SUY NIỆM ĐẦU NĂM
Cha Karl Rahner, S.J.
Vài nét về cuộc đời của Thần học Gia Karl Rahner.
(Nguồn:
Radio Veritas Asia 16/01/2004) - Sinh ngày 5 tháng 3 năm 1904, Karl
Rahner vào tu dòng Tên năm 1922, và được thụ phong linh mục năm 1932.
Karl Rahner là học trò của Triết Gia Martin Heidegger tại Ðại Học
Freibourg trong vòng hai năm. Năm 1936, Karl Rahner dọn xong luận án
tiến sĩ Triết Học về đề tài Tri Thức Luận theo thánh Tomas Aquino. Luận
án nầy sau đó được xuất bản bằng tiếng Pháp vào năm 1968, với tựa đề là "Tinh Thần Trong Thế Giới" (Esprit dans le monde).
Vào năm 1936, Karl Rahner sang Innsbruck
bên Áo để dọn luận án tiến sĩ Thần Học về đề tài: "Tư Tưởng của các
giáo phụ về Thánh Tâm bị đâm thâu qua của Ðấng Cứu Thế như là nguồn mạch
xây dựng Giáo Hội". Luận án tiến sĩ Thần Học nầy chỉ được xuất bản sau
khi Karl Rahner qua đời.
Năm
1938, Lãnh Tụ Hitler sát nhập nước Áo, và Ðức Quốc Xã đóng cửa Phân
Khoa Thần Học tại Innsbruck, nơi Karl Rahner đang giảng dạy môn Thần Học
Tín Lý. Giáo Sư Karl Rahner lại phải tạm lánh nạn về thủ đô Viêna, và
giảng dạy thần học cho giáo dân. Ba năm sau khi thế chiến thứ hai chấm
dứt, giáo sư Karl Rahner trở lại phân khoa thần học Innsbruck.
Năm
1962, Ðức Giáo Hoàng Gioan 23 bổ nhiệm giáo sư Karl Rahner là chuyên
viên của Ủy Ban Thần Học của Công Ðồng Vaticanô II. Trong tư cách nầy,
giáo sư Karl Rahner đã đóng vai trò quan trọng trong việc soạn thảo hai
hiến chế tín lý của Công Ðồng Vaticanô II, là Hiến Chế về Mạc Khải Dei
Verbum (Lời Thiên Chúa), và hiến chế tín lý về Giáo Hội "Ánh Sáng Muôn
Dân" (Lumen Gentium).
Năm
1965, cùng với hai thần học gia Yves Congar và Edward Schillebeeckx,
giáo sư Karl Rahner thành lập tạp chí quốc tế về thần học, có tên gọi là
"CONCILIUM" (Công Ðồng). Ðồng thời, từ năm 1964, giáo sư Karl Rahner giảng dạy thần học tại Munich nơi tòa giáo sư Romano Guardini.
Từ
năm 1959 cho đến năm 1970, Giáo Sư Karl Rahner đã xuất bản 12 Quyển
"Luận Ðề Thần Học" (Ecrits théologiques), qua nhà xuất bản DDB. Năm
1983, giáo Sư Karl Rahner xuất bản tập sách nổi
tiếng có tựa đề là: "Luận đề Căn bản về Ðức Tin" Traité fondamental de
la Foi), qua nhà xuất bản Centurion.
Giáo Sư Karl Rahner qua đời năm 1984, hưởng thọ 80 tuổi, tại Innsbruck.
Những
suy tư thần học của Karl Rahner đã đóng góp nhiều cho dòng suy tư thần
học của Giáo Hội Công Giáo, nhất là trong những gì liên quan đến Thần
Học về Thiên Chúa Ba Ngôi, về Kitô Học, về Ân Sũng, về Giáo Hội và các
Bí Tích.
(Ðặng Thế Dũng)
Một
năm mới đang về. Năm mới sẽ đem về gì đây? Tôi không có ý nói đến một
viễn tượng nào đó cho thế giới, cho tình hình chính trị, hay cho Giáo
Hội. Tôi muốn nghĩ đến viễn tượng của chính mình – của tôi. Dấu hỏi này
và nỗi ưu tư này không hề vu vơ. Vì rồi sẽ tới lúc tôi ra đi, sẽ tới lúc
tôi không còn có mặt trên trần đời này nữa. Và chính đức tin – chứ
không phải những tưởng tượng lẩn quẩn về mình – cho tôi biết rằng dù ra
đi nhưng mình sẽ vẫn tồn tại thực sự, và tồn tại trong tất cả sự thực mà
mình đã trở thành ở đây và bây giờ, rằng toàn bộ thời gian đang trôi
chảy đây được thâu họp vào thực tại mệnh danh là “vĩnh cửu” – vĩnh cửu
của tôi, vĩnh cửu của bạn, vĩnh cửu độc nhất, không thể chuyển và không
thể đổi.
Vì
thế tôi có lý do để băn khoăn rằng năm mới này sẽ đem lại gì cho tôi.
Mà nói cho cùng, tất cả lịch sử rốt cục cũng chỉ quan trọng ở chỗ nó đem
lại gì cho mỗi con người, cho bạn và cho tôi, trong vĩnh cửu ấy (dù có
thể nhiều người nông cạn không nhìn ra tầm quan trọng này). Vì mọi cái
khác đều trôi qua, chúng không quan trọng lắm bởi chúng nay còn mai mất.
Rõ ràng ta có thể nói rằng cái thực tại chóng qua này đây – nếu được
hiểu đúng – chính là vĩnh cữu trong tiến trình đang trở thành; thực thể vĩnh hằng là thực thể phàm trần đã được mang đến mức viên mãn, chứ
không phải là một cái gì sẽ đến sau này theo cách hiểu thông thường –
vì nếu thực thể vĩnh hằng chỉ là cái sẽ đến sau, thì rồi cũng sẽ tới
lượt nó trôi đi mất, tiêu vong!
Đó
là lý do tại sao tôi quan tâm tới vấn đề năm mới này sẽ đem lại gì cho
mình. Với tất cả niềm trân trọng đối với vĩnh cửu, tôi muốn đặt câu hỏi
này ra. Vì những gì đang đến sẽ không tan biến mất. Nó đến để ở lại. Nó
có mặt để lưu tồn chứ không phải để tiêu vong. Nó cắm vào trong khoảng
trống của thời gian để lấp đầy thời gian. Nó là huyền nhiệm của vĩnh cửu
trong thời gian. Năm mới này sẽ đem lại gì đây – vấn đề này tôi trân
trọng mấy cũng không vừa. Vì bao lâu tôi còn đi qua dòng chảy của thời
gian trong thân phận con người mình, tôi vẫn luôn nghĩ rằng thời gian
không chứa đựng gì ngoại trừ chính nó. Tôi phải thường xuyên tự cảnh
tỉnh mình. Vĩnh cửu đang diễn ra nơi tôi bây giờ, một lần và cho tất cả,
vĩnh cửu đang có mặt bây giờ dẫu tôi tưởng rằng những gì đang trôi qua
đây chẳng có mấy tầm quan trọng.
Không
phải mọi khoảnh khắc đời tôi đều có đầy giá trị lưu dấu vĩnh cửu như
nhau. Vậy, khi nào thì một khoảnh khắc của đời tôi được “viên mãn” (theo
nghĩa: khi thời gian đến hồi “viên mãn”, Ngôi Lời Thiên
Chúa đã nhập thể và đi vào trần gian)? Rõ ràng khoảnh khắc ấy sẽ xảy
đến khi mà – với tất cả ý thức, can đảm và quyết tâm – tôi huy động trọn
vẹn con người mình và với tự do của mình tôi trao phó trọn vẹn con
người tôi cho Thiên Chúa, một cách hoàn toàn không nhuốm màu vị kỷ, một
cách khôn tả vì đó chính là nhờ tình yêu khôn tả của Thiên Chúa, Đấng mà
tôi chỉ thực sự biết khi nào tôi đạt đến cuộc dâng hiến khôn tả nầy. Và
người ta đạt đến điều này không phải bằng con đường thông thuộc đầy dấu
vết của cảm tính và giảo hoạt, nhưng là bằng thái độ nghiêm túc triệt
để và bền bỉ trung thành, vì Thiên Chúa là Đấng ta không thể hiểu thấu.
Như vậy, tôi chỉ có một cách để làm chủ chính mình: làm chủ qua hành vi
thí bỏ và trao hiến trọn vẹn con người tôi!
Và rõ ràng, đó là tất cả ý nghĩa của hành vi Kitôhữu. Vì, dù người ta có ý thức hay không, trong trật tự của
cuộc sống hiện tại, một hành vi như thế không thể được thực hiện ngoài
đức tin và ân sủng. Sở dĩ ta có thể bước tới được với Thiên Chúa, đấy là
bởi vì chính Ngài – Đấng vô cùng – đã đến gần gũi với ta nơi Đức Giêsu
Kitô (dù người ta có biết điều này hay không).
Thật
là đúng đắn, đáng khen, và rất có ý nghĩa khi nói (miễn là ta biết dè
dặt đúng mức chứ không lạm dụng bừa bãi) rằng chúng ta suy tưởng về
Chúa, chúng ta có thiện chí, chúng ta giữ các giới răn của Ngài thì (ta
nghĩ) sẽ chẳng có sự cố gì có thể xảy đến cho mình, chắc hẳn Ngài phải
tỏ ra ưu ái ta, thưởng công cho ta (như nhiều người Công Giáo nghĩ) hay
ít nhất Ngài cũng phải tha thứ tội lỗi cho ta (như nhiều người khác
nghĩ).
Dĩ
nhiên cách nghĩ ấy có thể đúng. Hay phải nói rằng quả thực cách nghĩ ấy
đúng. Song đó không phải là tất cả sự thực mà tôi đang quan tâm ở đây.
Nói cho cùng, chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa với hết lòng, hết sức
lực, với trọn linh hồn mình. Và đàng khác, chúng ta phải yêu như vậy
ngay khi mình còn trong thân phận lữ khách hành hương cách xa Chúa vời
vợi, ngay khi mình vẫn không nhìn thấy Ngài mặt đối mặt. Vì phúc ân mà
ta được hứa nằm ở trong sự hoàn thành trọn vẹn cuối cùng và vĩnh viễn
của thời gian, của tình yêu trong thời gian.
Vì
thế chúng ta phải tận hiến chính mình cho Ngài trước đã, bằng chính sự
tự do trong hiện tại này, để có thể hoàn toàn đón nhận được Ngài. Đó
phải là một hiến dâng trọn vẹn, không thể có một cắt xén nào, một châm
chước nào. Tất cả các phúc ân mà Ngài ban cho ta cũng cốt ở chỗ giúp ta
thực hiện hành vi dâng hiến này. Tuy nhiên duy chỉ việc Chúa ban ơn cho
ta cũng không đủ để làm ra hành vi dâng hiến đó; nó phải là một việc làm
của ta nữa (một việc làm trong thời gian mang ý nghĩa vĩnh cửu). Ngay
cả người kẻ trộm bị đóng đinh thảm hại kia cũng được nhận lời khi – vào
giây phút cuối cùng – anh ta bắt đầu tin yêu với trọn tấm lòng, trọn
năng lực và trọn linh hồn anh.
Nhưng
khi nào thì điều này xảy đến cho tôi? Và ở đâu ơn Chúa sẽ hoàn toàn
chiến thắng và hoàn toàn khuất phục sự tự do của tôi – để con người nhát
đảm và khiếp sợ của tôi (vốn không dễ gì chịu bỏ mình) có thể tìm ra
được đủ can đảm để dám thực sự hoàn toàn quên mình vì Chúa? Ở đâu và khi
nào tôi sẽ đạt đến điều đó? Chắc hẳn là tôi đã được điều đó rồi, tôi có
thể tự nhủ mình một cách đầy an ủi như thế. Vì, dĩ nhiên, tôi xác tín
rằng mình đang sống trong ân sủng Chúa, tôi xác tín rằng mình đã gặp
thấy lòng khoan nhân của Thiên Chúa và Thánh Thần của Ngài – là chính
tình yêu của Thiên Chúa - vẫn được đổ tràn vào lòng ta. Và do đó, (có
thể nói) tình hình không có gì là quá bi đát hay quá mờ mịt cho tôi, vì
tình yêu của Thiên Chúa tràn trào; nếu không nhận được tình yêu ấy thì
chẳng một ai có thể gặp thấy được Thiên Chúa của mình.
Câu
hỏi có thể đặt ra: Phải chăng chúng ta có thể nói rằng ta phải yêu mến
Thiên Chúa từ nơi sâu thẳm nhất của con người mình, yêu một cách đích
thực và chân thành – nhưng ta không cần phải thu tóm trọn cả cuộc sống
mình vào trong tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa “ngay lúc này”, lúc mà
chúng ta đang xao xuyến đặt câu hỏi này ra? Khi tự hỏi như vậy là chúng
ta cho thấy rằng mình vẫn còn đang bước đi trong cuộc hành trình dang
dở, vẫn đang còn ở trong giòng lịch sử phận người.... Không được phép cố
tình giậm chân tại chỗ, chết cứng. Chúng ta phải hăng hái tiến lên và
trưởng thành trong tình yêu này.
Và
nếu chúng ta làm thế, thì rõ ràng là mọi sự sẽ trở thành tốt đẹp ngay
trong hiện tại này – nghĩa là ngay khi mà chúng ta còn chưa có được một
tình yêu có sức làm cho mình biến đổi hoàn toàn, ngay khi chúng ta còn
tham lam và ích kỷ – dù vẫn có niềm tin và thiện chí. Chúng ta có tấm lòng và tấm lòng đó sẽ triển nở nếu ta không cố tình phung phí những cơ hội do cuộc sống và ơn Chúa ban cho.
Tất
cả những điều ấy quả xác thực và sự xác thực này rất có tính khích lệ
cho ta. Song như vậy không có nghĩa là có thể hoàn toàn thỏa mãn, vì dù
sao chăng nữa một lúc nào đó trong cuộc đời ta cái khoảnh khắc “thời
gian viên mãn” vẫn cần phải xảy ra. Cái khoảnh khắc linh thánh, tuyệt
vời, trọn vẹn ấy phải xảy ra. Cái khoảnh khắc tĩnh lặng như đêm Chúa ra
đời, trong đó với trọn lòng mình con người dâng hiến trọn vẹn chính mình
trong bàn tay của Đấng mà mình không thể thấu hiểu (thật là khủng khiếp
một sự phó thác như thế) – và cuộc dâng hiến ấy trọn vẹn đến nỗi món
quà hiến dâng không bao giờ bị lén lút rút lại, như thực tế vốn thường
xảy ra.
Ta
có thể dám hy vọng không, hy vọng rằng một ngày nào đó mình cỏ đủ tấm
lòng để thực hiện được hành vi dâng hiến ấy? Có phải thực ra ta đã hy
vọng rồi – vì rất có thể ta đã bắt đầu hy vọng rồi, và vì ta nghĩ mình
vốn vẫn yêu mến một mức nào đó hoặc vốn vẫn khao khát một tình yêu như
thế? Có phải đó là một dấu chứng đầy đủ cho niềm hy vọng – vừa rất dũng
cảm vừa vô cùng thiết yếu – rằng rồi sẽ đến lúc ta có thể thực sự biết
yêu bằng trọn vẹn con người mình? Duờng như tuổi tác càng chất chồng thì
tấm lòng người ta càng khó sẵn sàng để hiến dâng. Nó trở nên mỏi mệt,
héo hắt, lạnh lẽo và chán chường. Người ta tự hỏi phải chăng mình tiếp
tục bước tới bởi vì mình không thể làm bất cứ gì khác, mình đã hóa khô
cứng do trải qua sự khổ luyện hằng ngày, hoặc phải chăng mình như bất
lực không còn có thể làm gì khác bởi vì chính sự bất lực này là phần
thưởng ân phúc của sự tự do đích thực? Có phải nhân đức đã xuống cấp trở
thành chuyện thông thường, sự nỗ lực phấn đấu đã trở thành chuyện náo
động vu vơ, và lòng trung tín chỉ còn là tập quán?
Sự
viên mãn của thời gian trong đời tôi ở đâu, đâu là giờ phút quyết định
trong đó toàn bộ thực tại con người tôi được huy động? Phải có một giờ
phút như vậy. Bởi vì rõ ràng là con người ta không xây đắp
cuộc đời mình bằng cách thu gom những việc lành của mình, từng việc từng
việc lẻ tẻ, và dồn chúng lại. Đúng hơn, mỗi việc lành ấy đều có
tiềm năng chứa đựng cái toàn thể, có tiềm năng hiến dâng trọn vẹn cho
Thiên Chúa. Nếu chẳng vậy, làm sao một hành vi riêng lẻ nào đó có thể
quyết định cả cuộc sống con người. Thế mà mọi hành vi, hiểu theo nghĩa
đầy đủ, đều có sức quyết định như thế. Tội “trọng” là cái có thực, và
việc lành “trọng” cũng có thực. Một việc lành “trọng” tự yếu tính nó
phải khác với một việc lành “nhẹ” – cũng như tội trọng khác với tội nhẹ.
Nhưng đâu là những lúc mà tôi đã thực hiện những hành vi có tầm quan
trọng như thế, những hành vi có trọng lượng bằng cả con người tôi – bởi
vì chúng đặt cả con người tôi lên bàn cân của Thiên Chúa?
Người
ta thường nói đến những phút giờ trọng đại nhất, những khoảnh khắc
tuyệt vời và linh thánh nhất của đời người – và cứ dựa theo những biến
cố đang được mừng thì đó là: dịp rước lễ lần đầu, ngày thành hôn, ...,
dịp lãnh chức thánh, vv... Có phải những biến cố ấy là những bước quặt
của cuộc đời mà chúng ta đang tìm kiếm? Có phải những biến cố ấy chính
là sự tròn đầy của vĩnh cửu đi vào trong một khoảnh khắc của thời gian?
Chúng ta được phép nghĩ thế. Vì còn gì trọng đại hơn và quyết liệt hơn
cái khoảnh khắc mà – chẳng hạn – người ta thực sự ăn tấm bánh vĩnh cửu
là chính Thân Mình Chúa, Đấng đã tự hiến đến chết vì chúng ta?
Tuy
nhiên ai cũng rõ rằng người ta không những có thể đón nhận tấm bánh
vĩnh cửu ấy một cách bất xứng và vì thế tự chuốc lấy án vĩnh viễn cho
mình – chúng ta còn biết rằng dù bí tích có giá trị trọn vẹn
nhưng không phải bao giờ ta cũng lãnh nhận trọn vẹn thực tại mà bí tích
hàm chứa, tức trọn vẹn ân sủng – dẫu là ta không đang lãnh nhận bí tích
một cách bất xứng đi nữa. Không phải mỗi lần lãnh nhận sự viên mãn
của thời gian là mỗi lần tôi nhận được sự viên mãn của đời mình. Người
ta có thể sống trong khoảnh khắc của Đức Kitô mà cuộc sống của chính
mình vẫn trôi qua một cách khô cằn trống rỗng – hay khá hơn thì cũng rất
rời rạc vá víu. Sẽ tuyệt diệu biết bao nếu trong mô thức bí tích ấy
người ta có thể tìm thấy được sự viên mãn của cuộc sống mình. Tuyệt diệu
biết bao nếu sự viên mãn của thời gian có thể có
mặt trong chính giòng đời tôi, ở đây và bây giờ. Lúc ấy sẽ không còn
phải thiếu thốn gì nữa. Sự sung mãn vĩnh cửu của Thiên Chúa sẽ hiện diện
– và sự hiện diện thâm sâu này sẽ hiện thực một cách khả giác trong
chính biểu lộ của nó vừa ở chiều kích cá nhân vừa ở chiều kích Giáo Hội,
vừa hết sức cụ thể vừa đượm tính phụng vụ. Sự sung mãn ấy sẽ được hiện
thực tròn đầy trong dấu chỉ, trong biểu hiệu của bữa đại tiệc vĩnh hằng,
bữa đại tiệc của sự hoàn thành đầy đủ. Người ta sẽ uống cạn chén rượu
đời mình – và chén rượu ấy được cảm nhận đã tan hòa thành một trong chén
của Đức Kitô.
Điều
đó là có thể và là cần thiết. Song quả là ta không thể quyết chắc rằng
Thiên Chúa đã đặt định sẵn cho mọi người để phút giờ quyết định ấy của
mỗi người đều xảy ra đúng khi dấu chỉ của bí tích (diễn tả sự hoàn thành
của thế giới và của từng người bằng ân phúc và thứ tha) được thực hiện
trong cuộc đời họ. Xem ra chỉ một phần bé nhỏ của ân sủng ấy được đón
nhận, xem ra trong cõi lòng người ta chỉ thực sự có chỗ để đón nhận chỉ
một phần của ân sủng ấy – nếu như cõi lòng ấy không nhút nhát và hẹp hòi
quá mức.
Nghĩa
là, phút giờ trọng đại ấy, phút giờ sung mãn ấy rất có thể cũng xảy ra
khi dấu chỉ của bí tích (theo nghĩa rộng) nghèo nàn hơn, mù mờ hơn và
không phải là một opus operatum gì cả. Người ta có thể
uống cạn chén rượu đời mình với trọn sự sống và sự chết của mình trong
một phút giờ nào đó không phải là phút giờ của bàn tiệc Thánh Thể – dù
vậy họ vẫn sống phút giờ ấy của mình trong sự kết hợp mật thiết với phút
giờ của Đức Kitô. Vì Đức Kitô đã kết hợp phút giờ của mọi người vào
trong phút giờ của Ngài – phút giờ trở thành hiện thực trong hy lễ tiến
dâng và trong bàn tiệc Thánh Thể.
Người
ta có thể bất chợt đột phá qua mọi rào chắn vốn vẫn giam hãm bản ngã
đầy xao xuyến của mình và hòa nhập vào khung trời bao la của Thiên Chúa
xuyên qua một sự từ bỏ rất âm thầm lặng lẽ, một hy sinh xem ra hết sức
nhỏ nhặt tầm thường của họ. Có lẽ chính người ấy cũng không chú ý mấy
đến điều đang diễn ra nơi mình, có lẽ chẳng có cảm nghĩ nào được người
ấy xem là đáng đặc biệt ghi nhớ. Chỉ có điều là người ấy bỗng dưng trở
nên thật quảng đại cởi mở. Bỗng dưng tồn tại một cái gì đó mà mình không
thể gọi tên, một cái gì đó rất kỳ diệu, vô hình và không thể nào tả
được.
Nhưng
mọi sự khác hẳn. Thực tại đang có mặt ấy không thể được xếp bên cạnh
những thứ khác lấp đầy đời sống như kiểu những món đồ đạc cũ kỹ được
chất ngổn ngang đầy kín trong nhà kho. Thực tại ấy không thể được so
sánh với bất cứ gì khác và không thể được gán cho là cùng loại hay khác
loại với cái này hoặc cái kia. Con người ấy đã từ bỏ, đã ra đi, đã đoạn
tuyệt. Bây giờ, thật bất ngờ, con người ấy lại có mặt khắp mọi nơi và
nắm giữ tất cả, cái tưởng như “không là gì” ấy hóa ra chính là tất cả.
Con người ấy không cần một chỗ tựa nào nữa, vì bây giờ chính bản thân
mình đã trở thành một “toàn-thể-tính” ổn định, tự nâng đỡ mình (trong
toàn-thể-tính của Thiên Chúa) đứng vững không té ngã – vì trong cô đơn
này và trong sự từ bỏ này, không có gì mà con người ấy có thể té ngã vào
được nữa.
Có
thể có người đâm ra kinh sợ cái vô hạn rất trầm lặng đang mở ra cho
mình này – không phải mở ra bằng những ý tưởng trừu tượng, nhưng là mở
ra nơi cảm nghiệm về năng lực thực có của hữu thể mình, tức là tinh
thần. Người ấy như hoảng sợ thoái lui, quay trở lại với những gì quen
thuộc trong cuộc sống mình, quay trở lại với những gì khả giác, với
những bổn phận có giới hạn, với những nguyên tắc được công thức hóa rõ
ràng. Và như vậy người ấy không nhận ra đúng đắn rằng trong khi những
điều ấy quả cần thiết (cần thiết theo lý chứ không phải theo tình cảm
cuồng nhiệt) – thì người ta vẫn đâu phải cần đến chúng để trốn thoát
khỏi những thứ khác.
Những
điều ấy là phương tiện để cho người ta đạt đến sự chấp nhận đích thực
đối với cái vô hạn vốn phải thực sự được tìm thấy trong chúng – và là
cái không chỉ được đặt ra trước mặt người ta như một phần thưởng cho
những việc tốt lành hữu hạn mà họ thực hiện. Dĩ nhiên trong những việc
tốt lành này có sự hiện diện của ân sủng (nếu đây là những việc lành
đúng nghĩa như đã đề cập). Và ân sủng này, cuối cùng, là chính Thiên
Chúa – là ‘ơn phi tạo’ – là Thánh Thần Tình Yêu vĩnh cửu. Thiên Chúa
hiện diện đích thân trong những công việc tốt lành đó. Ngài không chỉ là
phần thưởng hứa ban cho những kẻ làm việc lành, bởi chính Ngài – trong
chân tính của Ngài – là Đấng trao ban những công việc ấy không nhằm mục
đích nào khác hơn là để cho chúng trở thành điều mà chúng nên thành và
phải thành (thì mới có thể được gọi là những việc có giá trị đúng nghĩa –
tức giá trị cứu độ): đó là chúng trở thành những lối mở dẫn vào sự vô
hạn bỏ ngỏ của Thiên Chúa.
Những
công việc và những tình cảm ngay lành xét theo tự nhiên (nếu chúng tồn
tại một cách tinh thuần đúng nghĩa) sẽ là những thực tại mà tự thân
chúng đáng được tưởng thưởng bằng một phần thưởng nào đó của Thiên Chúa –
chứ không phải là chính Thiên Chúa. Còn những “việc lành” của các
Kitôhữu (dù công khai hay âm thầm) thì chứa đựng sự vô hạn của chính bản
thân Thiên Chúa – Đấng vừa là điều kiện quyết định sự hiện hữu của khả
tính của chúng (bởi vậy nên gọi là ân sủng) vừa chính là phần thưởng của
chúng (gọi là sự sống đời đời). Và bởi vì Thiên Chúa đã không muốn chọn
một thế giới nào khác ngoài cái thế giới mà Ngài đã trao ban chính bản
thân Ngài (chính bản thân Ngài, chứ không duy chỉ trao ban những thành
quả do Ngài làm ra) cho nên rõ ràng là tất cả những gì hữu hạn chỉ có ý
nghĩa trong tư cách là một lối mở dẫn vào cái vô hạn không thể hiểu
thấu, trầm lặng và khôn lường.
Như
vậy, chỉ cần một hay hai củ hành ném qua bờ giậu cho người nghèo khó
cũng có thể là một bước quặt có tính quyết định – một chút lòng tốt mà
trong đó thực sự không hề nhắm kiếm tìm sự biết ơn, thứ tha mà không hề
chú ý đến sự kiện rằng mình đang tha thứ, một giọt máu chảy ra từ trái
tim và rơi vào đâu đó – thực không thể biết là nơi nào – mà không hề xót
xa, thái độ âm thầm chịu nỗi đớn đau cùng cực mà không hề hiểu vì sao –
cũng không biết được liệu mình có sẽ còn khả năng chịu đựng. Hay một kẻ
cô đơn cùng cực mà không trốn chạy khỏi nỗi cô đơn của mình, cũng không
phóng chiếu mình trong nỗi cô đơn đó. Hoặc một người sống đàng hoàng tử
tế trong cuộc sống bình thường và do đó bị khinh chê là khờ dại, song
vẫn không phẫn nộ phản kháng lại cái điên rồ của một thế giới trong đó
con người ngay thẳng bị xem là dại khờ.
Con
người đó cũng không tự vỗ về an ủi mình (để bù trừ cho sự thiếu vắng
lời khen ngợi của kẻ khác) bằng cách tự biểu dương và khâm phục tính
cách tử tế của mình. Người ấy không âm thầm thu gom những cái tốt của
mình lại – để sau này trình làng và gặt hái vinh dự, cũng không kể công
với bạn hữu hay vợ/chồng mình nhân khi mình lên tiếng phiền trách vì bị
xử tệ. Người ấy chỉ muốn tử tế, đơn giản vậy thôi! Kỳ diệu biết bao một
sự tử tế hoàn toàn vô tư, vô cầu. Đó là sự tử tế hoàn toàn hồn nhiên như
trẻ thơ. Đó là tình yêu thuần khiết của Thiên Chúa trong thế giới đời
thường. Thử hình dung một người chuyên chăm làm bổn phận mình, người ấy
không ngoại tình – trong hành vi và cả trong tâm tưởng – mặc dù bổn phận
chung thủy này cơ hồ như đòi người ấy phải chết đi chính mình, cơ hồ
như đòi người ấy phải khước từ chính bản ngã. Một hình dung khác, một
người cầu nguyện bỗng đột nhiên quên mất rằng mình đang cầu nguyện, đột
nhiên quên mất rằng mình đang cần một sự gì đó (và dĩ nhiên là cũng quên
mất rằng mình đang cố gắng tranh thủ cái mình cần), người ấy quên cả
rằng mình đang lên lời.
Chỉ
còn có Thiên Chúa ở đó thôi – rất trầm lặng, rất âm thầm nhưng cũng rất
thực. Không thể thấu hiểu, không thể diễn tả, không thể so sánh, không
thể bập bẹ được gì về Ngài – nhưng chính là Ngài đó, rất thực. Ngài ở đó
dường như bởi vì ta không còn ở đó. Ta có được Ngài bởi vì ta đã bỏ
mình và ra khỏi mình. Ngài ở đó, vì ta – rốt cục – không còn đồn trú
trong vành đai bản ngã mình nữa. Nói cho cùng, không thể nào diễn tả xa
hơn về cuộc siêu thoát này; vì một khi ta cố diễn nó thành lời trong
chính cái khoảnh khắc mà mình đã để bản ngã lại đằng sau, thì lập tức ta
đã quay trở về bên trong những lằn mức giới hạn rõ rệt của tình trạng
và thực tại mình. Nếu ta có phát biểu về nó (đôi khi đây là điều ta phải
làm), thì ta cũng không nhằm làm cho sự phát biểu của mình đóng vai trò
phô diễn cái hành động chứa đựng trong lời phát biểu ấy.
Thực
có những giờ phút quyết định như thế. những giờ phút ấy hoàn toàn có
thể xảy ra. Nhưng ta không đạt được những giờ phút ấy duy chỉ bằng việc
bàn luận về chúng. Bởi chỉ cần có một chút khả năng, người ta có thể ăn
nói trơn tru về chúng duy chỉ nhờ nghe người khác kể lại hoặc nhờ ở việc
phát hiện ra dấu vết rõ ràng của Thần Khí và ân sủng (dấu vết này thậm
chí có thể được tìm thấy nơi những việc làm và những kinh nghiệm phàm
tục và tầm thường nhất của đương sự). Vì nếu chúng ta không có một chút
kinh nghiệm gì về cái mà ta chỉ đạt được trọn vẹn trong những giờ phút
quyết định ấy, thì ta đâu còn thần tính nữa và đâu còn được ân sủng thu
hút nữa – trong khi thực sự ta luôn còn thần tính (cho dẫu ta đang dã
man vung dao giết người) và luôn luôn được thu hút về phía ân sủng.
Nhưng không phải mọi kinh nghiệm đều được ta đón nhận và nắm giữ với tất
cả năng lực của lòng mình. Ta không có được sự viên mãn của thời gian
và vĩnh cửu trong lòng mình bởi vì ta tự hài lòng với chỉ một thoáng
hương vị của nó và mê mải triết lý về chút hương vị bé nhỏ đó thôi.
Và
như vậy câu hỏi vẫn còn: Phải chăng một giờ phút quyết định như thế –
giờ phút mà thời gian của đời tôi đạt đến sự viên mãn – đã từng xảy ra?
Một câu hỏi điên khùng! Người ta không thể thực sự đặt câu hỏi kiểu đó.
Bởi vì chẳng ích gì cho tôi việc tôi có thể kể lại một khoảnh khắc như
thế đã từng xảy ra trước đây trong đời mình. Có lẽ tôi có thể tuyên bố
như thế. Có lẽ tôi có thể quyết đoán rằng khoảnh khắc ấy đã từng xảy ra
hồi tôi còn bé, lúc rước lễ lần đầu, khi tôi mời Chúa ngự vào lòng tôi –
một tấm lòng bé nhỏ nhưng chứa chan tình mến Ngài.
Nhưng
khi đặt câu hỏi như vậy, chẳng khác nào tôi cho rằng những gì đã xảy ra
vẫn còn có nghĩa lý với tôi bây giờ. Và điều đó hoàn toàn sai. Vì sự
viên mãn của thời gian trong đời tôi chỉ thực sự đáng kể khi đó là cái
chưa trôi qua. Vấn đề quan trọng là bây giờ hay ngày mai đây, một phút
giờ mang tầm vĩnh cửu như thế có xảy đến với tôi hay không. Vì bao lâu con người còn trong thân phận khách hành hương, bao lâu thời gian vẫn còn là thời gian, thì mỗi khoảnh khắc vẫn tựa như người
chạy tiếp sức với bó đuốc trong tay – người ấy không chỉ giữ ngọn lửa
rực cháy ấy cho riêng mình mà còn phải trao nó cho người kế tiếp. Chỉ
khi người sau nhận bó đuốc và mang nó chạy tiếp thì cuộc chạy của kẻ
trước mới khả dĩ có được ý nghĩa và giá trị gì.
Đời
sống quả thực không phải là một tổng hợp của những phần rời rạc riêng
biệt (ở đây đang nói đến đời sống tinh thần chứ không phải sự sống thể
chất); nhưng toàn thể đời sống xét như một thực thể thống nhất không
tách chia được – vận hành qua thời gian và trong một tiến trình trở thành xuyên
qua mọi sự. Vì vậy, duy chỉ sự kiện tôi đã được cái gì trước đây sẽ
không hề có nghĩa rằng hiện giờ tôi đang có cái đó, song trong quá trình
lâu dài này tôi có thể trở thành – một lần nữa trong hiện tại – như
mình đã trở thành trước đây. Cái đã qua luôn luôn chỉ có nghĩa một tiếng
gọi thúc giục ta hiện thực hóa điều vốn đã từng hiện thực, và đó cũng
còn là một lời hứa đảm bảo rằng điều đã từng thành công trong quá khứ
cũng sẽ thành công trong hiện tại này. Như vậy chỉ vì sự hiếu kỳ vu vơ
hoặc vì nỗi day dứt ăn năn muốn biến quá khứ thành tương lai mà người ta
mới quay trở lại với quá khứ của mình – để lục tìm những phút giờ cao
cả của vĩnh cửu đã từng xảy ra trong đó.
Do
đó, đừng nên hỏi rằng đã từng có một phút giờ quyết định như thế hay
không trong đời mình – một cuộc đời nghèo nàn trống rỗng, một cuộc đời
đầy những ảo ảnh ngay cả trong những điều gọi là tốt lành mà ta đã làm.
Thay vào đó, tốt hơn nên hỏi một phút giờ như vậy sẽ xảy đến với tôi từ
đâu trong quãng đường trước mặt mình. Tôi phải tìm ra nó ở trước mặt chứ
không phải ở sau lưng. Và cũng chính ở phía trước mặt tôi là nơi tôi
phải gặp thấy lại những phút giờ xưa cũ ấy. Vì những phút giờ mà Thiên
Chúa từ nhân tuôn đổ ơn sủng của Ngài trên tôi chỉ có thể còn lại với
tôi ở trên đường tôi đang đi tới mà thôi. Kho tàng của quá khứ là sự mở
ngỏ của tương lai.
Vì
rõ ràng chúng ta đã hành động là nhằm để có khả năng hành động, đã yêu
thương là nhằm để có khả năng yêu thương. Thật ra toàn thể quá khứ của
tôi có thể đến lại với tôi, bởi nó cần được bảo toàn hay được cứu độ. Vì
một người tìm gặp được Thiên Chúa thì không thể đánh mất gì, và vì một
khi chúng ta vẫn còn có thể có một trái tim và khả năng yêu mến Thiên
Chúa với trọn tấm lòng mình thì chúng ta chẳng bị hụt mất gì cả.
Tuy
nhiên, cơn nghĩa nộ của Thiên Chúa ập xuống trên những ai không hết
lòng tin vào sứ điệp hồng phúc của ân sủng đó của Ngài, ân sủng mà Ngài
không hề tiếc rẻ, ân sủng quyết định tất cả sự sống của ta. Có một thứ
tinh thần thực dụng trong đó người ta chỉ biết đến những gì nơi chính
mình và nơi con người mà thôi, và thường quên chính điều thực tiễn đệ
nhất là Thiên Chúa – là tương lai vĩnh cửu và là ân sủng nhờ đó mình có
thể làm cho tương lai vĩnh cửu ấy thành tương lai của chính mình. Sự
hoàn thành của tất cả khả năng này không phải ở đâu và lúc nào cũng nhất
thiết phải xảy ra kèm theo với cảm xúc và với những giọt nước mắt vui
mừng – như chúng ta thường muốn thế.
Cơ
hội hồng phúc này chủ yếu được hứa cho những người mỏi mệt và nặng trĩu
trong lòng, những người bị thiêu đốt bởi ngọn lửa vô hình của khổ đau
và thất vọng: Phúc cho những ai than khóc, phúc cho những ai đói khát.
Một
năm mới đang về. Một năm như bao năm khác. Một năm của rối ren và thất
vọng với chính bản thân tôi và với bao người. Khi Thiên Chúa xây dựng
ngôi nhà vĩnh cửu của chúng ta, Ngài dựng giàn giáo tốt để triển khai
công trình. Giàn giáo ấy tốt đến nỗi chúng ta muốn được sống luôn trong
đo!. Chỉ có điều trớ trêu là giàn giáo ấy lại bị hạ xuống. Thế rồi chúng
ta gọi sự tan rã này là tính mong manh vô thường bi đát của đời sống
chúng ta. Chúng ta xót xa và sầu thảm nếu trong viễn tượng của một năm
mới chúng ta nghĩ mình không thể gặp thấy gì ngoài sự sụp đổ của tòa nhà
cuộc sống mình – cuộc sống mà thực ra đang được xây dựng âm thầm cho
vĩnh cửu đàng sau giàn giáo được dựng lên và lại được hạ xuống.
Không,
năm mới đang đến đây không phải là một năm thất vọng hay một năm của
những ảo tưởng ru ngủ người ta. Đó là năm của Thiên Chúa, là năm mà
trong đó những phút giờ quyết định đang đến gần tôi một cách âm thầm và
êm ái, và sự viên mãn của thời gian đang đến để đi vào đời tôi. Tôi có
sẽ nhận ra những phút giờ ấy không? Hay những phút giờ ấy vẫn trống rỗng
chứ không có gì lạ? Vì đối với tôi chúng xem ra quá bé nhỏ, quá khiêm tốn và tầm thường?
Dĩ
nhiên xét mặt ngoài thì những phút giờ ấy sẽ không trông có vẻ khác
biệt gì so với những khoảnh khắc tốt lành thường ngày của bất cứ ai. Vì
thế, tôi có thể dễ dàng bỏ nhỡ không nhận ra những phút giờ ấy: một chút
nhẫn nhục làm cho cuộc sống dễ chịu hơn một chút cho những người xung
quanh tôi; sự bỏ qua một lỗi lầm của người khác; việc dám liều để xây
dựng niềm tin thực sự vào một người mà mình có xu hướng không tin tưởng
bởi vì mình nghĩ mình đã có những kinh nghiệm không tốt về người đó
trước đây; sự chân thành chấp nhận rằng người khác có cơ sở đúng đắn để
phê phán mình; sự bao dung đón nhận những vết thương người khác gây cho
mình và để nó chết hẳn trong lòng mình chứ không kéo dài nó bằng sự than
phiền, sân si, xót xa và báo oán; sự trung thành trong đời cầu nguyện
dù không cảm nhận được những “niềm ủi an” hay những “cảm nghiệm sùng
ngưỡng sốt mến”; sự cố gắng để yêu thương những người khiến mình bực bội
(dù là sự sai quấy hiển nhiên thuộc về họ), và không duy chỉ là cố gắng
thuận thảo với họ bằng cách nuốt giận vì thấy như vậy có lợi cho mình;
sự cố gắng để nhìn thấy nơi sự “điên dại” của người khác một loại thông
minh khác với sự khôn ngoan của mình nhưng đó không hẳn là ngu dại; sự
nhẫn nhịn để không đáp lại sự bất bao dung của người khác theo kiểu ăn
miếng trả miếng; sự cố gắng để không lấy nhân đức của mình biện minh cho
những lầm lỗi của mình; một ý chí cải thiện chính mình khi nhìn thấy
tội lỗi nơi người khác và chân tình muốn giúp họ đổi mới; sự xác tín
vững vàng rằng mình rất sẵn lòng và rất dễ dàng tự gạt mình và lấp liếm
nhiều lỗi lầm và gian ác mà mình vốn nhận thấy nơi bất cứ ai khác; không
chì chiết kẻ khác cũng không tự đề cao mình, và nhiều điều khác nữa vốn
chỉ thực sự là tốt khi được chuyên cần thực hành.
Chúng
ta chỉ cần cố gắng làm nghiêm túc những bổn phận bình thường ấy trong
đời sống hằng ngày. Và tất cả sẽ trở thành lớn lao. Song nếu vì quá phấn
khích mà không lượng sức mình, sự việc sẽ hóa ra nguy hại. Vì để sống
được như vậy, chúng ta phải là người chịu thiệt, chúng ta sẽ cảm thấy
như mình cho đi nhiều mà không nhận lại bao nhiêu. Chẳng có mối lợi nào
được thu vén cả – không được gì trước mắt người đời, cũng không được gì
bên trong lòng mình (chẳng hạn, một lương tâm tốt lành hay một cảm thức
rằng mình đã đắc thủ được nhiều nhân đức!); vì thậm chí những mối lợi ấy
cũng không còn sức hấp dẫn nào đối với mình.
Rồi,
một khi đã biết làm những việc nhỏ nhặt ấy với một thái độ thích đáng
(tự căn bản đây chính là thái độ Kitô giáo, dù ta không ý thức như vậy) –
sẽ đến lúc mà những nguyên tắc ứng xử hằng ngày thực sự trở thành chuẩn
mực đạo đức và luân lý, trở thành cửa ngõ dẫn ta vào vĩnh cửu bất diệt.
Sẽ đến lúc ta không được tưởng thưởng gì thêm – nghĩa là, ta không nhận
được bất cứ gì đặc biệt dù bên ngoài hay ở trong lòng mình, vì Thiên
Chúa đích thực hiện diện trong chính cái “không gì cả” ấy, và đánh mất
hữu hạn lại chính là bắt được vô hạn. Hơn nữa, chính xuyên qua việc đánh
mất những cái hữu hạn mà ta nhận thức được rằng mình đang đạt được cái
vô hạn. Cuộc sống của ta là một cuộc trả giá chính bản thân mình để lấy
cái vô hạn. Để được Thiên Chúa, ta không thể trả giá nào rẻ hơn.
Ta
cần nhận hiểu chiều kích thần nhiệm ấy của cuôc sống thường ngày. Chỉ
khi nhận hiểu như vậy, ta mới có thể tự nguyện nỗ lực – trong tinh thần
con cái Thiên Chúa – để chu toàn lề luật vì lòng kính trọng đối với
quyền cai quản tối cao trên vũ trụ (việc này ta không bao giờ có thể làm
xong trọn vẹn; vì đây là việc khó chịu, làm ta ấm ức như một kẻ lao
động khổ sai). Chiều kích thần nhiệm ấy của cuộc sống thường ngày chính
là ân sủng. Hoàn toàn là ân sủng. Nhưng dĩ nhiên điều đó không có nghĩa
rằng ta không cần phải làm gì cả ngoại trừ cố chấp đợi chờ cho đến khi
ân sủng của Thiên Chúa cưỡng bức ta đấu tranh chống lại ý muốn của ta.
Sự cưỡng bức của ân sủng, nếu có thể gọi như thế, chính là ở chỗ ta được
trao ban ý chí hướng thiện – và ý chí hướng thiện, đành rằng tiên vàn
do Chúa ban, song đó cũng là thành quả do công phu đắc thủ của con
người. Thái độ thích đáng của ta là tập cảm nếm vĩnh cửu trong thời gian
qua việc sống chiều kích thần nhiệm của cuộc sống thường ngày.
Sống
chiều kích thần nhiệm ấy, tức là ta đang sẵn sàng để cảm nhận những khả
năng tột đỉnh của cuộc sống, đó là những khoảnh khắc hy sinh anh hùng,
những thử thách khủng khiếp, sự điên rồ thánh thiện và cuối cùng là nỗi
chết của chính mình – ta chết trong cái chết của Đức Kitô! Làm sao ta có
thể đón nhận những khoảnh khắc ấy nếu ta không tỉnh thức sẵn sàng và –
trong khả năng hết sức có thể của mình – tự chuẩn bị cho mình những phút
giờ tột đỉnh ấy, những phút giờ mà ta không thể nắm trước được, những
phút giờ xảy đến ngoài mọi tiên lượng của ta?
Bất
cứ ai chưa từng cảm nếm vĩnh cửu trong thời gian sẽ kinh hoàng và lẩn
trốn những phút giờ ấy. Họ khiếp sợ; họ cảm thấy mình bị đòi hỏi quá sức
chịu đựng của mình. Thậm chí họ không nhận ra rằng ân sủng lớn lao của
đời sống đang ở ngay trước mặt, trong tầm tay họ. Họ phớt lờ, họ cho
rằng mình không thể “như thế” được. Và rõ ràng, họ không thể “như thế”
được bởi vì họ quá nhu nhược và tự ti trong đánh giá chính bản thân
mình.
Cần
phải tập sống chiều kích thần nhiệm của cuộc sống thường ngày. Nó khác
hẳn với một thái độ “trung thành với bổn phận” nào đó của những người
quá tủn mủn chi li, họ “đạo đức” một cách cứng nhắc và không ước ao gì
khác hơn ngoài việc tiếp tục mãi mãi làm một “viên chức hạng quèn” của
Thiên Chúa, miễn là họ luôn luôn nhận được “tiền lương” ngay trong cuộc
sống hiện tại này. Dĩ nhiên là những công việc nhỏ nhặt thường ngày vẫn
còn đó và chúng ta không thể thoát ra được. Thánh nhân cũng phải ngáp,
cũng phải cạo râu ... như bất cứ ai. Không có gì chắc chắn rằng những
phút giờ sẽ được ban cho chúng ta trong những ngày tháng sắp tới đây sẽ
là những phút giờ vĩ đại và đặc biệt quan trọng – ngay cả dù xét theo
quan điểm của chính chúng ta. Vậy thì chắc chắn phải có một vĩnh cửu
trong cuộc sống thường ngày. Vì chúng ta biết rằng mọi con người mà
chúng ta gặp thấy xung quanh cuộc sống mình – có vẻ như quá đỗi bình
thường thôi – song họ đều có đủ giá trị để trở thành một vĩnh cửu, và
trở thành vĩnh cửu ngay trên mặt đất này, dù cho tất cả những gì họ làm
dường như chỉ là nhọc nhằn lo toan sinh kế, cưới vợ lấy chồng, bình luận
chính trị hoặc xem bóng đá hay tán gẫu về nghệ thuật Picasso ...
Có
lẽ chính vì lý do này mà những phút giờ quyết định ấy chỉ đến với chúng
ta giữa chính nhịp sống thường ngày. Nhiều khoảnh khắc của nhịp sống
thường ngày sẽ chẳng hề có ý nghĩa bước quặt quyết định gì cả. Dĩ nhiên
chúng ta không thể dốc toàn lực mình mọi nơi mọi lúc. Và để có được sự
tự do lớn nhất thì ta phải từ bỏ nhiều nhất, bởi vì thực tại thiết cốt
nhất được đặt nền móng trên khả năng thâm sâu nhất và đây là một món quà
được ban tặng cho chúng ta. Khả năng dốc được toàn lực mình trong sự tự
do hoàn toàn chính là món quà tặng vĩ đại nhất. Khả năng ấy không được
ban cho chúng ta trong hết mọi phút giây. Tuy nhiên, khả năng ấy hoàn
toàn có thể được ban cho chúng ta trong một tình huống rất bình thường
của cuộc sống thường ngày. Ai có thể nói trước được khi nào thì phút giờ
ấy xảy đến? Chúng ta luôn luôn phải bước vào một tương lai bất quyết,
với những rủi ro và những cơ hội mà tương lai bất quyết ấy bao hàm. Bất
chợt, trong khi chúng ta chỉ cảm nhận được rất mù mờ về cái bất quyết ấy
khi chấp nhận nó thì sự hoàn thành lớn lao sẽ được ban cho chúng ta. Dù
sao đi nữa, sự hoàn thành ấy là của chúng ta vì chúng ta đã chấp nhận
nó trong đức tin (dù không biết nó).
Một
năm với những khả năng như thế đang đến với chúng ta. Chúng ta phải
mừng năm mới với đức tin cao độ hơn bao giờ – Hãy bứt ra khỏi sự yếu
nhược, sự chán chường và bất tín cố hữu của mình. Tương lai đang đến.
Những kẻ điên rồ nghĩ rằng tương lai đến để tìm kiếm quá khứ như thể một
ám ảnh khổ lụy và chết chóc. Kỳ thực nó đến vì nó muốn trở thành vĩnh
cửu. Nơi những con người chiếm hữu được Thiên Chúa thì cái quá khứ này
luôn hiện diện vô giới hạn. Tương lai vĩnh tồn ấy đang đến với chúng ta -
trong sự viên mãn của thời gian đời tôi, xuyên qua những phút giờ quyết
định của sự tự do đầy năng lực tin, cậy, mến.
Năm
mới này sẽ đem lại gì cho tôi? Còn gì khác nữa ngoài Thiên Chúa – trong
sự viên mãn của thời gian đời tôi. Mà này, rất có thể rằng chính cái
khoảnh khắc ngắn ngủi lúc này đây sẽ không còn chuyển giao ngọn đuốc của
sự sống vĩnh cửu cho một khoảnh khắc nào khác, thay vào đó ngọn đuốc
bây giờ sẽ tự nó sáng soi như ánh sáng bất diệt.
Biết đâu đó, như Thánh Tông Đồ Phaolô nói, tôi lao về phía trước, tôi
không ngoái lại đằng sau. Tôi không nghĩ rằng
mình đã đến đích, nhưng tôi lao về phía trước nhằm để đến đích. Đứng
trước thềm năm mới này, chúng ta cũng có thể thốt lên lời cầu
“Maranatha!” – Lạy Chúa, xin hãy đến! Vì quả Chúa đang đến – đang đến
trong năm mới của đời tôi. Năm mới này sẽ đem lại gì cho tôi? Còn gì nữa
nếu không phải là Đức Giê-su Kitô chịu đóng đanh và Phục Sinh! Còn gì
nữa nếu không phải là mầu nhiệm sự chết và sự sống của Ngài trong sự
sống và sự chết của tôi! Còn gì khác nữa nếu không phải là ánh sáng chói
lọi của Ngài trong đức tin nhọc nhằn của tôi, lời hứa của Ngài trong
đức cậy truân chuyên của tôi, tình yêu của Ngài dành cho tôi trong nỗ
lực không ngừng tìm kiếm Ngài trên con đường yêu mến và chia sẻ định
mệnh của Ngài.
Một năm mới lại về, năm của Chúa!
Karl Rahner, S.J.
(Lm. Lê Công Đức dịch)
No comments:
Post a Comment