Monday, July 9, 2012

HUẤN THỊ DIGNITAS PERSONAE VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LUÂN LÝ SINH HỌC

PHẨM GIÁ NHÂN VỊ: HUẤN THỊ CỦA VATICAN VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LUÂN LÝ SINH HỌC
HUẤN THỊ DIGNITAS PERSONAE VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LUÂN LÝ SINH HỌC
DẪN NHẬP
1.  Phẩm giá nhân vị phải được nhìn nhận đối với mọi hữu thể nhân linh từ khi thụ thai cho đến cái chết tự nhiên của nó. Nguyên tắc căn bản này, mà diễn tả một tiếng “vâng” lớn lao đối với sự sống của con người, phải được đặt ở trung tâm của suy tư luân lý về việc nghiên cứu y sinh học, đang ngày càng đạt được một tầm quan trọng lớn lao trong thế giới hôm nay. Huấn quyền của Giáo Hội đã nhiều lần can thiệp để lám sáng tỏ và giải quyết những vấn đề luân lý ngấm ngầm ở đó. Về vấn đề này, Huấn thị Donum Vitae (1) chiếm một tầm quan trọng đặc biệt. Tuy nhiên, hai mươi năm sau khi nó ra đời, đã đến lúc xúc tiến cập nhật nó.
Giáo huấn của văn kiện này bảo toàn tất cả giá trị của nó đối với các nguyên tắc cũng như những phán đoán luân lý được diễn tả ở đó. Thế nhưng, trong lãnh vực tế nhị của sự sống con người và của gia đình, những kỹ thuật y sinh học mới hiện nay đang khơi lên những vấn đề về sau, đặc biệt những gì liên quan đến việc nghiên cứu các phôi thai người, việc sử dụng các tế bào gốc cho những mục đích chữa trị cũng như lãnh vực y học thực nghiệm. Tất cả những kỷ thuật này khơi lên những vấn nạn mới mẻ đòi hỏi những câu trả lời thích ứng. sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học và sự mở rộng của nó nhờ các phương tiện truyền thông xã hội khơi lên những chờ đợi và những bận tâm nơi công luận. Các Hội đồng lập pháp thường được thúc giục để đưa ra những quyết định, bằng cách đôi khi bao hàm những tham khảo quần chúng, để quy định về mặt luật pháp cho những vấn đề này.
Những động cơ này đã đưa Bộ Giáo Lý Đức Tin đến việc soạn thảo một Huấn thị mới có tính cách giáo thuyết, để đương đầu với một số vấn đề gần đây, dưới ánh sáng của các tiêu chí đã được Huấn thị Donum Vitae loan báo. Những đề tài khác mà đã được bàn đến rồi, nhưng những điểm làm sáng tỏ về sau đối với chúng cần thiết phải có, cũng đã được xem xét lại.
2. Việc xem xét những vấn đề này luôn quan tâm đến những khía cạnh khoa học của chúng, nhờ sự cộng tác của một nhóm các chuyên gia và những phân tích của Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng Vì Sự Sống. Tất cả điều đó được lượng giá dưới ánh sáng của các nguyên tắc nhân chủng học kitô giáo. Các thông điệp Veritatis splendor (2) và Evangelium Vitae (3) của Đức Gioan Phaolô II và những tham luận khác của Huân Quyền sẽ đem lại những chỉ thị rõ ràng về phương pháp và nội dung trong suốt viêc xem xét những vấn đề này.
Giữa bức tranh toàn cảnh hiện nay và muôn hình vạn trạng, về triết học và khoa học, người ta có thể làm nổi bật một sự hiện diện lớn lao của các nhà khoa học và triết học giá trị mà, trong tinh thần của lời thề Hippocrate, nhìn thấy nơi y khoa một sự phục vụ đối với sự mỏng giòn của con người, đối với việc chữa trị các bệnh tậc, xoa dịu đau đớn cũng như việc mở rộng những chăm sóc cần thiết cách bình đẳng cho tất cả nhân loại. Thế nhưng, một số người đại diện trong chính những lãnh vực khoa học này  xem sự phát triển tăng trưởng của các ngành kỹ thuật y sinh học trong một viễn ảnh chủ yếu là ưu sinh.
3. Giáo Hội Công Giáo, khi đề nghị những nguyên tắc và những phán đoán luân lý về việc nghiên cứu y sinh học trong lãnh vực sự sống con người, dựa vào ánh sáng của lý trí cũng như đức tin, bằng cách đóng góp vào việc soạn thảo một cái nhìn toàn diện về con người và ơn gọi của nó. Điều này chứng tỏ khả năng của nó tiếp nhận tất cả những gì tỏ ra tốt lành nơi những công trình của con người và nơi những truyền thống văn hóa và tôn giáo đa dạng, mà thường có một sự tôn trọng lớn lao đối với sự sống.
Huấn Quyền muốn khích lệ và bày tỏ sự tin tưởng của mình đối với những ai xem khoa học như là một việc phục phụ cao quý cho thiện ích toàn diện của sự sống và cho phẩm giá của mỗi hữu thể nhân linh. Vì thế, chính trong sự hy vọng mà Giáo Hội chú ý đến việc nghiên cứu khoa học, và muốn rằng nhiều kitô hữu hiến mình cho việc thăng tiến y sinh hoc để làm chứng cho đức tin của mình. Vả lại, Giáo Hội bày tỏ ước muốn rằng những hoa trái của việc nghiên cứu này cần được sẵn sàng ứng trực thậm chí nơi những vùng nghèo và nơi những vùng mà bệnh tật chạm đến, để đáp lại nhu cầu cấp bách và bi đát nhất theo quan điểm nhân đạo. Sau cùng, Giáo Hội muốn hiện diện bên cạnh tất cả những người đau khổ nơi thể xác và tâm hồn, để mang lại không chỉ một sự an ủi, nhưng còn là ánh sáng và niềm hy vọng, qua đó bệnh tất và kinh nghiệm về cái chết tìm lại một ý nghĩa. Trên thực tế, những hoàn cảnh này thuộc về cuộc sống của con người và ghi dấu lịch sử của nó, bằng cách mở nó ra cho mầu nhiệm Phục Sinh. Cái nhìn của Giáo Hội trên thực tế là đầy tin tưởng vì “sự sống sẽ chiến thắng: đối với chúng ta, điều đó là một niềm hy vọng chắc chắn. Vâng, sự sống sẽ chiến thắng, vì chân lý, sự thiện, niềm vui, sự tiến bộ đích thực đều thuộc về phía sự sống” (4).
Huấn thị này nói với các tín hữu và tất cả những ai tìm kiếm chân lý (5). Nó bao gồm ba phần: phần thứ nhất nhắc lại một số khía cạnh có tầm quan trọng lớn về mặt nhân chủng học, thần học và luân lý; phần thứ hai đương đầu với những vấn đề mới mẻ gắn liền với việc sinh sản; phần thứ ba chú tâm đến những đề nghị chữa trị mới mẻ bao hàm việc cải biến phôi và gia sản di truyền của con người.
PHẦN THỨ NHẤT: CÁC KHÍA CẠNH NHÂN CHỦNG HỌC, THẦN HỌC VÀ LUÂN LÝ CỦA SỰ SỐNG VÀ CỦA VIỆC SINH SẢN CỦA CON NGƯỜI
4. Trong suốt những thập niên vừa qua, các khoa y học đã mở rộng đáng kể sự hiểu biết của chúng về sự sống con người ở những giai đoan đầu tiên của cuộc sống của nó. Chúng đã đạt đến chỗ biết tốt hơn những cấu trúc sinh học và tiến trình sinh sản của nó. Những phát triển này, chắc chắn là tích cực, xứng đáng được ủng hộ khi chúng  được dùng để vượt qua hay chữa trị những bệnh lý và khi chúng đóng góp vào việc tái lập sự vận hành bình thường của các tiến trình sinh sản. trái lại, chúng là tiêu cực, và do đó không thể được tán thành, khi chúng ngụ ý việc xóa bỏ mạng sống con người hay khi chúng dùng những phương tiện mà làm hại đến phẩm giá của con người. Cũng thế khi chúng được vận dụng vì những cứu cánh trái với thiện ích của con người. Thân xác của một con người, từ những giai đoạn đầu tiên của cuộc sống của nó, khôngbao giờ được giảm thiểu thành một tổng thể những tế bào. Thân xác phôi thai này được phát triển dần dần theo một “chương trình” được xác định rõ ràng và theo một cứu cánh riêng được biểu lộ lúc ra đời của mỗi đứa trẻ.
Bởi thế, thật quan trọng để nhắc lại tiêu chí luân lý căn bản được Huấn thị Donum Vitae trình bày để phán đoán tất cả những vấn đề luân lý liên quan đến những sự can thiệp của phôi của con người: “ Kết quả của việc hình thành con người từ khoảnh khắc đầu tiên của cuộc sống của nó, tức là từ sự cấu thành của hợp tử, đòi hỏi sự tôn trọng vô điều kiện về mặt luân lý đối với con người trong tình toàn vẹn thể xác và thiêng liêng của nó. Con người phải được tôn trọng và đối xử như là một nhân vị từ lúc thụ thai, và do đó từ giây phút này, người ta cần phải nhìn nhận cho nó những quyền của con người, trong đó trước tiên là quyền được sống bất khả xâm phạm của mọi hữu thể nhân linh vô tội” (6).
5. Khẳng định có đặc tính luân lý này được nhìn nhận là đúng đắn và phù hợp với luật luân lý bản nhiên nhờ chính lý trí; nó phải là nền tảng của mọi hệ thống pháp lý (7). Trên thực tế, nó giả thiết một chân lý có đặc tính hữu thể học, nhờ đó văn kiện này đã chứng mình tình liên tục của sự phát triển của con người, trên nền tảng của những hiểu biết khao học vững chắc.
Nếu Huấn thị Donum Vitae đã không định nghĩa phôi như là nhân vị, để không dấn thân minh nhiên trong một khẳng định có tính triết học, thì thế nhưng nó đã cho thấy rằng có một sự liên hệ nội tại giữa chiều kích hữu thể học và giá trị đặc thù của mỗi hữu thể nhân linh. Cho dù sự hiện diện của một linh hồn thiêng liêng không thể được khám phá bởi bất cứ việc quan sát dữ kiện thực nghiệm nào, nhưng chính những kết luận khoa học về vấn đề phôi người “cung cấp một chỉ dẫn quý giá để phân định về mặt lý trí một sự hiện diện nhân vị từ sự xuất hiện đầu tiên của một sự sống con người: làm thế nào mà một cá thể người (individu humain) lại không phải là một nhân vị (personne humaine)?” (8). Thực ra, thực tại của hữu thể nhân linh, trong suốt cuộc sống của nó, trước và sau khi sinh, không cho phép khẳng định một sự thay đổi bản tính, cũng không cho phép khẳng định sự giảm dần giá trị luân lý, vì nó sở hữu một định phẩm nhân chủng học và luân lý tròn đầy. Bởi thế, phôi người, từ ban đầu, có một phẩm giá riêng của nhân vị.
6. Tôn trọng một phẩm giá như thế là được đòi hỏi đối với mỗi con người, vì nơi nó phẩm giá riêng biệt này và giá trị của riêng nó được ghi khắc theo cách không thể phai nhòa được. Mặt khác, hôn nhân và gia đình cấu thành khung cảnh  đích thực nơi mà sự sống con người tìm thấy cội nguồn của nó. Ở cung lòng của nó, sự sống đến từ một hành vi diễn tả tình yêu hỗ tương giữa người nam và người nữ. Một sự sinh sản thực sự có trách nhiệm đối với đứa trẻ sắp ra đời “phải là hoa trái của hôn nhân” (9).
Trong mọi thời và nơi mọi nền văn hóa, hôn nhân “là một thiết lập khôn ngoan của Tạo Hóa để thực hiện nơi nhân loại kế đồ tình yêu của Ngài. Qua việc trao ban nhân vị hỗ tương, điều riêng biệt và độc quyền của mình, vợ chồng hướng đến sự hiệp thông hữu thể của họ nhằm hoàn thiện nhân vị lẫn nhau để cộng tác với Thiên Chúa vào sự sinh sản và giáo dục những cuộc sống mới” (10). Trong sự phong nhiêu của tình yêu vợ chồng, người nam và người nữ làm sáng tỏ rằng ở cội nguồn của đời sống vợ chồng của họ có một tiếng “vâng” đích thực được công bố và thực sự được sống trong sự hỗ tương, bằng việc luôn mở ra cho sự sống. […] Luật bản nhiên, nằm ở nền tảng của sự nhìn nhận sự bình đẳng đích thực giữa các nhân vị và các dân tộc, xứng đáng được nhìn nhận như là nguồn mạch mà mối tương quan giữa vợ chồng cũng phải đựa vào trong trách nhiệm sinh sản những đứa con mới của họ. Việc truyền sự sống được ghi khắc nơi bản tính và những luật lệ của nó vẫn còn như là một chuẩn mực bất thành văn mà mọi người phải quy chiếu đến” (11).
7. Giáo Hội xác tín rằng những gì là nhân bản thì không chỉ được tiếp nhận và tôn trọng bởi đức tin, nhưng nó cũng được thanh tẩy, nâng cao và hướng đến sự hoàn thiện. Sau khi đã tạo dựng con người theo hình ảnh và giống như Ngài (x. St 1, 26), Thiên Chúa đã thấy công trình tạo dựng của Ngài « rất tốt đẹp » (St 1, 31), và tiếp đến đã đảm nhận nó nơi Con của Ngài (x. Ga 1, 14). Qua mầu nhiệm Nhập Thể, Con Thiên Chúa đã xác nhận phẩm giá của thân xác và linh hồn, cấu thành hữu thể nhân linh. Chúa Kitô đã không khinh thường thân xác ; Ngài đã mạc khải cách trọn vẹn ý nghĩa và giá trị của nó : « quả thật, mầu nhiệm của con người chỉ thực sự được sáng tỏ nơi mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập Thể » (12).
Bằng cách trở nên một người trong chúng ta, Người Con chứng thực rằng chúng ta có thể trở nên « con của Thiên Chúa » (Ga 1, 12), « những người tham dự vào bản tính thần linh » (2 Pr 1, 4). Chiều kích mới mẻ này không mâu thuẫn với phẩm giá của thụ tạo, mà nhờ lý trí mọi người có thể nhận biết. Đúng hơn, nó nâng phẩm giá con người lên đến chân trời sự sống bên kia của Thiên Chúa, điều cho phép suy nghĩ cách thích đáng nhất đến sự sống của con người và đến những hành vi diễn tả nó (13).
Dưới ánh của những dữ kiện đức tin này, sự tôn trọng phải có đối với con người và được đời hỏi bởi lý trí, còn được làm nổi bật và củng cố hơn. Đó là lý do tại sao không hề có đối lập giữa khẳng định về phẩm giá của sự sống con người và đặc tính linh thánh của nó. « Những cách thức khác nhau mà Thiên Chúa chăm lo cho thế giới và con người trong lịch sử không chỉ không loại trừ nhau, nhưng trái lại, còn được củng cố và thấm nhập lẫn nhau. Tất cả đến từ kế đồ khôn ngoan và tình yêu ngàn đời mà Thiên Chúa tiền định cho con người « tái tạo lại hình ảnh của Con của Ngài » (Rm 8, 29) (14) ».
8. Từ hai chiều kích này, nhân bảnthần linh, có thể hiểu hơn lý do hiện hữu của giá trị bất khả xâm phạm của con người : nó có một ơn gọi đời đời và được kêu gọi hiệp thông với tình yêu Ba Ngôi của Thiên Chúa hằng sống.
Giá trị này được áp dụng cho hết mọi người không có phân biệt. Bởi sự kiện đơn giản là nó hiện hữu, nên mỗi hữu thể nhân linh phải được tôn trọng trọn vẹn. Liên quan đến phẩm giá, việc đưa vào những tiêu chí phân biệt, trên căn bản của sự phát triển sinh học, tâm lý học, văn hóa hay tình trạng sức khỏe, cần phải loại trừ. Nơi con người, được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa, phản ánh ở mỗi giai đoạn của cuộc sống của nó, « khuôn mặt của Người Con độc nhất của Ngài […] Tình yêu vô tận và hầu như không thể hiểu thấu này của Thiên Chúa đối với con người mạc khải cho đến mức nào nhân vị con người xứng đáng được yêu mến nơi chính nó, độc lập với tất cả mọi lý lẽ khác – trí thông minh, sắc đẹp, sức khỏe, sự trẻ trung, sự toàn vẹn… Chung cuộc, sự sống của con người luôn là một điều thiện hảo, vì « nó là môt biểu lộ của Thiên Chúa trong thế gian, một dấu của sự hiện diện của Ngài, một dấu vết của vinh quang của Ngài » (x. Evangelium vitae, n. 34) » (15). 
9. Như thế, hai chiều kích này của sự sống con người, tự nhiên và siêu nhiên, cho phép hiểu rõ hơn trong nghĩa nào các hành vi mà cho phép con người sinh ra và qua đó người nam và người nữ hiến mình cho nhau, là một phản ảnh của tình yêu của Ba Ngôi. « Thiên Chúa, Đấng là tình yêu và là sự sống, đã ghi khắc nơi người nam và người nữ ơn gọi tham dự đặc biệt vào mầu nhiệm hiệp thông nhân vị và vào công trình của Tạo Hóa và của Chúa Cha » (16).
Hôn nhân kitô giáo « thấm cội rễ của nó trong sự bổ sung tự nhiên tồn tại giữa người nam và người nữ, và được nuôi dưỡng nhờ vào ý muốn cá nhân của vợ chồng chia sẻ toàn thể của dự phóng sống của họ, những gì họ có và những gì họ là : bởi đó, một sự hiệp thông như thế là hoa trái và là dấu chỉ của một đòi hỏi nhân bản sâu xa. Nhưng trong Chúa Kitô, Thiên Chúa mang lấy đòi hỏi này, Ngài xác nhận nó, thanh tẩy nó và nâng nó lên, đưa nó đến sự hoàn thiện nhờ bí tích hôn nhân : Thánh Thần được tuôn tràn trong suốt cử hành bí tích ban lại cho các vợ chồng kitô hữu hồng ân của một sự hiệp thông mới, hiệp thông tình yêu, hình ảnh sống động và thực sự của sự hiệp nhất hoàn toàn đặc biệt mà biến Giáo Hội thành Thân Thể huyền nhiệm bất khả phân ly của Chúa Kitô » (17).
10. Khi phán đoán về tầm quan trọng luân lý của những kết quả gần đây của các nghiên cứu y khoa liên quan đến con người và nguồn gốc của nó, Giáo Hội không can thiệp vào lãnh vực riêng của y khoa như thế, nhưng nó nhắc nhở cho tất cả các bên liên quan, trách nhiệm luân lý và xã hội của các hành vi của họ. Giáo Hội cho thấy rằng giá trị luân lý của khoa y sinh học được đo lường bằng sự quy chiếu của nó đến sự tôn trọng vô điều kiện phải có đối với mọi hữu thể nhân linh, với mỗi khoảnh khắc của cuộc sống của nó, cũng như đối với việc bảo vệ tính đặc thù của các hành vi nhân vị truyền thông sự sống. Sự can thiệp của Huấn Quyền nằm trong sứ mệnh của nó nhằm thăng tiến việc giáo dục các lương tâm, bằng cách dạy dỗ cách đích thực chân lý mà là chính Chúa Kitô, và cũng đồng thời, bằng cách tuyên bố và xác nhận cách uy quyền những nguyên tắc của trật tự luân lý phát xuất từ chính bản tính của con người (18).
PHẦN THỨ HAI : NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI MẺ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ SINH SẢN
11. Dưới ánh sáng của các nguyên tắc được đề cập trên đây, chứng tỏ cần thiết bây giờ phải xem xét một số vấn đề liên quan đến sự sinh sản, những vấn đề đã xuất hiện rõ trong suốt những năm theo sau sự ra đời của Huấn thị Donum Vitae.
Những kỹ thuật trợ giúp cho sự sinh sản
12. Liên quan đến việc chữa trị chứng vô sinh, các công nghệ kỹ thuật y khoa mới phải tôn trong ba giá trị căn bản : a) quyền sống và quyền toàn vẹn thể lý của mọi hữu thể nhân linh từ lúc thụ thai cho đến cái chết tự nhiên ; b) sự duy nhất của hôn nhân mà bao hàm sự tôn trọng lẫn nhau quyền của các phối ngẫu trở nên các bậc cha mẹ chỉ xuyên qua nhau (19) ; c) những giá trị đặc thù nhân bản của giới tính, mà « đòi hỏi rằng sự sinh sản của một nhân vị phải được theo đuổi như là hoa trái của hành vi phối ngẫu đặc thù của tình yêu của vợ chồng » (20). Các kỹ thuật mà xuất hiện như là một sự trợ giúp cho việc sinh sản « không cần phải loại bỏ bởi vì nhân tạo. Những kỹ thuật như thế, chúng chứng tỏ những khả năng của nghệ thuật y khoa. Nhưng chúng cần phải được lượng giá về mặt luân lý qua việc quy chiếu đến phẩm giả của nhân vị, được kêu gọi thực hiên ơn gọi thần linh của nó là trao ban tình yêu và sự sống » (21).
Dưới ánh sáng của tiêu chuẩn này, cần phải loại trừ tất cả những kỹ thuật thụ tinh dị ngẫu (22) và những kỹ thuật thụ tinh nhân tạo đồng ngẫu (23) mà thay thế cho hành vi vợ chồng. Trái lại, được phép những kỹ thuật như là trợ giúp cho hành vi vợ chồng và cho sự sinh sản của họ. Huấn thị Donum vitae diễn tả bằng những từ ngữ này : « Vị y sĩ nhằm phục vụ con người và việc sinh sản của con người : ông không có quyền tùy ý sử dụng họ cũng không quyết định thay cho họ. Sự can thiệp y khoa là tôn trọng phẩm giá của các nhân vị khi nó nhắm giúp đỡ hành vi vợ chồng, để tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện nó, tức là để cho phép nó đạt đến mục đích một khi nó đã được thực hiện cách bình thường » (24). Liên quan đến việc thụ tinh nhân tạo đồng ngẫu, huấn thị khẳng định : « sự thụ tinh nhân tạo đồng ngẫu ở bên trong hôn nhân không thể được thừa nhận, trừ phi trong trường hợp phương tiện kỹ thuật không thể thay thế cho hành vi vợ chồng, nhưng  xuất hiện như là một sự tạo điều kiện dễ dàng và là một sự trợ giúp để hành vi này đạt tới mục đích tự nhiên của nó » (25).
13. Những kỹ thuật nhắm loại bỏ những trở ngại cho việc sinh sản tự nhiên, như là việc chữa trị hocmon chứng vô sinh do tuyến sinh dục, việc chữa trị giải phẫu tử cung, việc khai thông các vòi tử cung hay khôi phục vi phẫu độ tiếp nhận của chúng, tự chúng là hợp pháp. Chúng có thể được xem như là những trị liệu pháp đích thực, trong chừng mực, một khi đã giải quyết vấn đề nguồn gốc của sự vô sinh, vợ chồng có thể thực hiện những hành vi hôn nhân trong mục đích sinh sản, mà vị y sĩ không can thiệp trực tiếp vào hành vi vợ chồng như thế. Không có kỹ thuật nào trong các kỹ thuật này được thay thế cho hành vi vợ chồng, mà vẫn là hành vi xứng đáng duy nhất của việc sinh sản có trách nhiệm.
Để đáp lại cho ước muốn của nhiều đôi vợ chồng vô sinh muốn có con, cũng nền khích lệ, thăng tiến và tạo điều kiện dễ dàng, bằng những biện pháp pháp chế thích hợp, thủ tục nhận nuôi nhiều trẻ mồ côi mà cần đến một mái ấm gia đình cho sự tăng trưởng con người thích đáng của chúng.
Cuối cùng, cần phải lưu ý rằng những nghiên cứu và đầu tư nhằm ngăn ngừa việc vô sinh xứng đáng được khích lệ.  Một phần đáng kể các trường hợp vô sinh đến trình diện ngày nay với y sĩ, nơi người nữ cũng như nơi người nam, trên thực tế hẳn có thể tránh khỏi, nếu nhân đức trong sạch được sống trung thành hơn, nếu các chủ thể chấp nhận một lối sống lành mạnh hơn, và nếu các nhân tố rủi ro ở các cấp bậc nghề nghiệp, cấp dưỡng, dược lý và sinh thái được loại bỏ.
Thụ thai trong ống nghiệm và việc hủy bỏ cách chủ ý các phôi
14. Huấn thị Donum vitae đã từng nhận xét rằng việc thụ tinh trong ống nghiệm bao gồm việc loại bỏ cách chủ ý một số phôi nhất định (26). Một số nghĩ rằng điều đó là do phần kỹ thuật còn chưa hoàn hảo. Trái lại, kinh nghiệm đã cho thấy rằng, trên thực tế, tất cả các kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được diễn ra như thể phôi người chỉ là một đống tế bào được sử dụng, chọn lọc hay loại bỏ.
Chắc chắn, khoảng một phần ba phụ nữ nại đến việc sinh sản nhân tạo đạt đến việc có con. Thế nhưng, lưu tâm đến mối tương quan giữa con số toàn thể các phôi được sản sinh và các phôi thực sự sinh ra, thì con số phôi bị hy sinh vẫn là rất cao (27). Những việc mất phôi này được các chuyên viên kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm chấp nhận như là cái giá phải trả để đạt được những kết quả quyết định. Thật đáng bận tâm khi thấy rằng trong lãnh vực này, việc nghiên cứu dường như không mang một mối quan tâm thực sự đối với quyền sống của mỗi phôi, nhưng nhất là nhắm đạt được những kết quả tốt nhất xét theo tỉ lệ phần trăm các trẻ sinh ra so với các phụ nữ bắt đầu việc chữa trị.
15. Người ta thường phản đối rằng những tổn thất phôi này trong nhiều trường hợp diễn ra cách không chủ ý hay thậm chí ngược với ý muốn của các bậc cha mẹ và các y sĩ. Người ta khẳng định rằng nó hệ tại những rủi ro không khác biệt lắm với những rủi ro gắn liền với tiến trình tự nhiên của việc sinh sản và rằng muốn sinh ra sự sống mà không chấp nhận rủi ro nào thì trên thực tiễn sẽ có nghĩa là tránh truyền lại nó. Chắc chắn, tất cả những tổn thất phôi nơi việc sinh sản trong ống nghiệm không được gắn liền kiểu như thế với ý muốn của các bên liên hệ. Nhưng nó tỏ ra rằng, trong nhiều trường hợp, người ta thấy trước và muốn bỏ đi, hủy hoại hay làm tổn thất phôi.
Các phôi được sản sinh trong ống nghiệm mà cho thấy những khuyết tật đều bị loại bỏ cách có hệ thống. Càng ngày càng có nhiều vơ chồng không bị vô sinh nại đến những kỹ thuật sinh sản nhân tạo với mục đích duy nhất là  tiến hành việc chọn lọc di truyền các con cái của họ. Việc thực hành hiện nay từ nay nơi nhiều nước là kích thích việc rụng trứng để đạt được nhiều noãn bào có thể được thụ tinh. Một số phôi đạt được như thế được truyền vào trong tử cung, đang khi mà những phôi khác lại được đông lạnh để dùng cho những can thiệp sinh sản có thể trong tương lai. Mục đích của việc truyền nhiều như thế là ít ra để bảo đảm, trong chừng mực có thể, việc cấy được một phôi. Để đạt đến mục tiêu này, người ta cấy một số phôi lớn hơn số con cái mong muốn, đang khi thấy trước rằng một số phôi sẽ tổn thất và trong mọi trường hợp, người ta sẽ tránh việc nhiều bào thai. Như thế, trong thực tế, kỹ thuật truyền phôi bao gồm việc đối xử thuần túy dụng cụ các phôi. Không phải nghĩa vụ nghề nghiệp chung, cũng chẳng phải các thẩm quyền y tế thừa nhận, trong bất cứ lãnh vực nào khác của y khoa, một kỹ thuật bao gồm một tỉ lệ tổng thể cao như thế của những thất bại hay tổn thất. Các kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm thực ra được chấp nhận, vì chúng giả thiết trước rằng ở đây phôi không xứng đáng một sự tôn trọng trọn vẹn trong chừng mực nó ở thế cạnh tranh với một ước muốn mà nó phải làm thỏa mãn.
Thực tại buồn bã này, thường bị lờ đi, là hoàn toàn đáng tiếc, vì « thậm chí các kỹ thuật sinh sản nhân tạo, mà dường như là để phục vụ sự sống và là những thực hành bao hàm khá thường ý hướng này, trên thực tế mở cửa cho những tấn công mới nhắm vào sự sống » (28).
16. Giáo Hội cũng xem như là không thể chấp nhận được ở bình diện luân lý việc chia cắt sự sinh sản ra khỏi bối cảnh nhân vị toàn vẹn của hành vi vợ chồng (29) : việc sinh sản của con người là một hành vi nhân vị của cặp nam-nữ không công nhận bất cứ hình thức đại diện thay thế nào. Việc chấp nhận lặng lẽ tỉ lệ phá thai rất cao mà các kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm bao hàm chứng minh cách hùng hồn rằng việc thay thế hành vi vợ chồng bởi một thủ tục kỹ thuật – ngoài việc không tuân theo sự tôn trong phải có đối với việc sinh sản, việc này không được giảm trừ thành chỉ còn chiều kích sản xuất – đóng góp vào việc làm yếu đi ý thức tôn trọng phải có đối với mọi hữu thể nhân linh. Trái lại, việc nhìn nhận sự tôn trọng này được làm cho dễ dàng bởi tính mật thiết của đôi bạn được đánh động bởi tình yêu vợ chồng.
Giáo Hội nhìn nhận tính hợp pháp của ước muốn có con cái, và hiểu những đau khổ của các phối ngẫu đang gặp thử thách do những vấn đề son sẻ. Thế nhưng, ước muốn này không thể đi trước phẩm giá của sự sống con người, đến độ thay thế nó. Ước muốn có một đứa con không thể biện minh cho « sự sản xuất » của nó, cũng như ước muốn không mang thai không thể biện minh cho việc bỏ hay hủy hoại nó.
Trên thực thế, người ta có cảm tưởng rằng một số nhà nghiên cứu, thiếu hoàn toàn quy chiếu luân lý và (họ) ý thức về tiềm năng gắn liền với sự tiến bộ kỹ thuật, nhượng bộ cho lý lẽ của duy những ước muốn chủ quan (30) và cho áp lực tài chính, đặc biệt rất mạnh trong lãnh vực này. Đối diện với việc dụng cụ hóa hữu thể nhân linh ở giai đoạn phôi, cần phải tái khẳng định rằng « tình yêu của Thiên Chúa không phân biệt giữa hữu thể nhân linh vừa được cưu mang và vẫn còn ở trong dạ mẹ, và đứa trẻ, hay thiếu niên, hay là người đã chín chắn hay người già. Ngài không phân biệt, vì nơi mỗi người trong họ Ngài thấy dấu vệt của hình ảnh và giống như Ngài […] Đó là lý do tại sao Huấn Quyền của Giáo Hội liên lỉ tuyên bố đặc tính linh thánh và bất khả xâm phạm của mỗi sự sống con người, từ khi thụ thai cho đến kết thúc tự nhiên của nó » (31).
Kỹ thuật bơm tinh trùng vào trứng (Injection intracytoplasmique de spermatozoïdes ( ICSI) )
17. Trong số những kỹ thuật thụ tinh nhân tạo được phát triển gần đây, việc bơm tinh trùng vào trứng (32) đã dần dần mang một tầm quan trọng to lớn. Nó đã trở nên kỹ thuật được sử dụng nhiều nhất, do tính hiệu quả lớn hơn của nó, và bởi vì nó cũng cho phép vượt qua những hình thức vô sinh nam khác nhau (33).
Như việc thụ tinh trong ống nghiệm, mà nó là một biến thể, ICSI là một kỹ thuật bất hợp pháp nội tại, vì nó thực hiện một sự chia cắt hoàn toàn giữa việc sinh sản và hành vi vợ chồng. Trên thực tế, ICSI cũng được « thực hiện bên ngoài thân thể của cặp phối ngẫu, bởi những cử chỉ của những đệ tam nhân mà khả năng của họ và hành vi kỹ thuật quyết định sự thành công của sự can thiệp : nó phó mặc sự sống và căn tính của phôi cho quyền lực của các y sĩ và các nhà sinh học, và thiết lập một sự thống trị của kỹ thuật trên nguồn gốc và số phận của nhân vị. Một mối tương quan thống trị như thế tự nó là trái với phẩm giá và sự bình đẳng chung cho cha mẹ và con cái. Việc thụ thai trong ống nghiệm là kết quả của hành động kỹ thuật chi phối sự thụ tinh ; nó không được đạt được cách hiệu quả, cũng không tích cực được muốn, như là sự diễn tả và là hoa trái của một hành vi đặc thù của sự kết hợp vợ chồng » (34).
Kỹ thuật làm đông lạnh phôi (La congélation des embryons)
18. Một trong những phương pháp được dùng để cải tiến tỉ lệ thành công của các kỹ thuật sinh sản trong ống nghiệm là việc nhân tăng con số chữa trị liên tiếp. Để không lập lại việc lấy ra các noãn bào nơi phụ nữ, người ta thực hiện việc lấy duy nhất nhiều noãn bào mà người ta thụ tinh trong ống nghiệm, và người ta bảo toàn đông lạnh một phần quan trọng các phôi đạt được như thế (35), nhằm đề phòng trước vòng chữa trị thứ hai, trong trường hợp lần thử thứ nhất thất bại, hay đối với những trường hợp mà cha mẹ mong muốn một bào thai khác. Đôi khi, người ta cũng tiến hành làm đông lạnh các phôi được dự định cho lần truyền đầu tiên, vì sự kích thích hocmon chu kỳ nữ giới sản xuất ra những hiệu quả mà dẫn đến việc chờ đợi sự bình thường hóa các điều kiện sinh lý trước khi tiến hành truyền các phôi vào trong tử cung.
Việc bảo quản lạnh là không tương thích với sự tôn trọng phải có đối với các phôi người : nó giả thiết trước việc sản xuất nó trong ống nghiệm, và đặt chúng vào những nguy tử trầm trọng hay những biến chất sự toàn vẹn thể lý của chúng, cũng như cho thấy tỉ lệ phần trăm cao không sống sót sau kỹ thuật đông lạnh và làm tan đông lạnh. Ít ra cách tạm thời, nó tước chúng khỏi sự đón tiếp của người mẹ và khỏi sự phát triển trong thời gian mang thai và đặt chúng trong một hoàn cảnh có nguy cơ tổn hại và bị biến cải về sau (36).
Đa số các phôi không được sử dụng vẫn là « những trẻ mồ côi ». Các cha mẹ không yêu cầu chúng, và đôi khi người ta làm mất dấu vết của các cha mẹ này. Điều đó giải thích sự tồn tại của các nhà băng của hàng triệu phôi đông lạnh trong hầu như tất cả các nước mà việc thụ tinh trong ống nghiệm được thực hành.
19. Liên quan đến nhiều phôi đông lạnh đang tồn tại rồi, người ta tự hỏi phải làm gì với chúng. Một số người tự đặt câu hỏi này mà không nắm bắt tầm quan trọng luân lý của nó, họ được thúc đẩy duy nhất bởi sự cần thiết tôn trọng luật đòi hỏi thanh toán, sau một khoảng thời gian nào đó, những trung tâm bảo toàn đông lạnh các phôi này, đang khi chờ đợi đổ cho đầy chúng một lần nữa. Một số khác trái lại ý thức về sự bất công nghiêm trọng phạm phải, tự hỏi làm thế nào đáp lại nghĩa vụ sửa chữa những bất công này.
Những đề nghị sử dụng các phôi này cho việc nghiên cứu hay dự định chúng cho những mục đích chữa trị rõ ràng là không thể chấp nhận được, bởi vì người ta sử dụng chúng như là một « chất liệu sinh học » đơn giản, điều này ngụ ý hủy hoại chúng. Việc đề nghị làm tan đông lạnh các phôi này và, không phục hoạt chúng, sử dụng chúng cho việc nghiên cứu như thể đó chỉ là những xác chết, cũng không thể chấp nhận vì vấn đề không thể vượt qua được theo quan điểm cộng tác vào điều xấu và gây gương xấu (37).
Cũng thế, việc đề nghị đặt những phôi này dùng cho các cặp vợ chồng son sẻ, như là « liệu pháp cho sự son sẻ » không thể chấp nhận được theo quan điểm luân lý cũng vì chính những lý do như những lý do làm cho bất chính việc sinh sản nhân tạo dị ngẫu cũng như tất cả hình thức làm mẹ thay (38). Vả lại, việc thực hành này hẳn bao hàm nhiều vấn đề khác trên bình diện y khoa, tâm lý và pháp lý.
Để đem lại cơ hội sinh ra cho các hữu thể nhân linh nếu không sẽ buộc phải bị hủy hoại, một hình thức « nhận con nuôi trước khi sinh »  cũng đã được đề nghị. Giải pháp này, đáng được ca ngợi trong những ý hướng của nó để sự sống con người được tôn trọng và bảo vệ, lại cho thấy nhiều vấn đề không khác với những vấn đề đã được liệt kê trên đây rồi.
Chung cục, cần phải công nhận rằng hằng nghìn phôi trong tình trạng bị bỏ rơi thể hiện một hoàn cảnh bất công mà thực ra lại có thể sửa chưa được. Chính vì thế Đức Gioan Phaolô II đã đưa ra « một tiếng gọi với lương tâm của các vị hữu trách của thế giới khoa học và cách đặc biệt đối với các y sĩ để việc sản xuất phôi người được dừng lại, bằng cách quan tâm đến sự kiện rằng người ta không nhận thấy được bất kỳ kết cục chính đáng về mặt luân lý nào đối với số phận nhân linh của hàng ngàn và hàng ngàn phôi « đông lạnh », mà luôn luôn đang là và vẫn là những người giữ những quyền chủ yếu, và bởi thế cần phải bảo vệ về măt luật pháp như là những nhân vị » (39).
Kỹ thuật làm đông lạnh các noãn bào (La congélation d’ovocytes )
20. Trong mục đích giải quyết những vấn đề luân lý nghiêm trọng được đặt ra bởi việc bảo toàn đông lanh các phôi, người ta đã đề nghị làm đông lạnh các noãn bào, trong khuôn khổ các kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (40). Một khi được lấy ra một số noãn bào nhất định nhằm dự phòng cho nhiều vòng sinh sản nhân tạo, người ta thụ tinh duy nhất những noãn bào sẽ được truyền vào tử cung của người mẹ ; những noãn bào khác do đó được đông lạnh để dùng thụ tinh và truyền khi có thể trong trường hợp thất bại cho lần thử đầu tiên.
Về điểm này, nên làm rõ rằng việc bảo toàn đông lạnh các noãn bào nhằm tiến hành việc sinh sản nhân tạo phải được xem như là không thể chấp nhận được về mặt luân lý.
Kỹ thuật giảm trừ phôi (La réduction embryonnaire )
21. Một số kỹ thuật được dùng trong việc sinh sản nhân tạo, đặc biệt việc truyền nhiều phôi trong tử cung của người mẹ đã gây ra một sự gia tăng rõ ràng tỉ lệ phần trăm của nhiều bào thai. Trong đường hướng này, người ta xem xét kỹ thuật được gọi là « giảm trừ phôi » mà hệ tại việc can thiệp để giảm trừ số phôi hay bào thai hiện diện trong tử cung, bằng cách tiến hành loại chúng trực tiếp. Quyết định loại bỏ các hữu thể nhân linh như thế, mà trước đó người ta đã rất mong muốn, biểu lộ một sự nghịch lý, và nó thường là nguyên nhân cho các bậc cha mẹ về một sự đau khổ và một cảm giác tội lỗi mà có thể kéo dài nhiều năm.
Từ quan điểm luân lý, việc giảm trừ phôi là một sự phá thai chủ ý chọn lọc. Quả thế, nó hệ tại việc loại bỏ có chủ ý và trực tiếp một hay nhiều hữu thể nhân linh vô tội trong giai đoạn ban đầu của cuộc sống của chúng. Như thế, nó luôn luôn tạo nên một sự hỗn độn luân lý nghiêm trọng (41). Phán đoán luân lý này vẫn có giá trị ngay cả trong giả thiết còn phải chứng minh từng trường hợp, mà kỹ thuật này sẽ được thực hành trong khuôn khổ quản lý y tế việc mang nhiều bào thai, để tránh những rủi ro cho sự sống của bà mẹ cũng như cho sự sống của những đứa con sắp sinh.
Những lý luận được trình bày để biện minh cho việc giảm trừ phôi theo quan điểm luân lý thường quy chiếu đến những sự tương tự với các thảm họa thiên nhiên hay những hoàn cảnh cấp bách trong đó, bất chấp thiện chí của mọi người, không thể cứu tất cả các bên liên hệ. Những cái tương tự này không thể xây dựng, bằng bất cứ cách nào, một phán đoán luân lý nhằm bênh vực cho một thực hành phá thai trực tiếp. Trong trường hợp khác, người ta quy chiếu đến những nguyên tắc luân lý, như là những nguyên tắc chọn cái ít xấu hơn hay hành vi song hiệu, mà không thể được áp dụng trong bối cảnh này. Quả thế, không bao giờ  là hợp pháp để thực hiện một hành vi bất chính tự nội, cho dầu để nhắm đến một cứu cánh tốt : mục đích không biện minh cho phương tiện.
Chẩn đoán tiền cấy (Le diagnostic préimplantatoire)
22. Việc chẩn đoán tiền cấy ghép là một hình thức chẩn đoán trước khi sinh ra, gắn liền với những kỹ thuật thụ tinh nhân tạo. Nó bao gồm việc chẩn đoán di truyền các phôi đạt được trong ống nghiệm, trước khi truyền nó vào tử cung. Kỹ thuật này được dùng với mục đích có được sự chắc chắn là chỉ chuyền cho bà mẹ những phôi không có khuyết tật hay là những phôi của một giới tính đã xác định hay có một số phẩm chất.
Đang khi mà trong những hình thức chẩn đoán trước khi sinh, giai đoạn chẩn đoán được tách rời với giai đoạn có thể loại trừ bào thai và trong khoảng cách này, các cặp vợ chồng vẫn có tự do đón nhận con cái bệnh tật, thì sự chẩn đoán tiền cấy ghép thông thường đi trước việc loại bỏ phôi « bị nghi ngờ » là có những khuyết tật di truyền hay nhiễm sắc thể, hay là phôi mang một giới tính không được ao ước hay có những phẩm chất không được mong muốn. Việc chẩn đoán này – luôn nối kết với việc thụ tinh nhân tạo mà đã là bất hợp pháp tự nội – trên thực tế nhắm một sự chọn lọc phẩm chất với hậu quả hủy hoại các phôi, điều này được thể hiện bằng một hình thức thực hành phá thai sớm. Việc chẩn đoán tiền cấy bởi thế là sự diễn tả cái não trạng ưu sinh này « mà chấp nhận phá thai có chọn lọc để ngăn cản sự ra đời của những đứa trẻ bị ảnh hưởng bởi những loại dị thường khác nhau. Một não trạng như thế là ô nhục và luôn luôn đáng chê trách, bởi vì nó muốn đo lường giá trị của một mạng sống con người chỉ theo những tham số « bình thường tính » và của sự sung sướng thể lý, như thế đang mở ra  con đường cho sự hợp pháp hóa việc giết trẻ sơ sinh và cái chết êm dịu » (42).
Khi đối xử phôi người như chỉ là một « chất liệu phòng thí nghiệm », người ta thực hiện một sự làm hỏng hay phân biệt liên quan đến ý niệm phẩm giá con người. Phẩm giá, cách bình đẳng, thuộc về mỗi hữu thể nhân linh và không lệ thuộc vào kế hoạch của cha mẹ, điều kiện xã hội hay giáo dục văn hóa, cũng không thuộc về giai đoạn tăng trưởng thể lý. Nếu, vào những thời khác, dù chấp nhận chung chung quan niệm cũng như những đòi hỏi của phẩm giá con người, người ta đã thực hành sự phân biệt vì những động cơ chủng tộc, tôn giáo hay cương vị xã hội, thì ngày nay người ta can dự vào một sự phân biệt bất công và không kém nghiêm trọng hơn mà dẫn đến việc không nhìn nhận quy chế luân lý và pháp lý của các hữu thể nhân linh bị ảnh hưởng của các bênh tật nghiêm trọng hay tật nguyền : người ta đi đến chỗ quên rằng những bệnh nhân và những người bị tật nguyền không hình thành nên một thứ phạm trù tách riêng ; bệnh tật hay tật nguyền thuộc về thân phận nhân sinh và liên quan đến mọi người cách cá nhân, thậm chí khi người ta không có kinh nghiệm trực tiếp về chúng. Một sự phân biệt như thế là phi luân lý và do đó phải được xem như là không thể chấp nhận được về mặt pháp lý ; cũng thế, người ta phải loại trừ những rào chắn văn hóa, kinh tế và xã hội, mà làm xói mòn sự nhìn nhận trọn vẹn và việc bảo vệ những người bị tật nguyền và bệnh tật.

Những hình thức ngừa thai mới : ngăn chặn mang thai và loại bỏ phôi thai (interception et contragestion)
23. Bên cạnh những phương pháp ngừa thai nói riêng mà ngăn cản việc thụ thai sau một hành vi tính dục, có những phương tiện kỹ thuật can thiệp sau việc thụ tinh, trước hay sau việc cấy phôi đã được hình thành trong tử cung. Những kỹ thuật này được gọi là kỹ thuật ngăn chặn mang thai (interceptives) khi chúng can thiệp trước khi cấy phôi trong tử cung của người mẹ, và kỹ thuật loại bỏ phôi thai (contragestives) nếu chúng gây ra việc loại bỏ phôi vừa mới cấy.
Để khuyến khích việc truyền bá các phương tiện ngăn chặn mang thai (43), đôi khi người ta khẳng định rằng cơ chế hoạt động của chúng đã không được biết đến cách đầy đủ. Chắc chắn, người ta vẫn còn chưa có được một sự hiểu biết toàn bộ về cơ chế hoạt động của các tác nhân khác nhau được dùng đến. Nhưng những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng hiệu quả ngăn chặn cấy là thực sự có, cho dầu điều đó không có nghĩa rằng các phương tiện ngăn chặn mang thai gây ra một việc phá thai mỗi lần người ta nại đến chúng, bởi vì một quan hệ tính dục không luôn luôn tạo ra một sự thụ tinh. Tuy nhiên, nên ghi nhận rằng, nơi người nào muốn ngăn chặn việc cấy phôi có thể được mang thai về sau và vì thế yêu cầu hay đòi hỏi những tác nhân như thế, thì ý hướng phá thai nói chung đã có rồi.
Khi người ta nhận thấy một sự chậm trễ kinh nguyệt, thì đôi khi người ta nại đến việc loại bỏ phôi thai (44), nói chung được thực hành giữa một đến hai tuần sau khi nhận thấy cái gọi là sự chậm trễ. Mục tiêu được tuyên bố là tái lập một lần nữa kinh nguyệt, nhưng trên thực tế, nó hệ tại việc phá phôi thai vừa thực hiện việc cấy ghép của nó trong tử cung.
Như chúng ta biết, phá thai là « sự giết người có chủ ý và trực tiếp, dù là cách nào mà nó được thực hiện, một hữu thể nhân linh trong giai đoạn ban đầu của cuộc sống của nó, nằm giữa việc thụ thai và sinh ra » (45). Vì thế, việc sử dụng các phương tiện ngăn chặn mang thai và phá bỏ phôi thai nằm vào loại tội phá thai và vẫn là một hành vi phi luân lý nghiêm trọng. Vả lại, người ta chuốc lấy những hệ quả hình phạt nghiêm trọng, theo giáo luật (46).

PHẦN THỨ BA: NHỮNG ĐỀ NGHỊ ĐIỀU TRỊ MỚI BAO GỒM VIỆC CẢI BIẾN PHÔI VÀ GIA SẢN DI TRUYỀN CỦA CON NGƯỜI.
 24. Trong suốt những năm vừa qua, những kiến thức thủ đắc được đã mở ra những viễn ảnh điều trị mới mẻ cho y học tái tạo (médecine régénérative) (là khoa học mà mục tiêu của nó là sửa chữa các mô hay các bộ phận của thân thể bị biến đổi về mặt di truyền, bị hư hỏng do bệnh tật hay tao nạn…chú thích của người dịch) và cho việc chữa trị các bệnh tật di truyền. Trái với trường hợp của các tế bào gốc trưởng thành, việc nghiên cứu các tế bào gốc phôi thai và những áp dụng điều trị có thể trong tương lai của chúng, đặc biệt, đã khơi lên một mối quan tâm lớn lao, cho dầu những tế bào này đã không cung cấp, cho đến ngày hôm nay, những bằng chứng về tính hiệu quả của chúng trong lãnh vực lâm sàng. Từ giây phút mà một số người cho rằng những kết quả điều trị mà có thể được đạt tới nhờ những tế bào gốc phôi thai có thể biện minh cho những hình thức cải biến (manipulation) và hủy hoại phôi người khác nhau, thì trong lãnh vực liệu pháp gien, từ kỹ thuật nhân bản vô tính (clonage) và từ việc sử dụng các tế bào gốc của con người, đã nổi lên cả một loạt những vấn nạn mà đòi hỏi một sự phân định luân lý chăm chú.

Kỹ thuật liệu pháp gien (La thérapie génique)

25. Qua thuật ngữ liệu pháp gien, cách chung người ta muốn chỉ rõ việc ứng dụng cho con người những kỹ thuật ứng dụng di truyền với mục đích điều trị, tức là nhằm chữa trị các bệnh di truyền, cho dầu người ta từ ít lâu nay muốn áp dụng liệu pháp gien trong khuôn khổ của việc chữa trị các bệnh tật không di truyền, và đặc biệt là bệnh ung thư.
Về mặt lý thuyết, có thể áp dụng liệu pháp gien ở hai cấp độ : cấp độ của các tế bào bản thể (cellules somatiques) và cấp độ các tế bào mầm (cellules germinales). Liệu pháp gien bản thể muốn loại bỏ hay giảm trừ các khuyết tật di truyền hiện diện ở cấp độ của các tế bào bản thể, tức là những tế bào không sinh sản bao gồm các mô và các bộ phận của thân xác. Trong trường hợp này, nó hệ tại những can thiệp nhắm đến những khu vực xác định của các tế bào, với những hệ quả được giới hạn cho chỉ một mình cá nhân chữa trị. Trái lại, liệu pháp gien mầm nhắm sửa chữa những khuyết tật di truyền nơi các tế bào thuộc dòng chủng hệ (lignée germinale), để những hệ quả điều trị đạt được nơi chủ thế có thể được truyền cho hậu duệ về sau của mình. Những can thiệp liệu pháp gien bản thể cũng như thuộc mầm này, có thể được thực hiện trên bào thai trước khi sinh – khi đó người ta sẽ nói về liệu pháp gien nơi tử cung (in utero) – hay sau khi sinh, trên đứa trẻ hay trên người trưởng thành.
26. Phán đoán luân lý về kỹ thuật liệu pháp gien phải quan tâm đến những phân biệt này. Những can thiệp trên tế bào bản thể với những mục đích hoàn toàn điều trị, trên nguyên tắc, là hợp pháp về mặt luân lý. Những kỹ thuật này muốn tái lập việc tạo hình dáng di truyền bình thường của chủ thể hay đền bù những thiệt hại được gây ra do những dị thường di truyền hay do những chứng bệnh khác nối kết với chúng. Vì liệu pháp gien có thể bao hàm những nguy cơ quan trọng đối với bênh nhân, nên cần phải tuân thủ nguyên tắc chung nghĩa vụ học theo đó việc vận dụng một sự can thiệp điều trị nhất thiết phải bảo đảm trước rằng bệnh nhân không có những nguy cơ – thái quá hay không tương xứng liên quan đến tính trầm trọng của căn bệnh và người ta muốn chăm sóc – cho sức khỏe hay cho sự toàn vẹn thân xác của mình. Sự đồng thuận rõ ràng của bệnh nhận hay của người đại diện hợp pháp của người bệnh cũng cần được đòi hỏi. Phán đoán luân lý về liệu pháp gien mầm, trái lại, là khác biệt. Mọi biến đổi gien được thực hiện nơi các tế bào mầm của một nhân vị hẳn sẽ được truyền cho hậu duệ của nó. Vì những nguy cơ gắn với mọi lạm dụng di truyền là quan trọng và ít được kiểm soát, nên về mặt luân lý, trong tình trạng hiện nay của việc nghiên cứu, không thể chấp nhận hành động liều lĩnh mà những tổn hại tiềm tàng gắn với sự can thiệp gien có thể được truyền cho con cái. Trong giả thuyết áp dụng liệu pháp gien cho phôi, cần phải thêm rằng người ta chỉ co thể thực hiện điều đó trong khuôn khổ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, điều mà đặt nó trước những phản đối về mặt luân lý liên quan đến những tiến hành này. Vì những lý do này, người ta cần khẳng định rằng trong tình trạng hiện nay của sự việc, liệu pháp gien mầm, dưới mọi hình thức của nó là bất hợp pháp về mặt luân lý.
27. Giả thiết về những mục đích ứng dụng kỹ thuật trong lãnh vực di truyền, (những mục đích mà) khác với kỹ thuật ứng dụng điều trị, xứng đáng được chú ý cách đặc biệt. Một số nhà nghiên cứu đề nghị sử dụng những kỹ thuật ứng dụng di truyền để thực hiện những cải biến với mục đích gọi là cải tiến hay củng cố khả năng di truyền (la dotation génétique). Một số đề nghị trong đường hướng này tỏ rõ một loại không thỏa mãn hay thậm chí từ chối giá trị của hữu thể nhân linh như là thụ tạo và là nhân vị giới hạn. Ngoài những khó khăn vận dụng một kỹ thuật như thế, với tất cả những nguy cơ hiện thực và tiềm tàng gắn liền với nó, rõ ràng những cải biến như thế tạo điều kiện dễ dàng cho một não trạng ưu sinh và đưa vào một sự lên án gián tiếp của xã hội đối với những người không có một số phẩm chất đặc thù. Vả lại, chúng nhấn mạnh đến những phẩm chất được ưa thích bởi các nền văn hóa và xã hội nhất định, những phẩm chất mà chính chúng không tạo nên những gì đặc thù cho con người. Điều đó trái ngược với chân lý nền tảng của sự bình đẳng giữa tất cả các hữu thể nhân linh, được diễn tả bằng nguyên tắc công bằng, mà việc vi phạm nó dần dà, cuối cùng rồi cũng sẽ làm cho sự chung sống hòa bình giữa các cá nhân gặp nguy hiểm. Vả lại, người ta tự nhủ ai sẽ là người xác định trong số những biến đổi này, những biến đổi nào là tích cực và những biến đổi nào thì không, và đâu là những giới hạn của những việc nghiên cứu các nhân đối với cái cho là cải tiến, bởi vì không có thể đáp ứng cho mọi ước muốn của mỗi người. Câu trả lời cho những câu hỏi này dù sao đi nữa sẽ được trả lời dựa trên những tiêu chí trừu tượng và có thể tranh cãi. Tất cả những điều đó đưa đến kết luận rằng một viễn ảnh can thiệp như thế cuối cùng sớm hay muộn cũng sẽ làm hại cho công ích, bằng cách làm cho ý muốn của một số người thắng thế trên tự do của những người khác. Sau cùng, nên nêu rõ rằng, trong cám dỗ muốn tạo ra một loại người mới, một chiều kích ý thức hệ theo đó con người có tham vọng thay thế Đấng Tạo Hóa , được biểu lộ.
Khi khẳng định trên bình diện luân lý đặc tính không thể chấp nhận được của loại can thiệp này mà ngụ ý một sự thống trị bất công của người đối với người, Giáo Hội cũng nhắc lại sự cần thiết trở về vớiviễn ảnh săn sóc con người và giáo dục tiếp nhận sự sống con người trong sự giới hạn lịch sử cụ thể của nó.
Kỹ thuật nhân bản vô tính (Le clonage humain)
28. Qua kỹ thuật nhân bản vô tính, người ta chỉ việc sản xuất vô tính và vô giao toàn thể cơ thể người để sản xuất ra một hay nhiều « bản sao » về thực chất giống với nguyên bản (progéniteur) độc nhất (47) theo quan điểm di truyền. Việc sinh sản vô tính được đề nghị với hai mục tiêu căn bản : mục tiêu sản xuất (reproductif), tức là nhắm đạt được sự ra đời của một đứa con được sinh sản vô tính, và mục tiêu kia là điều trị (thérapeutique) hay nghiên cứu. Sinh sản vô tính sản xuất về mặt lý thuyết là có thể đáp lại một số nhu cầu đặc thù như việc kiểm soát sự tiến hóa của con người, sự chọn lọc các hữu thể nhân linh với những phẩm chất siêu đẳng, việc chọn lọc trước giới tính của đứa trẻ sắp sinh ra, việc sản sinh ra một đứa trẻ mà là « bản sao » của một người khác, việc sản sinh ra một đứa trẻ cho một đôi vợ chồng đau khổ vì son sẻ mà không có những giải pháp chữa trị khác. Trái lại, việc nhân bản vô tính điều trị được đề nghị như là phương tiện sản sinh ra những tế bào gốc phôi thai có một gia sản di truyền được xác định trước, để vượt qua vấn đề vất bỏ (bất tương thích di truyền miễn dịch (immuno-incompatibilité)) (do không có cùng gia sản di truyền giữa tế bào phôi và người được chữa trị, chú thích của người dịch); bởi thế, nó gắn liến với vấn đề sử dụng các tế bào gốc phôi thai.
Những toan tính sinh sản vô tính đã khơi lên một mối bận tâm to lớn trên toàn thế giới. Nhiều cơ quan ở bình diện quốc gia và quốc tế đã bày tỏ những phán đoán tiêu cực đối với việc nhân bản vô tính và, trong đa số các nước, đã bị cấm.
Nhân bản vô tính là bất hợp pháp tự nội trong chừng mực mà, khi đẩy đến cực độ đặc tính tiêu cực của phán đoán luân lý liên quan đến những kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, ở bình diện luân lý, nó muốn mang lại nguồn gốc cho một hữu thể nhân linh mới không hề có liên hệ nào với hành vi trao ban hỗ tương giữa vợ chồng và, cách tận căn hơn, không có liên hệ nào với giới tính. Hoàn cảnh này khơi lên những lạm dụng và cải biến mà gây hại nghiêm trọng cho phẩm giá nhân vị (48).
29. Nếu nhân bản vô tính có mục đích sản xuất, thì người ta sẽ áp đặt cho chủ thể nhân bản vô tính một gia sản di truyền đã được đặt định rồi, thực tế bằng cách làm cho nó phục tùng – như đã nói – một hình thức nô lệ sinh học mà nó có thể khó thoát khỏi đó. Sự kiện một người tự cho mình cái quyền quyết định cách tùy tiện những đặc tính di truyền của một người khác, là một xúc phạm nghiêm trọng đối với phẩm giá của người ấy và đối với sự bình đẳng căn bản giữa những con người.
Nét độc đáo của mỗi người xuất phát từ mối tương quan đặc biệt giữa Thiên Chúa và con người từ những khoảnh khắc đầu tiên của cuộc sống của nó. Điều này bó buộc phải tôn trọng tính độc đáo (singularité) và tính toàn vẹn của nó, bao hàm cả ở bình diện sinh học và di truyền. Mỗi người trong chúng ta gặp gỡ nơi người khác một hữu thể nhân linh mà mang ơn cuộc sống và những tính tình của riêng nó đối với tình yêu của Thiên Chúa, mà tình yêu duy nhất giữa vợ chồng là một sự trung gian phù hợp với kế đồ của Đấng Tạo Hóa và là Cha trên trời.
30. Cái gọi là nhân bản vô tính điều trị còn nghiêm trọng hơn ở bình diện luân lý. Tạo nên những phôi với mục đích loại bỏ nó, là hoàn toàn không tương thích với phẩm giá nhân vị, cho dầu ý hướng là trợ giúp các bệnh nhân, vì điều đó biến cuộc sống của một hữu thể nhân linh, ngay cả ở giai đoạn phôi thai của nó, không gì hơn là thành một phương tiện để sử dụng và để phá hủy. Thật phi luân lý nghiêm trọng để hy sinh một mạng sống người với mục đích điều trị.
Những phản đối luân lý được nhiều người khơi lên chống lại việc nhân bản vô tính điều trị và chống lại việc sử dụng phôi người được sản xuất trong ống nghiệm, đã dẫn các khoa học gia đến chỗ nghiên cứu những kỹ thuật mới, được giới thiệu như là có khả năng sản xuất các tế bào gốc kiểu phôi, mà tuy nhiên điều đó không giả thiết trước việc phá hủy các phôi người đích thực (49). Những đề nghị này đã khơi lên nhiều nghi vấn ở cấp độ khoa học và luân lý, nhất là những gì liên quan đến quy chế hữu thể học của « sản phẩm » đạt được như thế. Bao lâu những nghi ngại này không được làm sáng tỏ, thì người ta cần phải quan tâm đến những gì mà thông điệp Evangelium vitae đã khẳng định : « vấn đề can hệ là quan trọng đến nỗi, từ quan điểm bó buộc luân lý, chỉ duy xác suất (probabilité) đối diện với một nhân vị cũng đủ làm cho chính đáng việc cấm đoán rõ ràng nhất mọi can thiệp dẫn đến việc hủy bỏ phôi người » (50).
Việc sử dụng điều trị các tế bào gốc
31. Các tế bào gốc là những tế bào không phân hóa có hai đặc điểm căn bản : a) khả năng vững bền tự nhân tăng mà không bị phân hóa ; b) khả năng sinh ra những tế bào nguyên bản chuyển tiếp, mà những tế bào gốc phân hóa nhất phát xuất từ đó, chẳng hạn, các tế bào gốc thần kinh, cơ, máu.
Từ khi được chứng thực về mặt thực nghiệm rằng các tế bào gốc, khi được ghép vào một mô bị hư hỏng, có khuynh hướng làm cho dễ dàng việc tái tạo lại các tế bào và việc tái sinh lại mô này, thì những viễn ảnh mới được mở ra cho khoa y học tái tạo, khơi lên một mối quan tâm lớn lao trong số các nhà nghiên cứu của toàn thế giới. Các nguồn cội của các tế bào gốc được xác định nơi con người cho đến nay là : phôi ở những giai đoạn đầu tiên của sự phát triển của nó, bào thai, máu của dây rốn, những mô khác nhau nơi người trưởng thành (tủy xương, dây rốn, não, trung mô của các cơ quan khác…) và nước ối. Lúc đầu, những công trình nghiên cứu đặc biệt dựa trên các tế bào gốc phôi vì người ta đã nghĩ rằng những tế bào gốc phôi là những tế bào duy nhất sở hữu một tiềm năng nhân tăng và phân hóa lớn lao. Thế nhưng, nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng các tế bào gốc trưởng thành, chúng cũng có một khả năng thay đổi to lớn. Cho dầu những tế bào này dường như không có cùng khả năng làm mới và cùng độ mềm dẻo như các tế bào phôi, nhưng những nghiên cứu và những cuộc thử nghiệm có giá trị khoa học cao lại có khuynh hướng cho chúng những kết quả lâm sàng tích cực hơn, những gì không phải là trường hợp của các tế bào phôi. Các hình thức điều trị đang thịnh hành hiện nay dự kiến việc sử dụng các tế bào gốc trưởng thành ; về phương diện này, nhiều con đường nghiên cứu đang mở ra những chân trời mới mẻ và hứa hẹn đã được thúc đẩy.
32. Liên quan đến phán đoán luân lý, cần phải xem xét các phương pháp lấy các tế bào gốc cũng như những nguy cơ do việc sử dụng lâm sàng hay thực nghiệm của chúng.
Liên quan đến các phương pháp được sử dụng để thu tập các tế bào gốc, cần phải quan tâm đến nguồn gốc của chúng. Các phương pháp không mang lại những hư hoại nghiêm trọng cho chủ thể được lấy tế bào gốc là hợp pháp. Điều kiện này, cách thông thường, được chứng thực nơi những trường hợp sau : lấy a) mô của một cơ thể trưởng thành, b) máu của dây rốn vào lúc sinh, c) các mô bào thai chết cái chết tự nhiên. Trái lại, lấy các tế bào gốc của một phôi người còn sống chắc chắn gây ra việc hủy diệt nó và do đó, nó là bất hợp pháp cách nghiêm trọng. Trong trường hợp này, « cho dù các kết quả ích lợi điều trị thế nào, thì việc nghiên cứu không còn được nhằm phục vụ nhân loại cách đích thực. Quả thế, nó hủy bỏ các mạng sống của con người mà có một phẩm giá bình đẳng đối với các nhân vị khác và với chính các nhà nghiên cứu. Chính lịch sử đã kết án trong quá khứ và sẽ còn kết án trong tương lai một loại khoa học như thế, không chỉ bởi vì nó bị tước đi khỏi ánh sáng của Thiên Chúa, nhưng còn bởi vì nó bị tước đi khỏi nhân tính » (51).
Việc sử dụng các tế bào gốc phôi hay các tế bào gốc phân hóa phát xuất từ đó, có thể được cung cấp bởi các nhà nghiên cứu khác, và do việc hủy diệt các phôi, hay sẵn có nơi thương mại, đặt ra những vấn đề nghiêm chỉnh từ quan điểm cộng tác vào điều xấu và điều gây gương xấu (52).
Không có những phản đối luân lý liên quan đến việc sử dụng lâm sàng các tế bào gốc đạt được nhờ các cách thế hợp pháp. Tuy nhiên, cần phải tôn trọng các tiêu chí nghĩa vụ y học thông thường. Về phương diện này, nên tiến hành với nhiều chính xác và khôn ngoan, bằng cách giảm thiểu tối đa những nguy cơ có thể đối với các bệnh nhân, bằng cách tạo điều kiện cho cuộc tranh luận giữa các khoa học gia và cung cấp một thông tin đầy đủ cho đại chúng.
Sự thúc đẩy và sự ủng hộ cho việc nghiên cứu các tế bào gốc trưởng thành cần được khích lệ, vì nó không bao hàm những vấn đề luân lý (53).
Những toan tính lai tạo (les tentatives d’hybridation)
33. Thời gian gần đây, những noãn bào động vật đã được dùng cho việc tái lập chương trình các nhân tế bào bản thể của con người. Phương pháp này, nói chung được gọi là phương pháp nhân bản lai tạo, có mục đích lấy các tế bào gốc phôi trên các phôi được sản xuất, mà không cần phải nại đến việc sử dụng các noãn bào người.
Các phương pháp như thế, từ quan điểm luân lý, là một sự xúc phạm đến phẩm giá của hữu thể nhân linh, vì sự pha trộn các yếu tố di truyền người và súc vật có thể làm hại cho căn tính đặc thù của con người. Việc sử dụng có thể các tế bào gốc, được lấy ra từ những phôi này, như thế sẽ bao hàm những nguy cơ bổ sung thêm còn chưa được biết đến đối với sức khỏe, do sự hiện diện của chất liệu di truyền súc vật trong tế bào chất của chúng. Đặt để một hữu thể nhân linh một cách ý thức trước những nguy cơ này là không thể chấp nhận được về mặt luân lý và nghĩa vụ học.
Việc sử dụng « chất liệu sinh học » người có nguồn gốc bất hợp pháp
34. Đối với việc nghiên cứu khoa học và đối với việc sản xuất các vắcxin hay những sản phẩm khác , thỉnh thoảng người ta dùng những dòng tế bào (lignées de cellules), mà là sản phẩm can thiệp bất hợp pháp chống lại sự sống và sự toàn vẹn thể lý của hữu thể nhân linh. Mối liên hệ với hành vi bất công có thể là trực tiếp hay gián tiếp, vì nói chung nó hệ tại những tế bào được tái tạo cách dễ dàng và nhiều. « Chất liệu » này đôi khi được thương mại hóa hay được phân phối miễn phí ở những trung tâm nghiên cứu bởi các tổ chức công được luật pháp cho phép. Tất cả điều đó khơi lên những vấn đề luân lý khác nhau về vấn đề cộng tác vào điều xấu và điều tai tiếng. Bởi thế, nên loan báo những nguyên tắc chung mà từ đó, các thủ thuật viên có một lương tâm ngay thẳng, có thể phán đoán và giải quyết những hoàn cảnh mà họ có thể được bao hàm trong suốt hoạt động chuyên ngành của họ.
Trước tiên, cần phải nhớ rằng chính phán đoán luân lý về việc phá thai « cũng được áp dụng cho các hình thức can thiệp gần đây trên phôi người mà, cho dù đang theo đuổi những mục đích hợp pháp tự tại, thế nào cũng bao gồm việc giết chúng. Đó là trường hợp thí nghiệm trên các phôi, mà càng ngày càng được lan rộng trong lãnh vực nghiên cứu y sinh học, và được thừa nhận về mặt pháp lý trong một số Nhà Nước […]. Việc sử dụng các phôi hay các bào thai người như những đồ vật thí nghiệm tạo nên một tội ác chống lại phẩm giá hữu thể nhân linh của chúng, có quyền được tôn trọng bình đẳng với quyền phải có đối với đứa bé đã sinh ra và với tất cả mọi người » (54). Những hình thức thí nghiệm này luôn tạo ra một sự hỗn độn luân lý nghiêm trọng (55).
35. Một trường hợp khác cần được lưu ý là khi các nhà nghiên cứu sử dụng « chất liệu sinh học » có nguồn gốc bất hợp pháp, sản phẩm ở bên ngoài trung tâm nghiên cứu của họ hay ở trong thương mại. Huấn thị Donum Vitae đã trình bày nguyên tắc chung phải tuân giữ trong trường hợp này : « Các thây phôi hay các bào thai người, bị phá có chủ ý hay không, cần phải được tôn trọng như là những thi hài của những hữu thể nhân linh khác. Đặc biệt, chúng không thể là đối tượng của việc cắt xẻo hay mổ xác nếu cái chết của chúng đã không được ghi nhận, và không có sự ưng thuận của các bậc cha mẹ hay của người mẹ. Vả lại, cần phải bảo vệ đòi hỏi luân lý loại bỏ mọi tiếp tay với việc phá thai chủ ý, cũng như mọi nguy cơ gây gương xấu » (56).
Về vấn đề này, vẫn chưa đủ cái tiêu chuẩn độc lập được một số ủy ban luân lý đưa ra, tức là khẳng định theo đó việc sử dụng « chất liệu sinh học » có nguồn gốc bất hợp pháp là hợp pháp về mặt luân lý với điều kiện, một mặt, có một sự tách rời rõ ràng giữa những người sản xuất nó, cho đông lạnh và cho giết chết các phôi và mặt khác, những nhà nghiên cứu phát triển những kinh nghiệm khoa học. Tiêu chuẩn độc lập không đủ để tránh một sự mâu thuẫn trong thái độ của người nói là không chấp thuận sự bất công do những người khác phạm phải, nhưng đồng thời lại chấp nhận cho công việc của mình « chất liệu sinh học » mà những người khác đạt được qua con đường bất công. Khi những gì là bất hợp pháp được thông qua bởi các luật lệ chi phối hệ thống y tế và khoa học, thì người ta tự tách ly khỏi những khía cạnh bất công của hệ thống này, để không cho cảm tưởng về một sự bao dung nào đó hay về một sự chấp thuận chiến thuật các hành vi bất công nghiêm trọng (57). Thực ra, điều đó hẳn đóng góp vào việc tạo điều kiện cho sự dửng dưng hay sự tán thành mà những hành vi này được nhận thấy nơi một số giới y khoa và chính trị.
Đôi khi người ta phản bác rằng những nhận xét trước đây dường như giả thiết rằng những nhà nghiên cứu có lương tâm ngay lành có nghĩa vụ đối lập cách chủ động với mọi hành vi bất hợp pháp được thực hiện trong lãnh vực y khoa, như thế đang mở rộng trách nhiệm luân lý của họ cách thái quá.
Nghĩa vụ tránh cộng tác vào điều xấu và điều gây tiêng xấu thực ra chạm đến các hoạt động chuyên ngành hiện hành của họ, mà họ cần phải định hướng cách ngay thẳng và qua đó họ được kêu gọi làm chứng cho giá trị của sự sống, bằng cách đối lập với những luật lệ bất công nghiêm trọng. Vì thế, cần phải làm rõ rằng nghĩa vụ từ chối « chất liệu sinh học » này – cho dầu trong sự vắng mặt mọi liên hệ chặt chẽ của các nhà nghiên cứu với những hành vi của các nhà kỹ thuật của việc sinh sản nhân tạo hay của những người đã thực hành việc phá thai, và đồng thời trong sự vắng mặt của một thỏa thuận trước với những trung tâm sinh sản nhân tạo – phát xuất từ nghĩa vụ tự phân ly, trong việc thực thi hoạt động nghiên cứu của mình, khỏi một khuôn khổ pháp chế bất công nghiêm trọngkhẳng định cách rõ ràng giá trị của sự sống con người. Do đó, tiêu chí độc lập trên đây là cần thiết, nhưng nó có thể không đủ theo quan điểm luân lý.
Trong khuôn khổ chung này, dĩ nhiên có những trách nhiệm khác biệt và những lý do nghiêm trọng mà có thể được giữ tương xứng về mặt luân lý để biện minh cho việc sử dụng « chất liệu sinh học » này. Chẳng hạn, đối mặt với nguy cơ cho sức khỏe của các đứa con, các cha mẹ có thể cho phép sử dụng một thứ vắcxin cho việc chuẩn bị mà người ta đã dùng từ những dòng tế bào có nguồn gốc bất hợp pháp, trong khi vẫn giữ không hề hấn gì bổn phận của mọi người diễn tả việc không đồng ý của họ về vấn đề này và bổn phận yêu cầu các hệ thống y tế để cho họ sử dụng các loại vắcxin khác. Mặt khác, người ta cần lưu tâm sự kiện rằng trong những doanh nghiệp mà sử dụng các dòng tế bào có nguồn gốc bất hợp pháp, trách nhiệm của những người quyết định hướng sản xuất không phải cùng trách nhiệm như những người không có quyền quyết định nào.
Trong bối cảnh nhu cầu cấp bách động viên các lương tâm ủng hộ sự sống, cần phải nhắc cho các chuyên viên y tế rằng « ngày nay, trách nhiệm của họ càng gia tăng ; nó múc lấy gợi hứng sâu xa nhất và tìm thấy sự ủng hộ của nó cách mạnh mẽ nhất chỉ trong chiều kích luân lý của các nghề nghiệp y tế, chiều kích nội tại đối với chúng và ngừoi ta không thể xao nhãng, như lời thề Hippocrate cổ đại đã nhìn nhận, luôn luôn hiện thực, yêu cầu mọi y sĩ dấn thân tôn trọng tuyệt đối sự sống con người và đặc tính linh thánh của nó » (58).


KẾT LUẬN

36. Giáo huấn luân lý của Giáo Hội đôi khi đã bị cáo buộc chứa đựng nhiều cấm đoán. Trên thực tế, nó được xây dựng trên sự nhìn nhận và thăng tiến những ân huệ mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho con người, như là sự sống, trí tuệ, sự tự do và tình yêu. Vì thế, không chỉ các hoạt động tri thức của con người mới xứng đáng được quý trọng, nhưng còn những hoạt động thực hành của nó nữa, như lao động và hoạt động kỹ thuật công nghệ. Nhờ những hoạt động thực hành này, con người tham dự vào quyền năng tạo dựng của Thiên Chúa. Nó được kêu gọi biến đối công trình tạo dựng, bằng cách xếp đặt nhiều tài nguyên cho phẩm giá và hạnh phúc của toàn thể con người và của tất cả mọi người, và như thế trở nên người canh giữ giá trị và vẻ đẹp nội tại của nó.
Tuy nhiên, lịch sử nhân loại chứng thực cách thức mà con người có và tiếp tục lạm dụng quyền hạn và các khả năng mà được Thiên Chúa trao cho, gây nên những hình thức phân biệt bất công và ức hiếp khác nhau đối với những người yếu thế nhất và những người không có khả năng tự vệ. Những tấn công hằng ngày chống lại sự sống con người, cuộc sống của những vùng nghèo rộng lớn trong đó con người chết vì đói và bệnh tật, bị loại trừ khỏi khả năng tiếp cận với những nguồn tri thức lý thuyết và thực hành mà sẵn có phong phú nơi nhiều nước, sự phát triển công nghệ kỹ thuật và công nghiệp đang gây ra nguy cơ cụ thể của một sự sụp đổ hệ thống sinh thái, việc sử dụng các nghiên cứu khoa học trong vật lý, hóa học và sinh học với mục đích chiến tranh, nhiều xung đột tiếp tục chia rẽ các dân tộc và các nền văn hóa, tất cả các yếu tố này bất hạnh thay chỉ là những dấu chỉ hùng hồn về cách thức mà con người có thể sử dụng sai trái các khả năng của mình và trở thành kẻ thù tồi tệ nhất của chính mình, bằng cách đánh mất đi ý thức về sự cao cả của ơn gọi đặc thù của nó như là người cộng tác vào công trình tạo dựng của Thiên Chúa.
Đồng thời , lịch sử nhân loại cho thấy những tiến bộ thực sự trong sự hiểu biết và nhìn nhận giá trị và phẩm giá của mỗi nhân vị, nền tảng của các quyền và những mệnh lệnh luân lý nhờ đó người ta đã và đang tìm kiếm xây dựng xã hội loài người. Chính nhân danh phẩm giá của nhân vị, mà do đó người ta đã cấm mọi hành xử hay nếp sống làm hại nó. Trong đường hướng này, các biện pháp chính trị pháp lý chứ không chỉ là luân lý chống lại những hình thức chủ nghĩa chủng tộc và nộ lệ khác nhau, chống lại những phân biệt bất công và làm cho ra rìa những người nữ, trẻ em, bệnh tật hay những người thương tật, là một chứng tá rõ ràng đối với giá trị bất bất khả tước bỏ và với phẩm giá nội tại của mỗi hữu thể nhân linh và là dấu chỉ của một sự tiến bộ đích thực đánh dấu lịch sử nhân loại. Nói cách khác, tính hợp pháp của mọi cấm đoán được xây dựng trên sự cần thiết bảo vệ sự thiện luân lý đích thực.
37. Nếu sự tiến bộ của con người và xã hội lúc khởi đầu được đánh dấu bởi sự phát triển công nghiệp và sản xuất các hàng hóa tiêu thụ, thì ngày nay nó được đánh dấu bởi sự phát triển của tin học, của những nghiên cứu trong lãnh vực di truyền, của y khoa và các kỹ thuật công nghệ sinh học ứng dụng cho con người. Đó là những lĩnh vực rất quan trọng cho tương lai của nhân loại, nhưng giữa chúng cũng được chứng thực những lạm dụng rõ ràng không thể chấp nhận được. « Cách nay một thế kỷ, đó là giai cấp công nhân đã bị ngược đãi trong các quyền căn bản của mình, và Giáo Hội đã can đảm bảo vệ họ, bằng cách tuyên bố các quyền linh thánh của nhân vị  của người lao động. Cũng thế, ngày nay, khi một phạm trù người khác bị ức hiếp nơi quyền sống căn bản của mình, Giáo Hội, cũng một lòng can đảm, cảm thấy nghĩa vụ lên tiếng nói cho những người không có tiếng nói. Tiếng nói của Giáo Hội luôn là một tiếng kêu Tin Mừng bênh vực những người nghèo của thế giới, những người bị đe dọa, khinh thường và ức hiếp trong nhân quyền của họ » (59).
Dựa vào sứ mệnh giáo thuyết và mục vụ của Giáo Hội, Bộ Giáo Lý Đức Tin đã cảm thấy nghĩa vụ tái khẳng định phẩm giá và các các quyền căn bản và bất khả tước đoạt của mỗi hữu thể nhân linh, ngay từ những giai đoạn đầu tiên của cuộc sống của nó, và làm sáng tỏ những đòi hỏi bảo vệ và tôn trọng mà việc nhìn nhận phẩm giá này đòi hỏi tất cả mọi người.
Thực thi nhiệm vụ này ngụ ý sự can đảm đối lập với mọi thực hành đưa đến một sự phân biệt nghiêm trọng và bất công đối với các hữu thể nhân linh còn chưa được sinh ra, và, được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa, có một phẩm giá nhân vị. Đằng sau mỗi tiếng « không » được phản ảnh, trong nỗ lực phân định giữa điều tốt và điều xấu, một tiếng « vâng » lớn lao đối với việc nhìn nhận phẩm giá và giá trị bất khả tước đoạt của  mỗi hữu thể nhân linh, đặc biệt và độc nhất, được kêu gọi hiện hữu.
Các tín hữu sẽ dấn thân mạnh mẽ thăng tiến một nền văn hóa sự sống mới, bằng cách chấp nhận và cho những nội dung của Huấn thị này một sự đồng thuận tôn giáo (assentiment religieux) của tâm trí của họ, biết rằng Thiên Chúa luôn ban ân sủng cần thiết để tuân giữ những giới răn của Người và rằng nơi mọi hữu thể nhân linh, đặc biệt nơi những người bé nhỏ nhất, họ gặp gỡ chính Chúa Kitô (x. Mt 25, 40). Tất cả những người thiện chí, đặc biệt là các y sĩ và những nhà nghiên cứu cởi mở cho đối thoại và mong muốn đạt đến chân lý, họ cũng sẽ biết hiểu và đón nhận những nguyên tắc  và những phán đoán này mà mục đích là bảo vệ thân phận mỏng giòn của hữu thể nhân linh trong những giai đoạn đầu tiên của sự sống của nó và thăng tiến một nền văn minh nhân bản hơn.

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong buổi tiếp kiến ngày 20/06/2008 dành cho Hồng Y Bộ Trưởng ký tên dưới đây, đã chấp thuận và truyền xuất bản Huấn thị này, mà trước đó đã được thông qua trong  Khóa họp thường kỳ của Bộ Giáo Lý Đức Tin.

Rôma, tại Bộ Giáo Lý Đức Tin, ngày 8/9/2008, lễ Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria.

Hồng Y WILLIAM LEVADA
Chủ tịch
LUIS LADARIA, S.I.
Tổng Giám Mục hiệu tòa Thibica
Thư Ký
Lm Võ Xuân Tiến chuyển ngữ


—————————–
Chú thích:
1. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị Donum Vitae (Hồng ân sự sống) về việc tôn trọng sự sống sơ sinh của con người và phẩm giá của việc sinh sản (22/02/1987) : AAS 80 (1988), 70-102 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 349-361.
2. Jean-Paul II, Thông điệp Veritatis splendor (Chân lý rạng ngời) về một vài vấn đề luân lý căn bản của giáo huấn luân lý của Giáo Hội (06/08/1993) : AAS 85 (1993), 1133-1228 ; La Documentation catholique 90 (1993), tr. 901-944.
3. Jean-Paul II, Thông điệp Evangelium Vitae (Tin Mừng về Sự sống) về giá trị và tính bất khả xâm phạm của sự sống con người (25/03/1995) : AAS 87 (1995), 401-522; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 351-405.
4. Jean-Paul II, Diễn từ cho các tham dự viên của Đại Hội Đồng của Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về Sự Sống (03/03/2001), số 3 : AAS 93 (2001), 446 ; La Documentation catholique 98 (2001), tr. 405.
5. x. Jean-Paul II, Thông điệp Fides et ratio về các mối tương quan giữa đức tin và lý trí (14/09/1998), số 1 : AAS 91 (1999), 5 ; La Documentation catholique 95 (1998), tr. 901.
6. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn Thị Donum vitae, I, 1: AAS 80 (1988), 79 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 352.
7. Như Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhắc nhớ, nhân quyền, đặc biệt quyền sống của mỗi người, « tìm thấy nền tảng của chúng nơi luật bản nhiên được ghi khắc nơi tâm hồn con người và hiện diện nơi các văn hóa và văn minh khác nhau. Tách nhân quyền khỏi bối cảnh này có nghĩa là hạn chế tầm quan trọng của chúng và nhượng bộ cho một quan niệm tương đối chủ nghĩa, theo đó ý nghĩa và việc giải thích các quyền này có thể thay đổi và tính phổ quát của chúng có thể bị phủ nhận nhân danh những quan niệm văn hóa, chính trị, xã hội và thậm chí tôn giáo. Sự khác nhau về quan điểm không thể là một lý do để quên rằng đó không chỉ là những quyền mà là  phổ quát, nhưng còn nhân vị , chủ thể của những quyền này » (Diễn văn cho các thành viên của Đại Hội Đồng LHQ (18/04/2008) : AAS 100 (2008), 334 ; L’Osservatore Romano. Edition hebdomadaire en langue française, n. 16/2008, tr. 6). 
8. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn Thị Donum vitae, I, 1: AAS 80 (1988), 78-79 ; La Documentation catholique (1987), tr. 352.
9. Ibid., II, A, 1: l.c., 87 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 355.
10. PAUL VI, Thông điệp Humanae vitae (25/07/ 1968), số. 8: AAS 60 (1968), 485-486 ; La Documentation catholique 65 (1968), cột. 1444.
11. BENOIT XVI, Diễn văn cho các tham dự viên của Hội nghị quốc tế được tổ chức bởi Đại học Giáo Hoàng Latran nhân dịp kỷ niệm 40 năm thông điệp Humanae vitae (10/05/ 2008) : L’Osservatore Romano, 11/05/2008, tr. 1; cf. JEAN XXIII, Thông điệp Mater et magistra (15/05/1961), III: AAS 53 (1961), 447 ; La Documentation catholique 58 (1961), tr. 978.
12. Hiến Chế Gaudium et spes, số. 22.
13. JEAN-PAUL II, Thông điệp Evangelium vitæ, các số. 37-38 : AAS 87 (1995), 442-444 ; La Documentation ca-tholique 92 (1995), tr. 370-371.
14. JEAN-PAUL II, Thông điệp Veritatis splendor, số. 45 : AAS 85 (1993), 1169 ; La Documentation catholique 92 (1993), tr. 916-917. 
15. BENOIT XVI, Diễn văn cho các tham dự viện của Hội nghị quốc tế được tổ chức nhân dịp Đại Hôi Đồng củ Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về Sự Sống « Phôi người trong giai đoạn tiền cấy » (27/02/2006) : AAS 98 (2006), 264 ; L’Osservatore Romano. Edition hebdomadaire en langue française, số. 10/2006, tr. 2. 
16. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn Thị Donum vitae, Dẫn nhập, 3 : AAS 80 (1988), 75 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 351.
17. JEAN-PAUL II, Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng Familiaris consortio về những nhiệm vụ của gia đình kitô hữu trong thế giới hôm nay (22/11/1981), số. 19: AAS 74 (1982), 101-102; La Documentation catholique 79 (1982), tr. 7.
18. x. Tuyên ngôn Dignitatis humanae, số. 14.
19. Xem. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị Donum vitae, II, A, 1 : AAS 80 (1988), 87 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 355.
20. Ibid., II, B, 4: l.c., 92 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 357.
21. Ibid., Dẫn nhập, 3: l.c., 75 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 351.
22. Dưới cách gọi thụ tinh hay sinh sản nhân tạo dị ngẫu (hétérologue), người ta chỉ rõ « những kỹ thuật nhằm đạt được cách nhân tạo một sự thụ thai con người từ những giao tử ít ra đến từ một người hiến tặng khác với vợ chồng được kết hôn » (ibid., II : l.c., 86 ; La Documentation catholique 84 [1987], tr. 355). 
23. Qua việc thụ tinh hay sinh sản nhân tạo đồng ngẫu (homologue), người ta chỉ rõ « những kỹ thuật nhằm đạt được cách nhân tạo một sự thụ thai con người từ những giao tử của hai vợ chồng đã kết hôn» (ibid.).
24. Ibid., II, B, 7: l.c., 96 ; x. PIE XII, Diễn văn cho các tham dự viên Hội nghị quốc tế các ý sĩ Công giáo lần IV (29/09/1949) : AAS 41 (1949), 560.
25. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị Donum vitae, II, B, 6 : l. c., 94, ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 358.
26. X. Ibid., II : l.c., 86 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 355.
27. Hiện nay, thậm chí nơi các trungtâm thụ tinh nhân tạo lớn nhất, số phôi bị hy sinh có thể là trên 80%. 
28. JEAN-PAUL II, Thông điệp Evangelium vitæ, n. 14 : AAS 87 (1995), 416 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 357.
29. Xem. PIE XII, Diễn văn cho các tham dự viên ở Hội nghị thế giới tại Naples về sự sinh sản và vô sinh của con người (19/05/1956) : AAS 48 (1956), 470 ; PAUL VI, Thông điệp Humanae vitae, n. 12 : AAS 60 (1968), 488-489 ; La Documentation catholique 65 (1968), col. 1447 ; Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị Donum vitae, II, B, 4-5 : AAS 80 (1988), 90-94 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 356-358
30. Càng ngày càng có nhiều người, không còn liên kết với liên hệ hôn nhân, nại đến những kỹ thuật thụ tinh nhân tạo với mục đích có con. Những thực hành như thế làm yếu đi thể chế hôn nhân và làm nảy sinh những đứa con trong những bối cảnh không thuận tiện cho sự tăng trưởng nhân linh tròn đầy của chúng.
31. BENOIT XVI, Diễn văn cho các tham dự viên của Hội nghị quốc tế do Viện hàn Lâm Giáo hoàng về Sự Sống tổ chức với chủ đề « Phôi người trong giai đoạn tiền cấy » (27 /02/2006) : AAS 98 (2006), 264 ; L’Osservatore Romano. Edition hebdomadaire en langue française, n. 10/2006, tr. 2.
32. Kỹ thuật bơm tinh trùng vào trứng (ICSI), hầu như giống với những hình thức thụ tinh trong ống nghiệm khác, khác biệt với chúng, vì sự thụ tinh không xảy ra cách tự động trong ống nghiệm, nhưng là qua việc bơm tinh trùng duy nhất được chọn lọc trước đó vào trong tế bào chất noãn bào, hay đôi khi qua việc bơm các nguyên tố chưa thành thục của dòng chủng hệ nam.
33. Về vấn đề này, người ta bao hiệu rằng các chuyên gia tranh cãi về một số nguy cơ mà ICSI có thể bao hàm đối với sức khỏe của đứa con được cưu mang.
34. Bộ giáo lý đức tin, Huấn Donum vitae, II B, 5 : AAS 80 (1988), 93 ; La Documentation catholique 84 (1987), p. 358.
35. Việc làm đông lạnh phôi là một kỹ thuật đông lạnh ở nhiệt độ rất thấp với mục đích đạt được sự bảo quản lâu dài của chúng.
36. X. Bộ giáo lý đức tin, Huấn Donum vitae, I, 6 : AAS 80 (1988), 84-85 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 354-355.
37. Xem các số 34-35 của Huấn thị này.
38. X. Bộ giáo lý đức tin, Huấn Donum vitae, II, A, 1-3 : l.c., 87-89 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 355-356.
39. JEAN-PAUL II, Diễn văn cho các tham dự viên của Hội nghị chuyên đề về «Evangelium vitae et droit» và Hội thảo quốc tế Giáo luật lần thứ (24/05/1996), n. 6 : AAS 88 (1996), 943-944 ; L’Osservatore Romano. Edition hebdomadaire en langue française, n. 25/1996, p. 3.
40. Việc bảo quản đông lạnh các noãn bò cũng được dự định trong những bối cảnh khác mà không được chú ý ở đây. Dưới thuật ngữ noãn bào, người ta chỉ tế bào mầm củngười nữ, không được thụ tinh nhờ tinh trùng.
41. X. Hiến chế Gaudium et Spes, số 51; Jean-Paul II, Thông điệp Evangelium Vitae, số 62 : AAS 87 (1995), 472 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 382-383.
42. Jean-Paul II, thông điệp Evangelium vitæ, số. 63 : AAS 87 (1995), 473 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 383.
43. Các phương tiện ngăn chặn mang thai nổi tiếng nhất là vòng tránh thai (DIU : :dispositif intra-utérin), và « viên thuốc ngày hôm sau ».
44. Những phương tiện loại bỏ phôi thai chính yêu là viên thuốc RU 486 hay Mifépristone,  prostaglandines và  méthotrexate.
45. JEAN-PAUL II, Thông điệp Evangelium vitæ, số. 58 : AAS 87 (1995), 467 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 381.
46. X. Giáo luật, khoản 1398 và CCEO, khoản. 1450 § 2 ; cũng đối chiếu Giáo luật, các khoản 1323-1324. Ủy ban Toà Thánh về việc Giải thích Giáo Luật Đích thực tuyên bố rằng khái niệm phá thai theo nghĩa hình luật được hiểu như là « giết chết một bào thai dù bằng cách nào và khi nào kể tử lúc thụ thai » (Trả lời cho những nghi ngờ của ngày 23/05/1988: AAS 80 [1988], 1818).
47. Trong tình trạng hiểu biết hiện nay, các kỹ thuật được vận dụng để thực hiện nhân bản vô tính gồm có hai : kỹ thuật phân đôi và kỹ thuật truyền nhân. Kỹ thuật phân đôi hệ tại việc tách rời nhân tạo các tế bào hay nhóm tế bào từ một phôi, trong suốt các giai đoạn đầu tiên của sự phát triển của nó, và trong việc truyền liên tiếp các tế bào này vào trong tử cung với mục đích đạt được, cách nhân tạo, những phôi tương tự. Việc truyền nhân, hay nói đúng ra, nhân bản vô tính, hệ tại  việc đưa nhân lấy từ một tế bào phôi hay bản thể vào trong một noãn bào được lấy bỏ nhãn cầu trước, được theo sau bởi việc kích hoạt cho noãn bào này mà, hệ quả là đưa đến việc tự phát triển như là một phôi.
48. X. Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị Donum Vitae, I, 6 : AAS 80 (1988), 84 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 354 ; JEAN-PAUL II, Diễn văn cho các Thành viên của Ngoại giao đoàn bên cạnh Tòa Thánh (10/01/2005), số. 5: AAS 97 (2005), 153 ; La Documentation catholique 102 (2005), tr. 113.
49. Các kỹ thuật mới thuộc thể loại này chẳng hạn là : sự trinh sản (parthénogenèse) được áp dụng cho con người, sự truyền một nhân được thay đổi (Altered Nuclear Transfer : ANT) và những kỹ thuật tái lập chương trình noãn bào ( l’OAR -Oocyte Assisted Reprogramming).
50. JEAN-PAUL II, Thông điệp Evangelium vitæ, số. 60 : AAS 87 (1995), 469 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 382.
51. BENOIT XVI, Diễn văn cho các tham dự viên Hội nghị quốc tế được tổ chức bởi Viện Hàn Lầm Tòa Thánh về Sự Sống với chủ đề « Các tế bào gốc : tương lai nào cho liệu pháp ? », (16 septembre 2006): AAS 98 (2006), 694 ; L’Osservatore Romano. Edition hebdomadaire en langue française, số. 40/2006, tr. 5.
52. Xem các số 34-35 của Huấn thị này.
53. Xem. BENOIT XVI, Diễn văn cho các tham dự viên Hội nghị quốc tế được tổ chức bởi Viện Hàn Lầm Tòa Thánh về Sự Sống với chủ đề « Các tế bào gốc : tương lai nào cho liệu pháp ? », (16 septembre 2006): AAS 98 (2006), 693-695 ; L’Osservatore Romano. Edition hebdomadaire en langue française, số. 40/2006, tr. 5.
54. JEAN-PAUL II, Thông điệp Evangelium vitæ, số. 63 : AAS 87 (1995), 472-473 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 383.
55. Xem như trên số. 62 : l.c., 472 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 382.
56. X. Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị Donum Vitae, I, 4 : AAS 80 (1988), 83; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 353-354.
57. X. JEAN-PAUL II, Thông điệp Evangelium vitæ, số. 73 : AAS 87 (1995), 486 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 388-389: « Phá thai và gây chết êm dịu bởi vậy là những tội ác mà không có luật lệ nào của con người có thể muôn hợp pháp hóa. Những luật lệ của con người, không chỉ không tạo nên bất kỳ bó buộc nào cho lương tâm , nhưng chúng còn mang lại một bó buộc nghiêm trọng và rõ ràng đối lập ở đó bởi sự phản đối lương tâm ». Quyền phản đối lương tâm, diễn tả quyền tự do lương tâm, phải cần bảo vệ bởi các pháp chế dân sự.
58. JEAN-PAUL II, Thông điệp Evangelium vitæ, số. 89 : AAS 87 (1995), 502 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 395-396.
59. JEAN-PAUL II, Thư gởi cho tất cả các Giám mục liên quan đến « Tin Mừng về sự sống » (19/05/1991) : AAS 84 (1992), 319.
Lưu ý :
+ Chúng tôi chuyển ngữ Huấn thị này từ bản tiếng Pháp được đăng trên Zenit.  Nhưng từ chú thích số 33 trở đi, bản trên Zenit đã thiếu, vì thế chúng tôi lấy các chú thích từ số 33 này trên bản của báo La Croix và đã thêm vào các số chú thích này nơi những số đã được dịch trước đây.
+ Chúng tôi dùng tự điển Lạc Việt Pháp Việt để dịch một số thuật ngữ y khoa trong Huấn thị này.
+ Chúng tôi sẵn sàng đón nhận  ý kiến của quý vị để hoàn thiện hơn bản dịch này. Xin cám ơn qúy vị.




No comments:

Post a Comment