi sự mọi vật và luôn góp phần vào điệu hát của bạn. Đời sống của bạn là một bản tình ca mà bạn muốn hát lên và bạn luôn muốn cầu xin. Đến nổi bạn muốn hiến dâng đời bạn cho Ngài. Món quà mà Chúa ban cho bạn là sự hiện diện của bạn ở thế giới này sẽ không bị hư mất mà là một nguồn mạch hạnh phúc vô biên. Nếu Chúa gọi bạn thì tất nhiên bạn biết ai là Đấng đang mời gọi bạn.

Nếu Chúa gọi bạn thì bạn đừng có buồn khi bạn thấy chung quanh bạn chỉ toàn những điều làm cho bạn chán nãn như hận thù, những khốn cùng, những bất công đang ngự trị, Bạn buồn nãn tức giận khi thấy con người đang chém. giết lẫn nhau. Bạn sẽ thất vọng khi thấy sự khốn cùng đè nặng lên con người. Bạn sẽ không bịt tai lại khi bạn nghe tiếng kêu la thảm thiết của những kẻ chống đối, tiếng khóc lóc của những người hấp hối, tiếng kêu khóc của trẻ thơ đang dẩy chết.. Bạn không còn nổi loạn với chính mình khi thấy những dối trá và những lời nguyền rủa, Bạn sẽ không nói: Điều đó được ích gì? Bạn sẽ không chán nãn cầu xin lìa khỏi cuộc đời ô trọc này. Tại sao? Nếu Chúa gọi bạn, bạn sẽ nhận biết hình ảnh của Chúa Kitô, đầy lòng thương xót, tràn đầy tình yêu thương và tràn đầy lòng ưu ái. Bạn sẽ nhận thấy sự hiền dịu bao la của Thiên Chúa đón nhận lòng thương xót của Chúa Kitô, một con người từ bỏ mình để tìm lại chính mình, người chết đi để sống lại và khi đó bạn sẽ ước ao để đi theo Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc đau khổ, cho đến khi bị bỏ rơi hoàn toàn hầu để cho nhân loại không còn bị bỏ rơi nữa.

Nếu Chúa gọi bạn, thánh giá sẽ là ánh sáng tuyệt vời của đời sống bạn chứ không còn là một thất bại ở giữa trần gian.Thánh giá đối với bạn là cây của sự sống chứ không phải là cái thập giá của sự chết. Thánh gía đối với bạn là chìa khóa để hiều biết về thế giới bạn đang sống. Nếu Chúa gọi bạn, và bạn quyết theo Chúa Kitô trong cuộc khổ nạn của Ngài để hòng cứu vớt những người anh em của mình thì bạn đừng sợ.

Nếu Chúa gọi bạn, thì đừng sợ hãi. Nếu Chúa gọi bạn thì đôi môi câm lặng của bạn sẽ vang lên lời của Chúa Kitô rao truyền và mọi người đều nhận biết.. Nếu Chúa gọi bạn thì mọi tội lỗi của bạn được tha thứ và bạn sẽ nhân danh Chúa mà tha tội lỗi cho kẻ khác dù bạn cảm thấy mình là bất xứng.. Nếu Chúa gọi bạn thì bạn là thừa tác viên và là người tôi tớ của thân xác tan nát để trở thành bánh của sự sống hầu nuôi sống nhân loại.

Nếu Chúa gọi bạn, bạn sẽ bị nguời đời thóa mạ, họ sẽ nói xấu bạn, bạn sẽ bị hiểu lầm, nhưng đó là bạn được chia sẻ số phận của Chúa Kitô. Chúa, bị nguyền rủa, không nguyền rủa trả lại, nhưng chỉ tha thứ, Chúa bị bỏ rơi, nhưng Chúa lại đi tìm lại những kẻ lạc loài trở về lại với Chúa Cha là Cha của chúng ta. Nếu Chúa gọi bạn thì bạn đừng sợ phải hiến dâng cuộc đời bạn, bởi vì một khi hiến dâng thì bạn được kết hợp cùng Chúa Giêsu Kitô.

Nếu Chúa gọi bạn, lòng của bạn sẽ được mở rộng ra trong tình yêu và bạn sẽ không còn nghi ngờ gì nữa. Bạn sẽ yêu mến nhân loại, không phải như những kẻ đồng hành mà người đời tìm kiếm. Cũng không phải như tình huynh dệ mà con người tìm kiếm dể tránh khỏi cô đơn của một con tim lang thang mà không biết tìm ở đâu một chút nòng ấm cảm thông. Không! Bạn sẽ hết lòng yêu mến tất cả mọi người. Bởi vì nơi những con người khác bạn sẽ nhận biết như một người anh em, một kho tàng quý báu mới mẽ.. Bạn sẽ yêu mến dân này, dân mà chính Chúa Kitô đã tu họp lại và bạn sẽ là người mục tử.. Bạn sẽ yêu mến dân này, dân này sẽ cưu mang bạn; nhưng cũng có thể đánh bạn, tuy vậy dân này sẽ nâng đỡ bạn và là sức mạnh của bạn. Giáo Hội như một người mẹ hiền từ đầy lòng yêu thương và an bình luôn thờ phượng và ca tụng Thiên Chúa và là nguồn cứu độ cho toàn thể nhân loại.

Nếu Chúa gọi bạn, thì đừng sợ hãi, bạn sẽ nhận biết tiếng Chúa, hãy bước đi theo Ngài. Nếu Chúa gọi bạn, thì dừng sợ hãi, Chúa Thánh Thần là sự sống của đời ban.

Đức Hồng Y Lustiger
Pt Huỳnh Mai Trác phỏng dịch
VietCatholic News (17 Jun 2009 18:27)

************


LƯƠNG THỰC CHO CUỘC LỮ HÀNH
2009-06-12 16:04:15

Phụng Vụ Thánh Thể công bố mối dây sự sống nối kết Thiên Chúa với dân của Ngài. Cũng như dòng máu chảy từ tim nối kết mọi chi thể trong một dòng chảy sự sống, cũng thế chúng ta được nên một với Chúa cách mật thiết nhờ Mình và Máu Chúa Giêsu.

LƯƠNG THỰC CHO CUỘC LỮ HÀNH
Suy niệm Thánh Kinh ngày lễ trọng Mình Máu Thánh Chúa

Lm Thomas Rosica


Cha Thomas Rosica dòng Basiliô, giám đốc điều hành của Tổ Chức “Salt and Light” (Muối và Ánh Sáng), Cơ Quan Truyền Thông và Mạng Truyền Hình Công Giáo Canada, là cố vấn của Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông Xã Hội, gửi đến một vài suy tư nhân ngày lễ trọng Mình Máu Thánh Chúa Kitô, kỷ niệm một năm Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế lần thứ 49 tại Quebec.


Phúc Âm ngày lễ hôm nay (Mc 14,12-16.22-26) nối kết việc Chúa Giêsu chịu chết với ngày lễ trọng Vượt Qua của dân Do Thái.

Trong ngày Vượt Qua đầu tiên, vết máu trên ngưỡng cửa đã ngăn không cho cái chết đụng tới những người con trai đầu lòng. Tấm bánh bẻ ra trong bữa Tiệc Ly tuợng trưng cho việc các môn đệ tham dự vào việc Chúa Giêsu tự hiến. Một mối liên kết mới sống động được thiết lập nhờ uống chung một chén máu của Ngài. Máu Chúa Giêsu thánh hoá và tái sinh mỗi người chúng ta. Cử hành Thánh Thể có một cái gì đó khác với mọi thứ tưởng niệm khác. Đó là tưởng niệm và đồng thời là cùng hiện diện nữa, ngay cả khi nó được ẩn giấu dưới dấu hiệu bánh và rượu.

Phụng Vụ Thánh Thể công bố mối dây sự sống nối kết Thiên Chúa với dân của Ngài. Cũng như dòng máu chảy từ tim nối kết mọi chi thể trong một dòng chảy sự sống, cũng thế chúng ta được nên một với Chúa cách mật thiết nhờ Mình và Máu Chúa Giêsu. Chính bản tính của Thánh Thể bao hàm một mối liên kết với Chúa và với cộng đoàn. Thân phận của chúng ta gắn chặt với sự sống của chính Thiên Chúa. Chúng ta không phải là những người cô độc, vì được liên kết trong cùng một dòng máu.

Cử hành lễ trọng Mình và Máu Chúa năm nay, chúng ta ghi nhận điều này: hằng ngày chúng ta cử hành tiệc Thánh Thể, thế nhưng chúng ta cũng dành ra một ngày trong năm để cử hành bữa tiệc của mọi bữa tiệc hằng ngày đó. Chúng ta không chỉ cử hành việc bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa mà còn cử hành việc những người thông phần Mình và Máu đó được trao ban một căn tính mới và trở nên chính điều mà họ vừa ăn vừa uống lấy.

Niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh có thể trở thành một mớ ý tưởng bị thui chột hoặc nguy hiểm nếu nó không thúc đẩy chúng ta thực sự chia cơm sẻ bánh cho những anh chị em đang đói. Chúng ta không thực hiện một hành vi xã hội và chính trị nhưng là một cử hành bí tích, một việc làm để tưởng niệm, để nhớ: nhớ cuộc sống và cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, trong niềm xác tín vào cuộc phục sinh và được tôn vinh là Chúa, ngự trong vinh quang của Thiên Chúa, để làm trạng sư cho những người nghèo khổ, bị áp bức và không cơm không bánh. Khi lãnh nhận Thánh Thể, chúng ta tham dự với Đấng đã trở nên của ăn của uống cho mọi người. Mỗi khi cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta có ý thức rằng Chúa Kitô Thánh Thể thực sự hiện diện như tấm bánh cho người nghèo đói không?

Kitô giáo, Công giáo, các bí tích, cách riêng bí tích Thánh Thể, không phải là những ý niệm thần học, những giáo trình, những sự vật, những ý tưởng, những hình ảnh tưởng tượng hay biểu tượng chóng qua, mà là một con người sống động, tên người ấy là Giêsu.

Đại Hội Thánh Thể Quebec

Trong lịch sử Kitô giáo, vào những lúc khủng hoảng, nhiễu nhương, Chúa lại khẳng quyết sự hiện diện thực sự của Ngài trong Bí Tích Thánh Thể bằng những phép lạ. Hầu hết những phép lạ Thánh Thể này đều liên quan đến việc Bánh Thánh “trở nên thịt và máu con người.” Người ta nhớ ngay đến những phép lạ ở Bolsena và Orvieto bên Ý, và dĩ nhiên có cả câu chuyện phép lạ nổi tiếng ở Lanciano, cũng ở Ý. Những câu chuyện đó thường có vẻ xa vời với kinh nghiệm của chúng ta và lắm khi khá là khó tin. Thời nay những chuyện phép lạ như thế không còn là những đề tài nóng của thần học và tu đức đương đại nữa và thường bị đẩy xuống lãnh vực của lòng đạo đức và tôn sùng lạc điệu.

Người Công giáo chúng ta vẫn tin rằng Bánh Thánh được thánh hiến là chính Mình, Máu, Linh Hồn và Thần Tính của Chúa dưới hình bánh và rượu. Vì thế, qua những phép lạ Thánh Thể, Chúa Giêsu biểu lộ sự hiện diện của Ngài bằng một đường lối khả giác hơn. Có người sẽ nói với chúng ta rằng thực ra không cần những biểu hiện ngoại thường như thế mới có thể chứng thực điều chúng ta đã biết và đã tin. Họ nói rằng những phép lạ phi thường ấy không phải là yếu tính của sự hiểu biết cũng như lòng sung mộ đích thực đối với Bí tích Thánh Thể.

Tôi có một suy tư về một biến cố phi thường về Bí Tích Thánh Thể đã ghi đậm dấu ấn trong Giáo Hội tại Canada và cũng  đánh động nhiều miền trên thế giới nữa.

Suốt một tuần lễ từ 15-22 tháng 6 năm ngoái 2008, tôi đã tái khám phá đâu là điều cốt yếu của những phép lạ Thánh Thể, chỉ có điều lần này điều đó không xảy ra ở những giáo hội kỳ cựu tại Âu Châu. Cùng với 15.000 người đến từ Canada và từ 75 quốc gia khác, tôi đã thấy Bí Tích Thánh Thể trở thành sống thực một cách hết sức mạnh mẽ tại một sân vận động khúc côn cầu trong Hý Trường Pepsi của thành phố Quebec, trong dịp Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế lần thứ 49.

Trong bài giảng khai mạc, Đức hồng y Josef Tomko, 84 tuổi người Slovakia, đặc sứ Toà Thánh tại Đại Hội, đã nói: “Chúa Giêsu là quà tặng của Thiên Chúa, là lương thực nuôi dưỡng chúng ta, kiện toàn chúng ta và ban cho chúng ta sự sống đời đời. Thánh Thể là một ngôi vị, chứ không phải một đồ vật, một quà tặng chết. Có lẽ chúng ta không nên hỏi “Thánh Thể là gì?” nhưng nên hỏi “Thánh Thể là ai?” Đức hồng y Tomko nói, câu trả lời chính là Chúa Giêsu trong bí tích dưới hình bánh và rượu để biểu thị Ngài muốn trở nên lương thực cho chúng ta và nuôi dưỡng sự sống cho chúng ta.”

Một trong những bài giáo lý rất đáng ghi nhớ và sâu sắc của Đại Hội Quebec là bài giáo lý của Đức cha Tagle giáo phận Imus, Philippines, có chủ đề “Thánh Thể, sự sống của Chúa Kitô trong sự sống của chúng ta.”
Đức cha Tagle nói về việc chầu Thánh Thể ngoài Thánh lễ: “Khi chiêm ngắm Chúa Giêsu, chúng ta đón nhận và được biến đổi bởi mầu nhiệm mà chúng ta đang thờ lạy. Chầu Thánh Thể giống như chúng ta đứng dưới chân Thánh giá Chúa Giêsu, để làm chứng cho lễ tế sinh của Ngài và để nhờ đó chúng ta được biến đổi.”

Đức cha Tagle nêu lên viên sĩ quan La mã canh gác Chúa Giêsu chịu đóng đinh thập giá như “mẫu gương chầu Thánh Thể.” “Chúng ta học từ viên sĩ quan, biết đối diện với Chúa Giêsu, canh chừng Ngài, quan sát Ngài, chiêm ngắm Ngài. Viên sĩ quan đã ngó chừng Ngài hằng giờ chỉ vì thi hành nhiệm vụ nhưng cuối cùng, ông đã chiêm ngắm Ngài trong chân lý. Viên sĩ quan đó đã thấy gì? Chúng ta có thể giả định rằng ông ta thấy Chúa Giêsu đau đớn khủng khiếp trước khi tắt thở. Nhưng chúng ta cũng tin rằng nơi Chúa Giêsu ông còn thấy một tình yêu khôn tả, tình yêu đối với Thiên Chúa Đấng đã không cất chén đắng cho Ngài và tình yêu đối với tha nhân.

Đức cha đã kết thúc bài giáo lý đầy sức sống đó như sau: “Tôi ao ước việc chầu Thánh Thể sẽ giúp chúng ta thêm hiểu biết Chúa Giêsu như người bạn đồng hành của bao con người đang chịu đóng đinh trong thời đại này. Chúng ta hãy thờ lạy Chúa Giêsu Đấng đã hiến dâng mạng sống mình làm của lễ dâng lên Chúa Cha cho chúng ta là những tội nhân. Chúng ta hãy thờ lạy Ngài cho chính chúng ta, cho người nghèo, cho trái đất, cho Giáo hội và cho sự sống trên thế giới này.

Có một ngày trong đại hội Quebec, trời mưa khiến tôi phải lấy taxi đến Hí Trường Pepsi. Người tài xế trẻ tuổi là một người Hồi giáo Angiêri hỏi tôi từ đâu tới rồi kể cho tôi nghe về Đại Hội, rằng anh ta đã gặp nhiều đại biểu trên đường phố Quebec. Khi biết tôi là người Canada nói tiếng Anh, anh ta tươi tỉnh hỏi: “Trong những ngày này, họ cho các ông ăn cái gì vậy?” Tôi bối rối và xin anh giải thích, và anh ta nói bằng một thứ Anh rất chuẩn: “Từ khi tôi di cư đến Quebec đã 10 năm nay, chưa bao giờ tôi thấy nhiều người hạnh phúc như thế ở thành phố này. Phải có chuyện ăn uống gì đó rồi. Chắc hẳn là trên cả tuyệt vời!”

Đại hội Thánh Thể Quebec là một dịp đặc biệt cho Canada để đưa trở lại hiện thực di sản của Giáo hội thánh thiện và dấn thân trong xã hội là điều đã ăn rễ sâu từ mầu nhiệm Thánh Thể.

Trong tông thư “Ecclesia de Eucharistia” (2003) Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Bí tích Thánh Thể xây dựng Giáo Hội và Giáo Hội làm nên Bí tích Thánh Thể.” Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế Quebec cách đây một năm đã làm được điều đó.

Lm Thomas Rosica
Địa chỉ liên lạc: rosica@saltandlighttv.org.
 ***********


Chú giải Phúc Âm Lễ Chúa Ba Ngôi
2009-06-02 21:39:48

Mười một môn đệ đi tới miền Galilê. Riêng câu này cũng đủ nói cho chúng ta biết “Giáo Hội là ai”. Đó là Hội Thánh của những quốc gia ngoại giáo. Những môn đệ được chính Chúa Giêsu mời gọi rời bỏ Giêrusalem (Mt 28,7), cho đến lúc bấy giờ vẫn là trung tâm địa lý của Đức Tin, nơi Thiên Chúa hiện diện.



Mười một môn đệ đi tới miền Galilê

Riêng câu này cũng đủ nói cho chúng ta biết “Giáo Hội là ai”. Đó là Hội Thánh của những quốc gia ngoại giáo. Những môn đệ được chính Chúa Giêsu mời gọi rời bỏ Giêrusalem (Mt 28,7), cho đến lúc bấy giờ vẫn là trung tâm địa lý của Đức Tin, nơi Thiên Chúa hiện diện. Theo Thánh Matthêu, không có sự hiện ra “chính thức” với các tông đồ tại Giêrusalem. Chúa trao phó sứ mạng cho các phụ nữ một cách riêng tư, Người triệu tập các tông đồ đến “miền Galilê của chư quốc”, một tỉnh có nhiều dân tứ xứ vãng lai – Hội thánh bắt đầu tại Galilê, vùng này thay thế cho Giêrusalem và trở thành trung tâm phát triển của cộng đoàn mới. Trong những chương đầu, Matthêu cho thấy tính cách bí nhiệm của các “Đạo sĩ phương Đông”, họ đến từ những vùng ngoại giáo, sấp mình thờ lạy Giêsu Hài Nhi, trong khi đó, Giêrusalem lại không đón tiếp Người.

Phải chăng tôi có quan niệm như thế về Giáo Hội?
Một Giáo Hội mở rộng loan báo Tin Mừng cho toàn thế giới, chứ không đóng kín trong những bức tường.

Đến những ngọn núi Chúa Giêsu đã hẹn với các ông

Chữ “Eklésia”(Giáo Hội) trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “tập họp những người được triệu tập”. Kitô hữu là những người được Đức Giêsu Phục Sinh triệu tập. Mỗi Chúa Nhật khi đến với Bí tích Thánh Thể, tôi có ý thức rằng, không phải tôi có sáng kiến này, mà Đức Giêsu đã triệu tập tôi. Tôi đáp lại lời mời trước tiên, đức tin của tôi không phải là một mớ kiến thức, mà là sự đáp trảvới đấng đã kêu gọi tôi “trên núi”.

Trong Tin Mừng của Matthêu, người ta không bao giờ nói núi đó là núi nào. Nhưng trái lại, phải chăng là tình cờ, núi là địa điểm tốt nhất cho sự mạc khải của Thiên Chúa. Chính ở trên “núi cao”, Đức Giêsu đã tuyên bố diễn văn khai mạc tức là “Bài giảng trên núi”(Mt 5,1–8,1). Người cũng đã cầu nguyện, hoá bánh ra nhiều và biến hình trước mặt các tông đồ của người ở trên núi cao.
Tôi để biểu tượng này in sâu trong tôi.
Tôi để cho Đức Giêsu triệu tập tôi trên núi cao.
Tôi chấp nhận mở rộng nhãn giới của tôi. Phong cảnh
Đức Giêsu mời gọi tôi thật hùng vĩ.
Người ta thoải mái hít thở không khí ở trên đỉnh cao.
Khi thấy Người các ông sụp lạy

Đó là cử điệu Phụng vụ mà những người trẻ sẽ thực hiện lại, và dân chúng phương Đông thường làm một cách tự phát: Nằm dài trên mặt đất hay ít nhất là cúi rạp, trán chạm đất. Đây là cử chỉ tôn thờ long trọng. Cử điệu cao quí nhất mà con người có thể làm hiện được. Trong tin mừng Thánh Matthêu, sự sụp lạy này cũng được các tông đồ thực hiện trong chiếc thuyền, khi thuyền đã được cứu khỏi cơn phong ba bão táp (Mt 14, 33). Đó cũng là cử điệu của ba nhà Đạo sĩ ngoại giáo (2,11), của người bệnh phong (8,12), và của một phụ nữ Canaan, một người ngoại đạo khác (15,25).

Tôi có bao giờ thờ lạy như thế không? Nghĩa là thầm lặng suy niệm về sự oai nghi của đấng đang ở trước mặt tôi chăng?

Nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Đức Giêsu đến gần

Giáo Hội dâng lễ tế để tôn thờ Thiên Chúa vẫn còn là một Giáo Hội của những người tội lỗi. Đức tin của những con người. Đức tin của những tông đồ đầu tiên (cũng như đức tin của chúng ta) vẫn còn là một đức tin pha trộn hoài nghi và nước đôi, đó là một đức tin còn đang di hành. Giáo hội đón tiếp Đức Giêsu vẫn là một Giáo Hội của những người “yếu đức tin” (Mt 14,31), bị hư mất một người, chỉ còn 11 trong số 12 người đã được chọn. Đức Giêsu không ngạc nhiên về điều này. Người đến gần họ như ngày người đã biến hình (Mt 17,7). Lạy Chúa xin hãy đến. Xin Chúa hãy đến gần hơn. “Maranatha”. Lạy Chúa xin thương xót chúng con và tất cả những người đã không tuyên xưng Đức tin một cách hoàn toàn và rõ ràng. Xin Chúa thương xót biết bao bạn trẻ, biết bao con người thời nay “không đạt đến đức tin”. Xin Chúa thương xót con, vì đôi khi đức tin của con cũng hoài nghi.

Người nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi đến muôn dân và kết nạp môn đệ … Dậy họ tuân giữ những điều răn… Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.

Lời của Đức Giêsu phục sinh nói trên đây oai nghi biết bao!
Sau cuộc sống khiêm nhường thành Nagiarét, giờ đây sự thật đã tỏ lộ. Bên ngoài, đây có vẻ như là tramg cuối của một câu truyện, giai đoạn kết thúc của cuộc sống một con người, nhưng thực ra đây là khởi đầu của một cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất trong các thời đại, không thể giải thích được bằng những tiêu chuẩn bình thường của lịch sử.

Chúng ta nên lưu ý đến tầm quan trọng của tất cả tĩnh từ “tất cả, toàn thể” đã được lập lại tới bốn lần. Nhắc lại bốn lần từ “toàn thể”, nhắc lại bốn lần từ “trọn vẹn” là để biểu lộ hành động của Đức Giêsu. Đó là tính trọn vẹn – toàn diện trong hành động của Thiên Chúa, Đấng đã chấp nhận thân xác trong toàn diện hành động của con người, theo suốt dòng thời gian trôi chảy! Nên đọc lại tư tưởng của Cha Teihard de Chardin. Dưới đây là là một trích đoạn: “xét về mặt vật lý, Đức Kitô là Đấng choán phủ tất cả: Không có một yếu tố nào trong vũ trụ, vào bất cứ một giây phút nào của trần gian, chuyển hành mà lại không di chuyển, và không bao giờ được vận hành ngoài tầm hướng dẫn của Người cả. Không gian và thời gian đã ngập đầy sự hiện diện của Người. Cũng xét về mặt thể lý, Đức Kitô là Đấng “tiêu thụ” tất cả: trọn vẹn vũ trụ chỉ được hoàn tất trong một tổng hợp cuối cùng, mà ở đó có một ý thức siêu việt sẽ biểu lộ trên mọi yếu tố phức tạp cho dù đã được cấu tạo một cách tuyệt vời. Mọi con người sẽ hội tụ và cùng kết nối lại với nhau trong Người. Chính Đức Kitô sẽ tạo cho toàn bộ công trình vật chất và tinh thần độ bền vững mãi.

Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Chúa Cha chỉ là “Cha”, vì Người quên mình hoàn toàn, để chuyển trọn vẹn sang Ngôi Con. Chúa Con chỉ là “Con” vì Người quên mình để trọn vẹn “tự hiến dâng” cho Chúa Cha – Chúa Thánh Thần sẽ không là gì cả nếu Người không phải là tình yêu hỗ tương của Chúa Cha và Chúa Con, Thiên Chúa là Tình yêu.

Chương trình lớn lao của Thiên Chúa, mà Đức Giêsu đã giao cho các tông đồ, cho Giáo Hội, nhằm “nhận dìm” (đấy là nghĩa chữ Hy Lạp baptizô) nhân loại trong tương quan tình yêu liên kết Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. “Dấu” rửa tội đúng là dấu Thánh Giá; đó là “cuộc sống cho tha nhân”. Chúng ta được rửa tội nhân danh tình yêu. Chúng ta được “nhận dìm” trong nguồn tình yêu đó – Đấy là “chương trình” của Giáo Hội.

Đôi khi người ta tự hỏi Đức Giêsu đã muốn sáng lập Giáo Hội nào? Chắc chắn, Đức Kitô đã không nghĩ đến nước Vatican, đến các vị Giám mục đội mão, đến những văn phòng hành chánh, những kiến trúc tôn giáo hay những nghi lễ trọng thể của Giáo Hội, giống như những triều đình vua chúa ngày xưa.

Nói điều này để chúng ta đừng đóng khung Giáo Hội sống động trong những bộ mặt trần thế mà Giáo Hội đã có trong một số thời đại. Điều Đức Kitô muốn đó là “Tập hợp tất cả mọi người trong tình yêu” – Chúa là tình yêu – Chúa là cộng đồng những người thương yêu nhau tronh hiệp nhất của Chúa Thánh Thần – phải tìm điều cốt yếu của Giáo hội trong bản tính của Chúa Ba Ngôi.

Những người thấy tôi sốt sắng, tôi được “nhận dìm”, “được rửa tội” trong Chúa Ba Ngôi tình yêu, những người quan sát những nhóm mà tôi đang sống: Gia đình, nhóm làm việc với tôi, họ có thể cảm thấy “tôi đã được rửa tội nhân danh ai”?

Anh em hãy dạy bảo họ giữ những điều Thầy đã dạy cho anh em.
Đức Giêsu đã truyền dạy những điều răn nào? Đó là giới răn tình thương. “Người ta sẽ nhận các con là môn đệ của Thầy, ở điều này, nếu các con yêu thương nhau”. Không phải cứ được rửa tội là đủ – phải tỏ ra là “môn đệ” của Đức Giêsu bằng mọi hành động trong cuộc sống. Đối với Đức Giêsu, giáo lý không phải là một bài phải học mà là một tập luyện sống “theo tình thương”

Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.
Lời hứa “Thầy ở cùng” trên đây rất mạnh nghĩa. Cũng như trong Tin Mừng Thánh Gioan, ta đoán nhận ra trong lời phát biểu đó, cung cách của “Giavê”trong Cựu ước. Hơn nữa, theo lối hành văn của người Sêmít, ở đây ta nhận thấy, để kết thúc Tin mừng của mình, Matthêu đã lập lại tư tưởng đã đề cập ở đầu sách: “Emmanuel: Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Khi báo tin cho Thánh Giuse (Mt 1,23), Thiên sứ đã nói con trẻ sẽ được gọi là Emmanuel, vậy mà Thánh Giuse đã đặt tên Chúa là Giêsu: Nhưng trong dòng cuối của Tin Mừng, Thánh Matthêu đã giải thích bí mật này: Đức Giêsu Phục sinh, chính là “Chúa ở cùng chúng ta”.

“Lạy Chúa Giêsu, tạ ơn Chúa”.

Noel Quesson



***********

Đại Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (2)
2009-05-29 09:10:50

Cách đây 50 ngày chúng ta đã mừng lễ Chúa Giêsu sống lại, và 10 ngày trước, Chúa Giêsu lên trời. Trước khi xa lìa các môn đệ, Người đã nói: "Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất." (Cv 1,8).
Chính hôm nay Chúa Thánh Thần hiện xuống. Hôm nay Chúa Giêsu thực hiện lời hứa và ban Thánh Thần cho chúng ta. Đó là biến cố chính yếu của thánh lễ hôm nay: Chúa Thánh Thần đã được hứa ban, Người tới, Người hiện diện đó và Người hoạt động.
Nhưng Chúa Thánh Thần là ai? Người ở đâu tới? Người làm gì? Người đi đâu? – Đó là những câu hỏi xuất hiện trong đầu óc ta, khi ta được nghe nói về Người.
 
 
Trong Kinh Tin kính, Giáo Hội tuyên xưng: "Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống". Là Thiên Chúa, đồng bản tính với Ngôi Cha và Ngôi Con, nên Người là Đấng vô hình. Không ai trông thấy người được. Chúng ta chỉ có thể nhận ra sự hiện diện của Người qua những dấu chỉ và qua những tác động. Kinh Thánh đã dùng nhiều hình ảnh để diễn tả tác động của Người.
 
 
I. Các hình ảnh
 
 
Bài sách Công vụ kể: “Bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần”. (Cv 2,1-4)
 
 
Ba hình ảnh được nêu lên đây: lưỡi, lửa và gió.
 
 
1. Lửa:
 
 
Tác dụng của lửa là tẩy uế, soi sáng và sưởi ấm (vài ví dụ: ta dùng lửa để đốt rác, thắp đèn, sưởi ấm).
 
 
Trên bình diện thiêng liêng, Chúa Thánh Thần thanh luyện mọi tội lỗi chúng ta, soi sáng cho ta biết chân lý, nung nấu trái tim để chúng ta yêu mến Thiên Chúa.
 
 
Chúa Giêsu thường nói đến "Thần Chân lý", là vì Chúa Thánh Thần đóng vai trò soi sáng đó.
 
 
2. Lưỡi:
 
 
Rồi ta thấy lửa xuất hiện trên các tông đồ dưới hình thức những cái lưỡi: điều đó có nghĩa Chúa Thánh Thần ban cho các tông đồ ơn thượng trí hiểu biết minh mẫn về mầu nhiệm Thiên Chúa, đồng thời ơn lợi khẩu. Lưỡi là bộ phận phát âm. Qua hình ảnh ấy, thánh Luca ngụ ý rằng Chúa Thánh Thần ban cho các tông đồ khả năng rao giảng Lời Chúa.
 
 
3. Gió:
 
 
Hình ảnh gió được làm nổi bật trong phụng vụ hôm nay. Trong tiếng Do Thái, "Ruah" có nghĩa là gió, không khí, hơi thở. Tiếng Việt bây giờ dịch là "Thần Khí", "Thánh Khí". Thánh Thần là hơi thở của Thiên Chúa.
 
 
Trong bài Phúc âm, Chúa Giêsu thổi hơi trên các tông đồ và nói: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần" (Ga 20,22).
 
 
Trong cuộc đàm đạo với ông Nicôđêmô, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh gió (hay khí) để nói về Chúa Thánh Thần: "Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy" (Ga 3,8).
 
 
Quả thực, ta không thấy được không khí, nhưng nó rất cần cho sự sống. Con người có thể nhịn ăn chừng hai tháng, nhịn uống chừng hai tuần, nhưng không thể nhịn thở quá 10 phút.
 
 
Chúa Thánh Thần là hơi thở của Chúa Giêsu Phục sinh. Hơi thở ấy, Chúa Giêsu chuyển thông cho Giáo Hội, để Giáo Hội sống chính đời sống của Người, đời sống làm con cái của Thiên Chúa.
 
 
II. Tác động của Chúa Thánh Thần
 
 
Các hình ảnh lửa và gió (hay không khí) gợi lên cho chúng ta tác động của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội: đó là thanh luyện và thông ban sự sống.
 
 
1. Trên bình diện cá nhân:
 
 
Chúa Thánh Thần thanh luyện mỗi tâm hồn khỏi mọi tội lỗi và làm cho trở nên chi thể của Chúa Kitô và là con cái của Chúa Cha. Thánh Gioan nhấn mạnh tới vai trò của Chúa Thánh Thần trong mỗi tâm hồn. Sau khi ban Thánh Thần rồi, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: Các con tha tội cho ai, tội người ấy được tha. Ơn tha tội phát xuất từ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần mà Giáo Hội thông ban qua bí tích Rửa tội và Hòa giải. Chính qua hai bí tích ấy mà mỗi người được giao hòa với Thiên Chúa, được trở thành một thụ tạo mới để sống một đời sống mới.
 
 
2. Trên bình diện tập thể:
 
 
Ta có thể nói tác động của Chúa Thánh Thần lại dễ nhận thấy hơn nữa: Đó là đoàn kết loài người lại. Khía cạnh này được thánh Luca và thánh Phaolô làm nổi bật. Trong bài đọc I, thánh Luca nói Chúa Thánh Thần ngự xuống, các dân tộc thuộc các vùng đất khác nhau, thông cả với nhau. Ngày xưa tại Babel, tội lỗi đã chia rẽ loài người làm cho mỗi người nói một thứ tiếng. Nay Chúa Thánh Thần thiết lập lại sự đoàn kết.
 
 
Thật là một biến cố kỳ diệu, làm cho những người hiện diện đó phải ngạc nhiên và tự hỏi: “Những người đang nói đó không phải là người Ga-li-lê cả ư? Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta?” (Cv 2,8).
 
 
Đó mới chỉ một khởi điểm: Họ có thể hiểu nhau.
 
 
Thánh Phaolô (Bài đọc II) còn cho ta một kinh nghiệm sâu sắc hơn, điều mà Thánh Tông đồ đã nhận thấy ở Côrintô: Các tín hữu dưới tác động của Chúa Thánh Thần đã trở thành Nhiệm Thể của Đức Kitô; Giáo Hội là một thân mình trong đó mỗi người tuy có ân điển riêng, nhưng đều làm việc để mưu ích chung, để xây dựng cho nhau.
 
 
Hôm nay Chúa Thánh Thần, hơi thở của Chúa Giêsu Phục sinh, đang hoạt động trong Giáo hội, trong cõi lòng thâm sâu của mỗi người cũng như trong các cộng đoàn: Người hiện diện đó để tái tạo mỗi tâm hồn, đổi mới con tim của mỗi người, đồng thời quy tụ chúng ta lại trong một niềm tin vào Đức Giêsu Kitô là Thủ lĩnh, vào một Thiên Chúa là Cha của mọi người. Bổn phận của ta là phải biết ơn. "Biết ơn" có hai nghĩa:
 
 
- Trước hết là biết nhìn nhận ơn Chúa Thánh Thần trong chúng ta cũng như nơi những người khác. Chúa Thánh Thần chính là tặng phẩm cao trọng nhất mà Thiên Chúa ban cho ta. Người đến qua nhiều dấu chỉ, nhất qua 7 bí tích.
 
 
- Sau nữa là tạ ơn Chúa Cha. Đấng đã ban cho ta Chúa Thánh Thần qua trung gian Đức Giêsu Phục sinh.
 
 
Nhờ thái độ đó, hơi thở của Đức Kitô sẽ nuôi sống chúng ta, biến đổi chúng ta và dẫn đưa chúng ta đến cõi vinh quang bất diệt.

Lm. Nobertô

 ***********


Chúa nhật VII Phục Sinh (B): Tường Trình Nhiệm Vụ
2009-05-25 18:15:52

Chúa Kitô đã phục sinh và lên trời đã được Thánh Kinh minh xác, nhiều chứng nhân anh dũng đã hiến mạng sống mình để bênh vực. Tín Điều Chúa Kitô về trời dạy cho chúng ta biết: Thiên Đàng mới là quê hương đích thực của chúng ta, nơi cư ngụ vĩnh viễn, nơi hạnh phúc trường tồn, nơi có đủ mọi thiện hảo, mọi kho tàng làm thỏa mãn mọi ước nguyện chính đáng, Chúa đã sắm sẵn cho con cái trung thành phụng sự yêu mến Người.
Hạnh phúc Thiên Đàng đáng chúng ta khát mong mơ ước, tìm kiếm và nỗ lực đưa nhiều linh hồn về với Chúa. Lệnh Chúa truyền cho các Tông Đồ và các Tín Hữu Giáo Hội sơ khai trước khi Chúa về Trời: "Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm Phép Rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần" (Mt 28:19). Lệnh truyền đó Chúa cũng truyền cho mỗi người chúng ta. Chúa Giêsu đã cầu nguyện cùng Chúa Cha, "Như Cha đã sai Con đến thế gian, thì Con cũng sai họ đến thế gian" (Ga 17: 18).
Sứ mạng đó tuy khó khăn đối với con người tự nhiên yếu hèn của chúng ta, nó đòi chúng ta phải từ bỏ chính mình, phải chấp nhận gian khổ, phải đương đầu với muôn vàn chông gai nghịch cảnh.
Nhưng với ơn Chúa trợ giúp, chắc chắn chúng ta sẽ đạt tới mục đích chúng ta đang chờ mong và chu toàn được sứ mạng làm chứng nhân Chúa đã ủy thác, vì do lời Chúa đã phán hứa: "Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28:20).
Giống như "thưởng thức một bức tranh," chúng ta cần kiến thức cơ bản để biết mình sẽ loan báo những gì trong tư cách là môn đệ của Chúa Kitô. Chúng ta hiểu biết đến đâu về Chân Lý Chúa đã truyền lại cho chúng ta? Thiên Chúa có thể sử dụng chúng ta làm gì nếu như Người có chúng ta trong tay? Một nhà giáo dục Kitô giáo đã viết những dòng ý vị sau đây, khi ông, trong tư cách môn đệ Chúa Kitô, đã tự vấn: "Trên thế giới, bóng đêm dày đặc và khủng khiếp; chỉ những kẻ ngu xuẩn mới giả vờ làm như không có. Trong cuộc sống cá nhân của chúng ta cũng có bóng đêm mặc dù chúng ta đeo những mặt nạ rạng rỡ và hớn hở. Thế giới chúng ta lạc lõng và tan nát. Nhưng, đối với những ai gan dạ và triệt để đặt trọn niềm tin vào những lời hứa táo bạo của Thiên Chúa, một điều gì đó đang đến với họ. Có những tia sáng từ cuối chân trời, cuộc sống cũng dần dần biến đổi và ca vang suốt con đường - một con đường vượt qua đêm tối đằng đẵng để bước vào ngày mới! Tôi ước mong các bạn cũng tìm thấy con đường ấy như tôi; hoặc nói đúng hơn, con đường ấy đã tìm thấy tôi. Mặc dù vẫn có những tháng ngày gian khổ, vẫn có những lúc bóng tối bao phủ, nhưng tôi không còn như trước kia. Thực sự không phải tôi hành động; mà chính là Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, hành động cho tôi. Đó là điều thánh Gioan đã viết trong Phúc Âm: ai theo Chúa Kitô sẽ không vấp ngã trong bóng tối vì họ sống trong ánh sáng!" (Powell, O., "Seed and Soil").
Sống như thế nào: đó là điều tối quan trọng đối với sứ vụ Kitô hữu của chúng ta. Sứ vụ của chúng ta giữa thế giới sẽ hiệu lực tùy vào mức độ chúng ta sống trong ánh sáng Chúa Kitô, tùy vào mức độ chúng ta sống có phù hợp với mệnh lệnh Chúa Giêsu đã truyền là hãy yêu thương, phục vụ và làm tất cả những gì có thể làm được để đem lại điều tối hảo cho nhau. Thánh Gioan Tông Đồ đã viết, "Hỡi các con thân yêu, nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, thì chúng ta cũng hãy yêu thương nhau" (1 Ga 4:11). Thiên Chúa đã chứng tỏ đức ái hành động của Người trong Chúa Kitô. Chúng ta cũng phải duy trì đường hướng ấy trong tư cách Kitô hữu và phải chứng tỏ đức ái hành động cho nhau. Đức tin và đức ái đã liên kết với nhau. Môn đệ Chúa Kitô là người nhận ra cuộc đời Chúa Kitô chỉ là một hành vi yêu thương của Thiên Chúa dành cho toàn thể nhân loại và quyết tâm đáp lại lời mời gọi của Người để yêu thương mọi người. Như vậy, ánh sáng đức tin sẽ dẫn đến một đời sống đức ái hành động. Bất kỳ một quan điểm nào về Thiên Chúa mà không tạo ra hiệu quả này đều là giả dối (Crotty, R. and Manly, G., "Commentaries").
Thống đốc tiểu bang Illinois kể rằng: "Hồi tôi còn nhỏ, ông nội tôi dạy rằng nếu như muốn được đến thăm những nơi danh thắng, thì không được bẻ bánh quy  giòn cho vào súp. Vì vậy, mỗi lần có món súp, tôi rất muốn ăn như vậy - nhưng lại không dám. Suốt 50 năm trời, tôi không làm điều đó, dù chỉ một lần!" Hôm ấy, tổng thống Franklin Rooseselt mời sáu thống đốc miền Trung Tây đến dùng bữa trưa tại tòa Bạch Ốc. Hôm ấy cũng có món súp, và cả bánh quy giòn, nhưng tôi chỉ dùng riêng từng thứ như ông nội tôi đã dạy. Bỗng có một âm thanh làm tôi giật bắn cả người - tiếng bẻ bánh quy giòn. Tôi đảo mắt nhìn và thấy tổng thống, nhân vật quyền uy nhất Hoa Kỳ, đang bẻ bánh quy giòn và bỏ vào súp của ông một cách tự tin, với một phong cách rất quí tộc. Tôi bỏ dở câu chuyện đang nói, dùng cả hai tay bẻ bánh quy giòn bỏ vào súp, và đọc vội một câu kinh cầu nguyện cho ông nội vì tôi đã luyến tiếc quãng thời gian 50 năm uổng phí."
"Như Cha đã sai Con đến thế gian, Con cũng sai họ đến thế gian" (Ga 17:18). Chúa Giêsu muốn chiếu soi ánh sáng của chúng ta vào trần thế ngay hôm nay. Chúa Giêsu muốn chúng ta bẻ ngay bánh qui giòn mà cho vào súp ngay bây giờ! Chúa Giêsu muốn chúng ta hãy chứng tỏ một đức ái hành động ngay lập tức! Cho dù 32 tuổi hay 72 tuổi, chúng ta cũng đừng nên nhìn lại mà nguyền rủa quãng thời gian đã lãng phí, nhưng hãy chúc mừng thời gian chúng ta đang được ban tặng lúc này!
Một bà mẹ nghe cậu ấm của mình đọc kinh tối trước khi đi ngủ. Nó kể cho Chúa nghe những việc định làm hôm sau và chỉ cho Chúa phải giúp đỡ như thế nào. Bà mẹ cắt ngang lời con, "Này con, đừng vất vả chỉ dẫn cho Chúa như vậy; con chỉ cần tường trình cho Chúa là xong."
Đối với những ai gan dạ và triệt để đặt trọn niềm tin vào những lời hứa táo bạo của Thiên Chúa, thì một điều gì đó đang đến với họ. Có những vệt sáng từ phía chân trời, và cuộc sống cũng dần dần biến đổi. Hãy tường trình nhiệm vụ của mình cho Chúa! Chúa sẽ ở chúng ta mọi ngày.
***********

Xuống núi (Mc 9, 2-10)
2009-05-25 14:35:20

Nhân kỷ niệm 10 năm Giám mục của Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Giám mục Giáo phận Mỹ Tho (Bài của GM Phêrô Nguyễn Văn Khảm). Trong một hai tuần lễ vừa qua, các giám mục Việt Nam di chuyển liên tục. Lên Tây nguyên để cử hành lễ phong chức cho Đức Tân giám mục của giáo phận Ban Mê Thuột. Xuống đồng bằng Cửu Long để mừng thọ 100 tuổi, 75 năm linh mục và 50 năm giám mục của Đức cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ. Và hôm nay, đi Mỹ Tho để mừng kỷ niệm 10 năm giám mục của Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc.
Trong khung cảnh của những chuyến đi, khi nhìn lại 10 năm giám mục của Đức Cha Phaolô, tôi cũng hình dung cuộc đời giám mục của ngài như một cuộc di chuyển.
 
Di chuyển từ núi đồi Đà Lạt đến đồng bằng Cửu Long. Là chủng sinh của Sài Gòn nhưng khi làm linh mục, lại là linh mục của giáo phận Đà Lạt vì Đà Lạt đã được tách ra thành một giáo phận mới từ năm 1960. Và đời linh mục của ngài gắn với giáo phận Đà Lạt, với vẻ đẹp thơ mộng, với không khí vùng núi, với văn hoá cao nguyên. Rồi đến năm 1999, Toà Thánh quyết định bổ nhiệm ngài làm giám mục giáo phận Mỹ Tho. Thế là ngài phải thực hiện một cuộc di chuyển từ núi đồi Đà Lạt xuống đồng bằng Cửu Long, từ văn hoá cao nguyên đến văn hoá sông nước, từ không khí miền núi đến khí hậu đồng bằng. Một cuộc di chuyển không dễ dàng, đòi hỏi khả năng thích nghi và sáng tạo để có thể chu toàn sứ vụ.
 
Hàm trong cuộc di chuyển về mặt không gian là một cuộc di chuyển khác, khó thấy hơn nhưng lại sâu sắc hơn, đó là di chuyển từ núi đồi thần học đến đồng bằng mục vụ. Hầu như gần trọn cuộc đời linh mục của Đức cha Phaolô gắn liền với công việc suy tư, nghiên cứu và giảng dạy triết học, thần học. Ngài làm công việc đó không chỉ như một nhiệm vụ được trao phó mà thực sự như một đam mê. Không lạ gì trước khi được gọi làm giám mục, ngài đã được chọn làm chuyên viên thần học của HĐGMVN, và khi làm giám mục, đã được HĐGM tin tưởng trao cho nhiệm vụ Chủ tịch Uỷ ban Giáo lý Đức tin. Vì thấy ngài say mê nghiên cứu thần học như thế nên khi nghe tin Toà Thánh bổ nhiệm ngài làm giám mục, đã có người thắc mắc: không biết ngài làm mục vụ có tốt không vì suốt ngày toàn suy nghĩ những chuyện trên trời, còn mục vụ thì lại quan tâm chuyện dưới đất, kể cả chuyện kiếm tiền cho các dự án của giáo phận nữa! Thực tế cho thấy nhà thần học đã làm mục vụ rất tốt. Không chỉ là xây dựng thêm nhiều cơ sở cho giáo phận, cũng không chỉ là lên kế hoạch cho việc đào tạo nhân sự, mà điều chính yếu là lấy suy tư thần học để soi sáng, dẫn đường cho những hoạt động mục vụ của mình.
 
Xin lấy một ví dụ cụ thể. Trong bài phát biểu tại Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới năm 2005, Đức cha Phaolô đã chia sẻ: “Từ lúc bắt đầu học thần học, tôi luôn nghĩ rằng Thiên Chúa của chúng ta là Đấng Thiên Chúa cởi mở. Sự nhiệm sinh vĩnh hằng chính là sự cởi mở vĩnh hằng của Thiên Chúa… Vậy nếu Thiên Chúa là Đấng Cởi Mở, thì con người, hình ảnh của Thiên Chúa, tự bản chất là cởi mở.” Những khẳng định thần học chắc nịch! Rồi từ đó, ngài nói thêm: “Giống như Thiên Chúa, giám mục phải là con người cởi mở. Giám mục phải có trái tim cởi mở giống trái tim bị đâm thâu của Chúa Giêsu, từ đó có nước và máu chảy ra. Giám mục phải có đầu óc cởi mở, lắng nghe mọi tiếng nói, nhất là tiếng nói của những người nghèo khổ và những người không cùng quan điểm... Giống như Chúa Giêsu, giám mục là thầy dạy đối thoại. Muốn dạy cho các linh mục đối thoại, giám mục phải biết đối thoại. Muốn biết đối thoại, giám mục phải học đối thoại, học với mọi người, với những người nghèo, với những người trẻ, với các tôn giáo bạn, với các nền văn hoá.” Và ngài chia sẻ kinh nghiệm bản thân: “Tôi đã cố gắng học đối thoại với các linh mục trong giáo phận. Bài học này đòi hỏi nhiều thời giờ và sức lực, nhưng trên hết là sự khiêm tốn và kiềm chế. Tôi cũng đã học với các nữ tu nhiều điều bổ ích. Giáo dân dạy cho tôi bài học về sự đa dạng và phức tạp của đời sống con người.”
 
Thiết nghĩ những suy tư và tâm tình trên đã minh hoạ cụ thể điều muốn nói ở đây, tức là lấy suy tư thần học soi sáng, định hướng cho hoạt động mục vụ của mình. Hiểu như thế, mục vụ không chỉ là làm chuyện này hay chuyện kia, nhưng là thể hiện ra bên ngoài chiều sâu của suy tư đức tin tức là thần học (intellectus fidei) và có thế, hoạt động mục vụ mới mang lại kết quả bền lâu.
 
Như  thế đã rõ, Đức cha Phaolô đã di chuyển từ núi đồi Đà Lạt đến đồng bằng Cửu Long, từ núi đồi thần học đến đồng bằng mục vụ. Câu hỏi đặt ra là đằng sau cuộc di chuyển cả trong không gian thể lý lẫn không gian tư tưởng ấy là gì? Nói cách khác, động lực nào thúc đẩy cuộc di chuyển đó? Người môn đệ Chúa Giêsu tìm kiếm câu trả lời bằng cách chiêm ngắm chính Chúa Giêsu, Thầy chí thánh.
 
Trong câu chuyện về việc Chúa Giêsu biến hình trên núi cao, thánh Marcô ghi nhận rằng khi chứng kiến vẻ đẹp uy nghi và sự thánh thiện chói ngời của Thầy, các môn đệ đã chỉ mong được ở lại mãi trên núi cao: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là tốt! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê, một cho ông Êlia” (Mc 9,5). Thế nhưng Chúa Giêsu đã không ở lại trên đỉnh núi vinh quang mà lại dẫn các môn đệ xuống núi, và xuống núi cũng có nghĩa là bắt đầu hành trình bước vào cuộc khổ nạn đang đợi Người ở cuối đường.
 
Cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc xuống núi liên lỉ. Những bước đi từ núi Tabor xuống chỉ là hình ảnh cụ thể của một cuộc xuống núi vĩ đại, kéo dài từ Nhập Thể đến Thăng Thiên. Mầu nhiệm nhập thể là gì nếu không phải là hành trình từ núi hạnh phúc của Thiên Chúa vĩnh hằng đến vực sâu khổ đau của con người (x. Phil 2,5-11).  Mà phải có nhập thể thì mới có thăng thiên, phải có hành trình xuống núi của Chúa Giêsu thì nhân loại mới tìm thấy đường đi lên thế giới của Thiên Chúa. Ẩn sau hành trình xuống núi ấy chính là tình yêu, không chỉ là tình yêu của Chúa Giêsu mà là tình yêu của Ba Ngôi, tình yêu sáng tạo, tình yêu cứu độ, tình yêu thánh hoá. Thế nên khi chiêm ngắm thập giá Chúa Giêsu, thượng phụ Filaret đã có thể thốt lên, “Chúa Cha là Tình Yêu đóng đinh (crucifiant), Chúa Con là Tình Yêu chịu đóng đinh (crucifié), Chúa Thánh Thần là sức mạnh vô địch của thập giá.” Tình yêu Thiên Chúa là tình yêu không ngừng sáng tạo những nẻo đường hết sức bất ngờ, vượt ngoài mọi tính toán và tưởng tượng của con người. Tình yêu Thiên Chúa là tình yêu cứu độ, không chịu lùi bước trước tội lỗi của con người nhưng tìm mọi cách để cứu thoát, kể cả bằng sự hi sinh lớn lao nhất. Tình yêu Thiên Chúa còn là tình yêu thánh hoá, ước mong con người thuộc trọn về Ngài, cũng là đạt tới hạnh phúc viên mãn.
 
Tình yêu ấy chính là động lực cho hành trình xuống núi của Chúa Giêsu. Tình yêu ấy cũng phải là ánh sáng hướng dẫn và động lực thúc đẩy mọi chọn lựa và hành động của người môn đệ Chúa Giêsu. Và tôi dám tin rằng tình yêu ấy đã là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc sống của vị giám mục đã chọn khẩu hiệu “Chúa là niềm vui của con.” Trong nhiều năm, Đức cha Phaolô phụ trách giảng khoá về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi và trong lớp học, khi ngài hỏi, “Thầy có hiểu không?” là anh nào cũng sợ cả! Vì trả lời đằng nào cũng chết! Bảo rằng chưa hiểu thì sẽ nghe thầy nói, “Giảng suốt 2 tiếng đồng hồ mà không hiểu à!” Còn nói là hiểu thì sẽ nghe thầy phán, “Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, ‘tui’ còn chưa hiểu thì làm sao thầy hiểu?” Nhưng cả lớp tràn ngập tiếng cười. Và lúc nào cũng thấy cha giáo cười rất tươi, lúc nào cũng “dzui” hết.  Niềm vui tràn ngập. Niềm vui của Chúa chứ không phải niềm vui của thế gian. Niềm vui của Chúa là niềm vui của tình yêu. Niềm vui của Chúa là niềm vui cho đi chứ không phải niềm vui chiếm hữu. Niềm vui của Chúa là niềm vui phục vụ chứ không phải niềm vui thống trị. Hoặc nói theo cách diễn tả mà Đức cha Phaolô từng vận dụng, đó là niềm vui của trái tim bị đâm thâu, có nước và máu chảy ra!
 
Niềm vui ấy đang tràn ngập ở đây, hôm nay. Xin hợp lời với giáo phận Mỹ Tho trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa về những thành quả tốt đẹp Chúa đã ban cho giáo phận trong 10 năm qua. Và cùng với cộng đồng Dân Chúa giáo phận Mỹ Tho, xin cảm ơn Đức cha Phaolô đã đem niềm vui cho đi và phục vụ đến cho mọi người trong giáo phận. Cầu xin cho niềm vui ấy mãi dâng cao trong giáo phận Mỹ Tho, và chúng tôi được hưởng niềm vui ấy mỗi khi đến thăm giáo phận Mỹ Tho.
Ngày 20.5.2009

 
Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

***********





No comments:

Post a Comment