Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss
NHÀ ĐÀO TẠO TÂM HUYẾT HÔM NAY
(Trao đổi với Nhóm Huấn Luyện Liên Dòng Nữ
thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội tại Bùi Chu 23-27/9/2009)
Slideshow mở đầu: BÀN TAY
Sáng tác: Thanh Thiên Giang – Tiếng hát: Lệ Hằng
Bàn tay, bàn tay chia sẻ áo cơm.
Bàn tay, bàn tay phân phát niềm tin.
Bàn tay, bàn tay xây đắp hòa bình.
Bàn tay, bàn tay xoa dịu vết thương.
Bàn tay em năm ngón kiêu sa.
Bàn tay anh năm ngón đậm đà.
Bàn tay em mềm mại thiết tha.
Đem bác ái rộng tình bao la.
Bàn tay anh chân chất tinh hoa.
Hãy công bằng rộng lượng thứ tha.
Ôi bàn tay bao nét đẹp của chúng ta.
Hãy kết thành trăm triệu bông hoa.
Để dâng lên Thiên Chúa tiếng ca.
Cùng bàn tay đơn hèn tôi tá.
Xin Chúa dùng tay con như là,
Một bản truyện tình yêu bao la.
Bàn tay, bàn tay giúp người bơ vơ.
Bàn tay, bàn tay ôm ấp trẻ thơ.
Bàn tay, bàn tay cho khách trọ nhờ.
Bàn tay, bàn tay rửa sạch vết nhơ.
Bàn tay em năm ngón kiêu sa.
Bàn tay anh năm ngón đậm đà.
Bàn tay em mềm mại thiết tha.
Đem bác ái rộng tình bao la.
Bàn tay anh chân chất tinh hoa.
Hãy công bằng rộng lượng thứ tha.
Ôi bàn tay bao nét đẹp của chúng ta.
Hãy kết thành trăm triệu bông hoa.
Để dâng lên Thiên Chúa tiếng ca.
Cùng bàn tay đơn hèn tôi tá.
Xin Chúa dùng tay con như là,
Một bản truyện tình yêu bao la.
Bàn tay, bàn tay chắp nguyện thiết tha.
Bàn tay, bàn tay xin Chúa dủ thương.
Bàn tay, bàn tay tha thiết van nài.
Lạy Cha, lạy Cha xin Ngài thứ tha.
Bàn tay em năm ngón kiêu sa.
Bàn tay anh năm ngón đậm đà.
Bàn tay em mềm mại thiết tha.
Đem bác ái rộng tình bao la.
Bàn tay anh chân chất tinh hoa.
Hãy công bằng rộng lượng thứ tha.
Ôi bàn tay bao nét đẹp của chúng ta.
Hãy kết thành trăm triệu bông hoa.
Để dâng lên Thiên Chúa tiếng ca.
Cùng bàn tay đơn hèn tôi tá.
Xin Chúa dùng tay con như là,
Một bản truyện tình yêu bao la.
BỐI CẢNH CỦA CUỘC TRAO ĐỔI
VATICAN SẼ KINH LÝ CÁC DÒNG TU NỮ
CNA ngày 7/8/2009 đưa tin rằng Vatican sẽ kinh lý các
Dòng nữ khắp nước Mỹ. Ngày 28/7/2009, Mẹ M. Clare Millea, người chỉ đạo
cuộc kinh lý, đã gửi Nghị trình làm việc (Instrumentum Laboris). Cuộc
kinh lý nhằm khuyến khích các Dòng suy tư về lòng trung thành với các
đặc sủng nguyên thủy và việc tuân giữ Công Đồng Vatican II. Các chủ đề,
các câu hỏi, các điều tra và các suy tư nhằm:
· Căn tính đời sống tu trì
· Việc cai quản và quản trị tài chánh
· Đời sống thiêng liêng: Thánh Lễ hằng ngày và việc xưng tội thường xuyên có phải là một ưu tiên?
· Dòng diễn tả Bí Tích Thánh Thể là nguồn mạch đời sống thiêng liêng và cộng đoàn ra sao?
· Phụng Vụ Các Giờ Kinh?
· Đời sống cộng đoàn: cách thức ăn mặc của Dòng và những chăm sóc dành cho các Nữ Tu cao tuổi và đau ốm.
· Việc xúc tiến ơn gọi: tiếp nhận và đường lối đào tạo / Tương lai của Dòng
· Hiểu và biểu hiện ra sao Ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời?
· Dòng có định chuyển sang một hình thức đời sống tu
trì mới không? Nếu có, thì hình thức mới này có liên hệ đặc thù ra sao
với sự hiểu biết của Giáo Hội về đời sống tu trì?
Ba điỂm nhẤn cỦa cuỘc trao đỔi:
A. Hướng tới mục tiêu của con người và sứ vụ đào tạo
B. Những bất cập và thái quá trong con người và sứ vụ đào tạo
C. Tái định hướng đời sống và sứ vụ đào tạo
A. HưỚng tỚi mỤc tiêu
cỦa con ngưỜi và sỨ vỤ đào tẠo
1. Nhận định tổng quát
Một sự thật thực tế ai cũng phải nhìn nhận: Tất cả
chúng ta đang có mặt đây đều là những người được Bề Trên tín nhiệm giao
cho trọng trách đào tạo các thế hệ tu sĩ tương lai. Chúng ta phải đào
tạo họ theo ý muốn của Thiên Chúa, theo giáo huấn của Giáo Hội, theo đặc
sủng và linh đạo riêng, cũng như sứ mệnh tông đồ của Dòng mình.
Nhưng trước khi là nhà đào tạo, chúng ta đã trải qua
những thời gian dài được đào tạo, với đủ mọi tình huống đa dạng, có
những lúc rất bình an hạnh phúc, nhưng cũng có những lúc rất khó khăn,
tùy ở tính khí và cách thức của các nhà đào tạo. Chúng ta đã cảm thấy có
cái gì đó “trắc trở” về cả hai phía, có những kỷ niệm ngọt ngào an ủi,
nhưng cũng có những kỷ niệm đắng cay nặng lòng. Nhưng một điều chắc chắn
là các nhà đào tạo đi trước muốn đào tạo chúng ta nên những con người
tốt, những tín hữu tốt, những tu sĩ tốt. Và đó cũng chính là điều chúng
ta hôm nay muốn mang lại cho những người được trao phó cho chúng ta, mà
chúng ta không muốn để những nỗi đau đã qua làm lòng mình xơ cứng và trở
nên vô cảm trước những nỗi đau của những người thụ huấn của chúng ta.[1]
Một khi có trách nhiệm và đã bắt tay vào việc, chúng
ta cảm thấy việc đào tạo người trẻ hôm nay khó hơn việc chúng ta được
đào tạo ngày trước. Và có những người dự đoán rằng việc đào tạo càng
ngày càng khó hơn vì ảnh hưởng của tâm thức thời đại, của các điều kiện
và hoàn cảnh xã hội bên ngoài, về phía các nhà đào tạo cũng như về phía
các ứng sinh.
Có thể nói thời bấy giờ khả năng và phẩm chất của các
nhà đào tạo có trọng lượng và uy tín trên ứng sinh hơn bằng một khoảng
cách rất lớn (magis-ter: hơn ba lần). Thêm vào đó, phương pháp đào tạo
được áp dụng dựa trên luật lệ rất nghiêm minh, tạo nên một khoảng cách
rõ rệt biểu lộ một niềm tôn kính cao, kèm theo sợ hãi. Trái lại, ngoài
các yếu tố tâm thức và xã hội tự do bình đẳng thế tục, người trẻ hôm nay
được học hành và khả năng chuyên môn cao hơn, có người còn cao hơn cả
chúng ta, nhưng lòng đạo đức và tinh thần siêu nhiên kính trên nhường
dưới có thể lại kém đi (mặt bằng tri thức rộng nhưng thiếu chiều sâu đạo
đức). Phương pháp đào tạo hôm nay lại hướng về đồng hành, gần gũi, đối
thoại, trao đổi, “thương lượng”… đang khi chúng ta còn thiếu cái “tâm
đào tạo”, thiếu trọng lượng của uy tín được tâm phục và nhiều lúc chúng
ta vẫn bị cám dỗ hành xử quyền bính.
Công cuộc đào tạo vốn đã khó khăn thì ngày nay càng
khó khăn phức tạp hơn nữa. Nhưng những khó khăn đó có thể vượt qua được,
khi mỗi người và mỗi thế hệ quyết định biến những giá trị lớn lao trong
quá khứ thành của mình và đổi mới bản thân bắt nhịp với bước đi của Ơn
Thánh và khoa sư phạm tân tiến. Chúng ta hãy khích lệ nhau rằng việc
càng khó càng có giá trị. Hơn nữa, chúng ta sẽ không đơn độc, vì công
cuộc đào tạo là việc của muôn người và của muôn đời, trong nỗ lực cộng
tác với ơn trợ giúp không thể thiếu của Chúa. Chính Ngài mới là nhà đào
tạo đích thực và gương mẫu cho chúng ta noi theo, để tự đào tạo chính
mình thành nhà đào tạo có khả năng và tâm huyết, có cái tâm đào tạo như
Chúa Giêsu, và có cả những kỹ năng cần thiết, để cho sứ vụ của chúng ta
được hiệu quả hơn.
Chúng ta phải chấp nhận giới trẻ ngày nay không giống
như chúng ta hồi còn trẻ và nhìn nhận ứng sinh có quyền có được người
đồng hành tốt nhất giúp họ tự biết mình là ai, hầu trở thành người tu sĩ
quân bình và bền vững qua mọi tình huống đời sống và sứ vụ.
Nhà Dòng được lập ra để đón nhận và đào tạo những con
người muốn trở thành tu sĩ của Thiên Chúa, nên việc đào tạo phải diễn
ra trong đức tin và lòng nhân hậu. Việc đào tạo ngày nay tuy làm chung
với nhiều người và cho nhiều người, nhưng phải chú trọng đến từng cá
nhân, với từng hoàn cảnh cụ thể, để hướng họ tới đời sống cộng đoàn tốt
hơn (x. Tiến trình mài giũa của những viên đá trơn tru bóng láng dưới
các dòng suối).
Những ai tin vào Chúa Kitô càng có thêm động lực mạnh
mẽ để không sợ hãi, vì Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta, và tình yêu
của Ngài luôn đến với chúng ta trong trách nhiệm và trong thân phận yếu
đuối con người của chúng ta, để giúp chúng ta đào tạo nhân sự tương lai
của Hội Dòng và của Giáo Hội.
Quả thế, Chúa Giêsu là người đầu tiên được Chúa Cha
sai đi chia sẻ tình thương cứu độ và qui tụ toàn thể thế giới tạo thành
về lại cho Chúa và Ngài đã chu toàn sứ vụ của mình. Nay Giáo Hội và mỗi
người chúng ta được mời gọi tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu, liên tục từ
thế hệ này qua thế hệ khác, làm cho Ngài được nhận biết và yêu mến.
Làm nhà đào tạo phải là một ơn gọi đặc biệt Chúa ban xuyên qua tiến trình:
· Chúa mời gọi và chúng ta được xác nhận qua sự trạch cử của Thẩm quyền hữu trách;
· Chúng ta sẵn sàng đáp lại ơn gọi và sự trạch cử khó
khăn và tế nhị này, không hề có miễn cưỡng, về phía chúng ta cũng như
về phía thẩm quyền;
· Chúng ta cam kết đi theo mẫu gương và đường lối đào tạo của Chúa Giêsu Mục tử nhân hậu;
· Chúng ta dần dần biến đổi và điều chỉnh chính mình
cho phù hợp với giáo huấn của Chúa, Giáo Hội và linh đạo Dòng trong việc
đào tạo các ứng sinh;
· Chúng ta quyết tâm kiên trì chu toàn sứ vụ đã nhận lãnh trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Song song với việc thực thi nhiệm vụ đào tạo ứng sinh các cấp, chúng ta còn có một nhiệm vụ kép:
- Lưu ý tuyển chọn và tài bồi những nhà đào tạo tương
lai sẽ thay thế chúng ta, qua tiến trình: dạy cho họ làm, giúp họ làm,
để họ làm, mình rút lui vì đã hoàn thành sứ mệnh;
- Vừa cập nhật việc đào tạo chính mình, nâng cao phẩm
chất con người và sư phạm bằng khiêm tốn học hỏi với người trên, với
đồng nghiệp và với cả những người đang được chúng ta đào tạo, khi khơi
gợi và lắng nghe những thao thức và trông đợi của họ, dù còn nhiều chủ
quan, phiến diện và sai lầm.
Chúng ta cố gắng chia sẻ với nhau về những khí cụ cần
thiết của con người và sứ vụ của chúng ta để đạt tới mục tiêu đào tạo
mọi người mong muốn.
2. Cần những nhà đào tạo phẩm chất
Ngoài đời, người ta đầu tư rất lớn cho việc đào tạo
nhân sự của họ. Nhà tu chúng ta cũng cần đào tạo các nhà đào tạo chất
lượng để đào tạo nhân sự của mình. Và nhà đào tạo phải có lòng khiêm
nhường ý thức giới hạn và yếu đuối của mình để tin tưởng vào Chúa, trong
tinh thần hài hước rộng lượng để sẵn lòng đào tạo những con người bất
toàn.
Tìm người dạy học tốt đã khó, tìm nhà đào tạo phẩm
chất còn khó hơn nhiều, nhất là trong lãnh vực đời sống thánh hiến, nhà
đào tạo phải sống gương mẫu vì “lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”:
dạy điều mình tin và sống điều mình dạy[2],
trong tinh thần hiệp thông và vâng phục đối với đặc sủng và linh đạo
của Hội Dòng, đối với Giáo Hội và kế hoạch của thánh ý Chúa, như ĐTC
Phaolô VI đã nói: “Người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là thầy
dạy, và nếu họ có tin vào thầy dạy là vì các thầy dạy đó là những chứng
nhân.”
Nhiều nhà đào tạo tự cảm thấy mình chưa được trang bị
đầy đủ và thích hợp cho việc đào tạo người trẻ hôm nay, cả về phương
diện kỹ năng lẫn phương diện phẩm chất,[3]
vì người trẻ hôm nay rất lý tưởng và đòi hỏi, nhưng rất thiếu kinh
nghiệm trưởng thành, lại dòn mỏng, dễ bị hoàn cảnh xã hội bên ngoài tác
động lôi cuốn. Tu sĩ trẻ bây giờ chịu sức ép lớn hơn, nhưng sức đề kháng
cũng mong manh hơn. Tuy nhiên, họ không thích chúng ta so sánh thời xưa
của chúng ta với thời nay của họ, dù để chê bai hay để làm mẫu. Họ
không thích lấy tiêu chuẩn của thời trước để đánh giá thời này, dù không
biết có còn hợp hay không.
Nơi nhà đào tạo có hai nhiệm vụ khác biệt nhưng liên
đới với nhau: giảng dạy và đào tạo. Giảng dạy nhằm soi sáng trí tuệ,
chuyển giao kiến thức chuyên môn, trong khi đào tạo nhằm biến đổi tận
thâm sâu ứng sinh, giúp họ có khả năng đáp ứng lại những đòi hỏi của ơn
gọi đời sống thánh hiến. Vì thế, nhà đào tạo được mời gọi chu toàn các
nhiệm vụ này:
· Làm chứng nhân của Chúa
· Hiệp thông và cộng tác với nhóm đào tạo
· Quí ơn gọi và thương ứng sinh với con tim mục tử
· Làm cho ứng sinh thấy sức hấp dẫn của ơn gọi
· Khích lệ ứng sinh chấp nhận những đòi hỏi của ơn gọi
· Giúp ứng sinh nhận ra con người thật của mình với
những điểm mạnh điểm yếu, thuận lợi và cản trở; đồng thời chỉ đường dẫn
lối giúp họ vượt thắng và trung thành.
Một người dạy học tốt (có trình độ và bằng cấp chuyên
môn cao) không hẳn là một nhà đào tạo tốt. Nhưng một nhà đào tạo dày
kinh nghiệm đào tạo có thể đồng thời cũng là một người dạy học tốt. Công
việc đào tạo là một nghệ thuật, và là một ơn ban của Chúa, đòi hỏi
những khả năng tự nhiên và những khả năng sư phạm thủ đắc nhờ kinh
nghiệm và học hỏi liên tục. Nói tóm lại là cần có “cái tâm đào tạo.”
Làm sao kiến tạo sự hiệp nhất nơi một cộng đoàn có
nhiều cá tính, có khi đối lập và xung đột? Làm sao góp ý mà người nghe
vui vẻ sửa mình? Làm sao biết dùng người đúng chỗ hầu phát huy được toàn
bộ tiềm năng của họ? Làm sao cộng đoàn giữ nghiêm kỷ luật mà không bị
căng thẳng? Làm sao cộng đoàn đang nguội lạnh được lửa nhiệt tình hâm
nóng? Những câu hỏi đó thúc đẩy các nhà đào tạo cần được huấn luyện và
tự huấn luyện nghiêm túc, hiểu biết về tâm lý, sinh lý, thiêng liêng,
linh đạo, triết học, thần học, Thánh Kinh và cả khoa học nữa. Tầm hiểu
biết càng rộng càng dễ đưa ra những nhận xét quân bình hơn về một con
người, về một biến cố, về một tình huống.
3. Tâm hồn đào tạo
Người có tâm hồn đào tạo yêu người và yêu nghề đào
tạo, giống như Chúa Giêsu: cứu giúp người chứ không loại bỏ người, có
cắt tỉa là để sinh nhiều hoa trái hơn: tha thứ lỗi lầm, nâng đỡ đứng
dậy, giúp bền vững tiến lên, tin tưởng vào sự biến đổi tốt đẹp trong
tương lai… “Hãy học với Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng thật trong
lòng… Người sẽ không cãi vã, không la lối, chẳng ai nghe thấy tiếng
Người giữa phố phường. Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy; tim đèn
leo lét, Người chẳng nỡ tắt đi, cho đến khi đưa công lý đến toàn thắng,
và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Người” (x. Mt 12, 19-21).
Người có tâm hồn đào tạo luôn tạo điều kiện và cơ hội
cho cái tích cực lớn dần lên mãi cho đến khi thành nhân đức và cái tiêu
cực nhỏ dần xuống mãi cho đến khi bị triệt tiêu. Người có tâm hồn đào
tạo giúp giết chết dần dần con người trần tục trong ứng sinh để con
người thiêng liêng lớn dần lên trong chính họ, một đàng phải lớn lên và
đàng kia phải nhỏ lại: “Chúa Kitô phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.”
Nhà đào tạo có một thiên hướng bẩm sinh, một ơn gọi
đặc biệt Chúa ban và một lòng yêu thương cũng đặc biệt đối với người thụ
huấn. Một khi có được những thứ đó và được Bề trên trao trọng trách đào
tạo, nhà đào tạo sẵn sàng đáp lại với lòng yêu nghề, chứ không miễn
cưỡng nhận nhiệm vụ, và Bề trên cũng không nên ép buộc nhận, kẻo họ sẽ
không hết lòng mà để gặp chăng hay chớ, trực tiếp thiệt hại cho ứng
sinh, để tự đào tạo chính mình theo gương mẫu Chúa Giêsu, là nhà đào tạo
tuyệt hảo và vị mục tử nhân lành, với một sự nhạy bén khiêm tốn để học
hỏi với Bề trên, với đồng nghiệp, và học hỏi với cả các người thụ huấn
của mình nữa, dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần. Càng làm việc đào
tạo, người ta càng trở nên nhà đào tạo hơn, khi biết vận dụng cả những
thành công lẫn những thất bại của chính mình, cũng như của người thụ
huấn.
Người có tâm hồn đào tạo quan tâm nỗ lực làm lớn lên
mãi phần thiên hướng đào tạo bẩm sinh của mình, tuy nhỏ bé. Người có tâm
hồn đào tạo luôn nỗ lực khởi động cái “nhân chi sơ tính bản thiện” của
ứng sinh. Socrate dùng kích biện pháp, hay nói nôm na là phương pháp hộ
sinh: không phải vị y/bác sĩ mang thai và sinh con, mà chính là người
thiếu phụ; vị y/bác sĩ giúp người thiếu phụ cho ra đời đứa con của chính
mình; nhà đào tạo đóng vai vị y/bác sĩ đối với tư duy, chọn lựa, và
quyết định của ứng sinh. Còn cha Gioan Bosco dạy phải lôi ra những điều
ứng sinh có trong lòng mà chính họ không biết, lôi ra những đức tính cao
cả, đánh thức những tiềm năng đang ngủ, những bí mật thâm sâu của tâm
hồn con người để đào tạo ứng sinh thành con người trưởng thành toàn vẹn
vừa nhân bản (trần thế) vừa thiêng liêng (thần linh).
4. Hai mô hình đào tạo[4]
a. Mô hình đào tạo dựa trên luật lệ:
Nói đến luật lệ là làm người ta thường nghĩ ngay đến
quyền lực, đến khả năng đạt được những gì mình muốn và ngăn chận những
gì mình không muốn. Và mặt trái của quyền lực là có thể trở nên cưỡng
bức, áp đặt, độc tài để đạt được nhiều kết quả hơn dựa vào đe dọa và
thao túng người khác bởi mánh khoé và thủ đoạn hầu bảo đảm thắng lợi,
hoặc ít nhất để khỏi bị thất bại. Do đó, con người thường tìm kiếm quyền
lực cá nhân cho mình trong khi điều khiển và kiểm soát những người
khác, cũng như tiền bạc và các nguồn thông tin.
Theo mô hình này, nhà đào tạo đưa ra những luật lệ
rất rõ ràng chi tiết, kèm theo những hình phạt tương xứng cho những ai
vi phạm. Ứng sinh cứ thế mà thi hành dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của
nhà đào tạo. Sự hiện diện của nhà đào tạo và các cộng sự viên có tính
cách nhắc nhở giữ luật và đe dọa hình phạt. Họ luôn mang bộ mặt nghiêm
nghị, cư xử cứng rắn, lời nói đanh thép. Quả thế, có những hiện diện
mang lại bình an và an toàn, nhưng cũng có những hiện diện gây thương
tích và mất mát, mất cả không gian và thời gian sống, có khi mất mát cả
cuộc đời của ai đó. Có những hiện diện như kẻ xa lạ, vì sống bên nhau mà
không quan tâm, không để ý đến nhau, không hiểu nhau, không thương
nhau, không cần đến nhau, như nước mây hửng hờ… Có những hiện diện dò
xét, soi mói, gây xáo trộn, lo âu, sợ hãi, khiến người khác không còn
hưởng được một cuộc đời bình an.
Nhưng mô hình đào tạo dựa trên luật lệ này dễ hấp dẫn
nhà đào tạo vì thấy kết quả tức thời trước mắt, mọi việc đều xuôi chảy
ngăn nắp, trật tự đâu vào đấy, tất cả đều răm rắp nghe theo và thi hành
luật lệ, nhà đào tạo đỡ vất vả và tốn công sức. Có một khoảng cách rõ
rệt ngăn cách giữa đôi bên. Ứng sinh nhìn nhà đào tạo với ánh mắt sợ
sệt, tránh né, không mấy tự nhiên và thiện cảm khi phải đến gần. Mọi
việc làm vì luật buộc hay vì sợ phạt, nên tìm cách luồn lách, tránh khỏi
bị bắt quả tang lỗi phạm. Do đó từ sợ hãi có thể đi đến xa cách, kính
nhi viễn chi, oán ghét khi bị bắt lỗi và bị phạt với nhục hình, xấu hổ;
nhất là khi bị loại, bị đuổi thì không bao giờ trở lại nữa, vì “xấu quá
hóa giận, giận quá hóa thù.”
b. Mô hình đào tạo đồng hành yêu thương:
Kitô giáo biến đổi quan niệm về quyền lực: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ, ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc
10, 43-44). Chúa Giêsu làm nổi bật cái nghịch lý đó: Lúc Ngài thực sự
đầy quyền lực là khi quỳ xuống rửa chân cho môn đệ và khi bị treo trên
thập giá.
Chúng ta học được cách này từ Thiên Chúa, Ngài luôn
lấy tình yêu để dạy dỗ, chữa lành và cứu vớt; Ngài sai chính Con Ngài
đến trần gian không phải để luận phạt, nhưng để cứu chữa và nuôi sống
(x. Ga 3,16-17; 10,10). Thiên Chúa đi bước đầu trong giao ước với con
người, không áp đặt, không bó buộc, mà là một lời mời gọi chờ lời đáp
trả với tự do và tình yêu, một đối thoại và đồng thuận của đôi bên.
Chúng ta có thể lấy ví dụ cách cư xử của Thiên Chúa đối với tiên tri
Giona và dân thành Ninivê; nhất là với cuộc nhập thể của Chúa Giêsu,
Đấng Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, để hiểu thấu tính cách đồng
hành gần gũi, thân tình.
Mô hình đào tạo đồng hành này khó và rất vất vả, phải
có tâm huyết và nhiều kỹ năng sư phạm, nhiều kinh nghiệm và nhẫn nại,
chịu khó và hy sinh, nhất là ơn Chúa và tình thương của Chúa mới có thể
theo đuổi được. Bởi vì để biến đổi và thăng tiến ứng sinh, trước hết nhà
đào tạo phải biến đổi chính mình, phải đi vào tiến trình phản tỉnh, suy
tư về chính mình nhằm làm cho chính mình được lớn lên trong sự đồng
hình đồng dạng với Chúa Kitô, Đấng luôn đồng hành với mỗi người.
Đồng hành là cùng đi, là luôn có mặt, là luôn hiện
diện, và sự hiện diện của nhà đào tạo phải như một quà tặng cho ứng
sinh. Thật thế, giữa đêm tối trên biển cả, các tông đồ hoảng sợ, Chúa
Giêsu lên tiếng “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !” (Mc
6,50). Sự hiện diện của Chúa đem lại an lòng, ấm áp, hạnh phúc và bình
an. Sự hiện diện của nhà đào tạo như một quà tặng khi biết để ý tới niềm
vui, nỗi buồn, nỗi lo, niềm thao thức, hy vọng hay cả những thất vọng
của ứng sinh, khi sống có tấm lòng, có tình nghĩa với họ, luôn biểu lộ
sự hiền lành, tươi cười, niềm nở qua lời nói, nét mặt. Chúa Giêsu mời
gọi “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11, 29).
Phương pháp đào tạo đồng hành cần có sự thân tình,
tin tưởng và yêu thương. Như Chúa Giêsu đi bước trước tới nhà ông
Gia-kêu, nhà đào tạo sẵn sàng đi bước trước đến với ứng sinh để tạo bầu
khí thân tình, gần gũi, đối thoại, lắng nghe, nhờ đó mà đưa tới sự biến
đổi, vốn là mục tiêu của đào tạo: biến đổi người xấu thành người tốt,
biến đổi người tốt thành người tốt hơn, và thành thánh nhân. Cuộc đồng
hành “tiếp lửa” của Chúa Giêsu với hai môn đệ trên đường Êmau cũng là
một kiểu mẫu cho phương pháp đào tạo đồng hành giữa nhà đào tạo và ứng
sinh. Phương pháp này đòi hỏi nhà đào tạo cùng tham dự vào tất cả các
sinh hoạt hằng ngày của ứng sinh, khiến ứng sinh không còn sợ hãi, xa
cách.
Nhà đào tạo đồng hành đem lại tin tưởng và an toàn
cho ứng sinh, hay nói cách khác, nhà đào tạo phải tin tưởng ứng sinh sẽ
được biến đổi tốt đẹp trong tương lai. Chính Chúa Giêsu đã tỏ rõ điều đó
khi Ngài đồng bàn với những người thu thuế và tội lỗi, hay khi không
kết án người nữ ngoại tình. Quả thế, dù một người có hư hỏng đến đâu đi
nữa thì cũng còn có vài điểm tốt. Nhà đào tạo biết rút ra vài điểm tốt
đó để phát huy. Baden Powell, ông tổ của phong trào giáo dục Hướng đạo,
bảo rằng dù gặp một con người chỉ có 5% tốt còn 95% xấu thì phải nhìn 5%
tốt nơi con người để giúp họ phát huy, rồi 95% xấu kia sẽ được thay
thế. Còn thánh Gioan Bosco bảo một trái táo thối vẫn còn có một cái hạt
có thể nẩy mầm trở thành một cây và đơm bông kết trái. Ứng sinh sẽ tin
tưởng vào nhà đào tạo nào tin tưởng mình. Sự tin tưởng này luôn có tính
hỗ tương.
Sự hiện diện đầy yêu thương của nhà đào tạo
mang lại nhiều kết quả tốt trong công cuộc đào tạo hơn luật lệ, nguyên
tắc, chương trình, kiến thức; nhất là khi yêu thương như Chúa Giêsu yêu
thương (x. Ga 13, 34): Ngài cất bước đi tìm và đón nhận tất cả những ai
đến với Ngài. Nhà đào tạo phải chấp nhận những khác biệt với mình của
ứng sinh, phải quyết tâm vượt qua những bức tường ngăn cách thiện cảm
hay ác cảm tự nhiên, để có thể trao ban và lãnh nhận lẫn nhau. ĐTC Biển
Đức XVI viết về vấn đề giáo dục ngày 23/2/2008 như sau: “Nền giáo dục
này trước tiên cần có sự gần gũi và tín nhiệm nảy sinh từ tình thương:
tôi nghĩ đến kinh nghiệm đầu tiên và cơ bản về tình thương mà các trẻ em
cảm nhận nơi cha mẹ. Mỗi nhà giáo dục đích thực đều biết rằng để giáo
dục thì phải trao hiến một cái gì đó từ chính bản thân mình và chỉ như
thế mới có thể giúp các học sinh của mình khắc phục những ích kỷ và trở
thành người có khả năng yêu thương đích thực.”
Quả thế, bí quyết thành công trong việc đào tạo chính
là dùng tình thương xoa dịu các tâm hồn, khám phá cái tốt nơi mỗi ứng
sinh, làm cho họ tỏa sáng và dẫn đưa họ đến cùng Chúa: “Hôm sau, ông
Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông, thấy Chúa Giêsu
đi ngang qua, ông lên tiếng nói: ‘Đây là Chiên Thiên Chúa.’ Hai môn đệ
nghe ông nói, liền đi theo Chúa Giêsu.” Nhà đào tạo phải dọn đường để Chúa đến với ứng sinh và đưa ứng sinh đến với Chúa.
c. Hai mặt bổ sung quyền lực của nhà đào tạo[5]
Quyền lực hay uy tín của nhà đào tạo là một tiến
trình phát triển liên tục bao gồm quyền lực bên ngoài do chức vụ, địa
vị, tài năng, chuyên môn và quyền lực bên trong do tấm lòng yêu thương,
linh đạo, suy tư khôn ngoan, mục đích và động lực chính trực. Quyền lực
bên trong phát triển do sự hướng nội, đấu tranh bản thân, sự tiến hóa
từng trải của kinh nghiệm cuộc đời, việc chấp nhận và đánh giá đúng đắn
về chính mình, cũng như về ứng sinh (x. Trường hợp Nathanael). Nhà đào
tạo và lãnh đạo giỏi là người có khả năng nối kết hòa điệu khả năng tư
duy bên trong với khả năng hành động bên ngoài.
Quyền lực bên ngoài của nhà đào tạo được biểu lộ nơi
sự tự tin, năng lực, chuyên môn, địa vị, bằng cấp, chức vụ, tiền bạc,
thành công và được mọi người biết đến. Trong khi quyền lực bên trong
phát xuất từ con người nội tâm, từ tâm hồn, từ các giá trị sâu xa liên
hệ đến bản thân và cuộc sống, có thể truyền lửa và sức mạnh cho người
khác.
Phẩm chất của nhà đào tạo là yếu tố nội tại bền vững
thực sự quyết định của việc đào tạo, hơn là do chức vụ quyền bính. Đào
tạo liên hệ chặt chẽ với ý niệm người môn đệ đi theo thầy (discipleship)
và người có thể thúc đẩy, hướng dẫn người khác [bạn hãy theo sát Chúa
Giêsu và Chúa Giêsu sẽ theo sát người thụ huấn của bạn].
5. Một số điều kiện khác của nhà đào tạo[6]
a. Tự do nội tâm và nội lực mạnh
Nhà đào tạo không để mình dễ bị chi phối bởi
những đam mê hay tình cảm, yêu hay ghét, thích hay không thích, ác cảm
hay thiện cảm, thù oán hay ghen tỵ… Nói chung là người trưởng thành về
tình cảm, không có khuynh hướng lệch lạc, lạm dụng người dưới quyền,
nhưng luôn giữ được sự chính trực và công bằng.
Nhà đào tạo còn phải trưởng thành về đời sống thiêng
liêng, thanh thản và siêu thoát, không tìm bám víu vào ý riêng và kế
hoạch của mình, nhưng chỉ mong tìm và thực hiện ý Chúa, chỉ tìm ích
chung cho cộng đoàn, cho sự lớn lên thực sự của từng thành viên trong
căn tính người tu sĩ của Dòng (đào sâu và sống đặc sủng và linh đạo của
Dòng).
b. Sống thánh thiện
Ứng sinh rất mong gặp được nơi nhà đào tạo một mẫu
mực bằng xương bằng thịt đang sống trọn vẹn đặc sủng và linh đạo Dòng
mình, được thể hiện nơi Hiến Chương, Nội Qui và Luật Sống của Dòng để
thấy rằng sự thánh thiện là một lý tưởng có thể đạt được với ơn Chúa:
kết hiệp với Chúa liên tục trong mọi tình huống, gặp thấy Ngài và đọc
được ý nghĩa đức tin trong mọi biến cố cuộc đời,[7]
cùng tìm kiếm ý Chúa và can đảm thực hiện, chứ không phải áp đặt ý mình
trên người khác, lại biết nhận định cách khôn ngoan để phân biệt tác
động của tà thần và của Thánh Thần.
Nhà đào tạo dạy dỗ và hướng dẫn không chỉ bằng lời
nói, nhưng bằng gương sáng thống nhất đời sống giữa các mặt khác nhau và
đối nhau như chiêm niệm và hoạt động, vâng phục và tự do, sống điều
mình dạy, chứ không phải nói mà không làm, để ứng sinh có thể noi theo.
Nói cách khác, nhà đào tạo là người có lửa và sẵn sàng chia lửa cho ứng
sinh và cộng đoàn, được bộc lộ ra qua mọi đức tính nhân bản đã tập được
(Ph 4, 8-9). Sự giả hình, che đậy và dối trá quanh co là những điều
người ứng sinh tu sĩ trẻ hôm nay khó chấp nhận, dù họ cũng không tránh
khỏi tệ nạn này của xã hội.
c. Yêu thương từng ứng sinh
Tình yêu ấy phải được diễn tả làm sao để ứng sinh
nhận ra qua việc quan tâm đến sức khỏe, gia đình, đời sống tình cảm, học
tập, cầu nguyện, đặc biệt trong thời gian ứng sinh gặp thử thách khủng
hoảng. Tình yêu ấy cũng phải được bộc lộ qua cả những lúc phải dùng đến
hình phạt nữa (vì thương mà phải phạt). Hỏi thăm trực tiếp ứng sinh là
hình thức đơn sơ nhất, miễn là biết cách để không có vẻ soi mói, điều
tra. Con người ứng sinh phải được đặt lên trên công việc hay của cải vật
chất.
Mỗi ứng sinh có một lịch sử riêng, hoàn cảnh riêng,
vấn đề riêng, và ở từng giai đoạn đào luyện khác nhau nên cách gặp gỡ
từng người cũng có phần khác nhau, để từ đó việc đồng hành được thích
hợp và không đòi hỏi quá đáng những điều mà ứng sinh còn non trẻ chưa
thể có được. Đồng hành là cùng đi với ứng sinh, đi cùng một nhịp nhanh
chậm với ứng sinh, hơn là đi trước mở đường/dẫn đường, nhưng trở nên bạn
đi chung với người ấy.
Nhà đào tạo dành thời giờ để gặp riêng từng ứng sinh
sẽ tạo được sự thông cảm, hiểu biết nhau, nhờ đó việc huấn luyện sẽ tốt
hơn và dễ dàng hơn. Sự hiện diện thường xuyên của nhà đào tạo là điều
cần thiết, (đặc biệt với Nhà Tập, như “Những chỉ dẫn việc huấn luyện
trong các Dòng tu” yêu cầu), vì nó cho thấy mình coi trọng ứng sinh và
việc huấn luyện họ hơn các việc tông đồ hay những mối bận tâm khác
(trong thời gian Nhà Tập, đời sống thiêng liêng trỗi vượt hơn đời sống
tông đồ). Đào tạo là việc tông đồ ưu tiên của dòng tu vì qua việc này mà
sinh ra những nhà tông đồ mới để đáp ứng nhu cầu tông đồ của Giáo Hội.
Tích cực tham dự các sinh hoạt cộng đoàn (cùng lao
động, giải trí, cầu nguyện, học tập, tĩnh tâm, dã ngoại, nghỉ hè, thăm
nhà nhau) cũng giúp tạo ra sự gần gũi và thấy được con người thật của
ứng sinh, vì chính cuộc sống thực tế mỗi ngày mạc khải đúng nhất về mỗi
con người.
d. Lắng nghe và Đối thoại
Lắng nghe là một hành vi của trái tim và chỉ trái tim
yêu thương mới nghe được những điều nằm ẩn sau lớp vỏ của ngôn từ. Luôn
lắng nghe để thấu hiểu một người từ bên trong mới có thể đào tạo người
ấy. Ngày nay cần nỗ lực lắng nghe nhiều mới hy vọng hiểu được lối suy
nghĩ, lối nói và lối phản ứng của ứng sinh hầu tránh nguy cơ hiểu lầm,
gây đau khổ và quyết định sai lầm. Nhà đào tạo tránh xét đoán và kết
luận vội vã; một lời nói của người có quyền rất quan trọng, có thể cứu
sống hoặc có thể giết chết (miệng người sang có gang có thép). Trái lại
phải đối thoại để kiểm chứng từ nhiều nguồn trước khi kết luận, nhất là
cần nghe ý kiến giải thích biện hộ của ứng sinh. Ngay cả những điều nhìn
thấy tận mắt cũng chưa thể khẳng định, vì chúng ta không lường hết được
mọi tình huống. Nhớ câu chuyện của Khổng Tử và Nhan Hồi: “Có những việc
chính mắt mình thấy vậy mà không phải vậy.”
Lắng nghe tích cực là dám hỏi và nghe góp ý của người
khác, dù rất khó nghe và đòi mình phải thay đổi. Càng ít tự ái khi nghe
những lời phê bình, càng ít tự mãn về hiểu biết của mình, thì càng dễ
lắng nghe và tôn trọng chuyên môn của ứng sinh: “Tam nhân đồng hành tất
hữu ngã sư.” Lắng nghe là tin Thiên Chúa nói với mình qua ứng sinh và
cùng với ứng sinh tìm ra con đường riêng tư mà Chúa muốn ứng sinh đi.
Chúa Giêsu cũng đã hỏi các tông đồ: “Các con nghĩ Thầy là ai?” và Phêrô
đã tuyên xưng Ngài là con Thiên Chúa. Biết ứng sinh nghĩ về mình thế nào
cũng giúp nhà đào tạo thăng tiến chính mình.
e. Tôn trọng ứng sinh
Nhà đào tạo không dùng quyền một cách vội vã, dù
chính đáng. Cần cân nhắc, đắn đo trước khi hành động. Phải xem nên làm
gì, khi nào, nơi nào và làm cách nào thuận tiện để đạt kết quả tốt nhất.
Càng ít ra lệnh thì lệnh càng nghiêm. Nhà đào tạo góp ý, tránh mắng
nhiếc, mạt sát, làm nhục một người được Chúa chọn gọi (x. Câu chuyện trò
Trang). Sửa lỗi ứng sinh cách bình tĩnh, không la lối, không nổi giận,
nhưng kín đáo, tế nhị, thận trọng; phê phán hành vi sai lỗi hơn là phê
phán người phạm sai lỗi.
Nhà đào tạo nên cho ứng sinh được tự do trong những
gì không mấy quan trọng, để họ được đưa ra sáng kiến, được thể hiện
chính mình. Chấp nhận để họ mạo hiểm áp dụng những cách xử lý mới, dù họ
có thể vấp váp, sai sót trong bước đầu; từ đó giúp họ biết điều chỉnh
và rút kinh nghiệm hơn là đưa ra những chỉ dẫn quá chặt chẽ, chi li, bóp
chết mọi suy nghĩ và sáng tạo. Tin tưởng ứng sinh và cho họ có một
không gian riêng tư để thở, để là mình, để lớn lên. Họ cũng cần được tôn
trọng và có không gian riêng với nhau ở một mức độ nào đó. Là khí cụ
của Thiên Chúa, nhà đào tạo tôn trọng Ngài, vì Ngài đào tạo xuyên qua
những biến cố Ngài cho phép xảy ra trong cuộc đời ứng sinh. Nhà đào tạo
phải thấy được và tôn trọng lối đào tạo của Chúa cho từng con người.
f. Lạc quan và hy vọng
Thời gian đào tạo là thời gian không dễ dàng, vì thế
niềm vui và nụ cười trên khuôn mặt nhà đào tạo làm vơi nhẹ đi rất nhiều
lo âu cho ứng sinh. Bầu khí cộng đoàn chịu ảnh hưởng bởi tính khí của
nhà đào tạo. Lạc quan là có cái nhìn tích cực, lời nói tích cực và việc
làm tích cực đối với ứng sinh. Lạc quan là nhìn ra những điểm sáng giữa
bóng tối, là tin tưởng và hy vọng không ngơi vào lòng tốt, sự phục thiện
và quyết tâm sửa đổi của ứng sinh. Lạc quan là giũ bỏ mọi thành kiến để
nhìn ứng sinh bằng cái nhìn mới, là không kể tội quá khứ, là cho họ một
cơ hội nữa để làm lại từ đầu sau những vấp ngã. Thái độ bi quan có thể
bóp chết những cố gắng lật sang trang và bước một bước mới của ứng sinh,
đồng thời làm cho họ ở trong tình trạng căng thẳng và chán nản thường
xuyên.
g. Nhẫn nại, bao dung, cảm thông và uyển chuyển
Nhà đào tạo không để mình dễ nóng giận, có giận cũng
biết làm chủ cơn giận của mình, và giận có lý do chính đáng tương xứng:
Nhà đào tạo nhẫn với ứng sinh như Chúa đã nhẫn với mình. Nhẫn
đòi phải chờ đợi, có khi trong thời gian dài, tưởng như vô ích: Việc
nhỏ không nhẫn nhục sẽ làm hư việc lớn. Mà có việc gì lớn hơn việc đào
tạo con người?: “Kế một năm không gì bằng trồng lúa, kế mười năm không
gì bằng trồng cây, kế trăm năm không gì bằng trồng người.” Nhà đào tạo
muốn nhẫn nại cần phải khiêm tốn, vì nhẫn là chấp nhận thua, chấp nhận
chịu đau khổ do người dưới quyền, chấp nhận không dùng quyền dù có thể
dùng. Đừng sợ nhẫn quá sẽ làm hư ứng sinh. Thực tế họ sẽ bị đánh động
nhiều và sâu xa trước sự nhẫn nại vô bờ của nhà đào tạo, và họ sẽ quyết
tâm sống thật tốt để đền đáp lại.
Bao dung là không chấp nhất những điều nhỏ mọn, chi
li, không bắt bẻ những thiếu sót vô ý, không nhớ dai và hay nhắc lại
chuyện cũ. Cái gì đã qua thì nên cho qua đi luôn, vì chẳng ai có thể
thay đổi được những gì đã xảy ra trong quá khứ.
Quảng đại là cư xử rộng rãi hơn mức ứng sinh dám
mong, là cho đi điều mà họ không dám đòi. Họ mong được nhà đào tạo cảm
thông, thấu hiểu những thách đố, cám dỗ mà họ phải gánh chịu. Họ cũng
mong được tha thứ những vấp ngã của họ.
Uyển chuyển, mềm mại, nhu thuận: Biết lúc cương lúc
nhu, biết thích nghi với tình huống cụ thể, không cứng nhắc, chấp nhận
nguyên tắc chung phải theo, nhưng cũng chấp nhận ngoại lệ cho cá nhân.
Không đào tạo theo lối đúc gạch (x. 1 Cr 13, 4-7)[8]
h. Khả năng lãnh đạo
Mục tiêu nhà đào tạo nhắm tới là sự triển nở nhân
cách của người sống đời thánh hiến nên cần coi trọng sự đóng góp độc đáo
của từng người, tùy theo khả năng Chúa ban. Nguyên tắc bổ trợ hay phân
quyền[9]
có thể được áp dụng ở một mức nào đó trong đời tu. Các công việc trong
cộng đoàn cần được chia ra để mỗi người đều có trách nhiệm. Nhà đào tạo
tôn trọng người đảm trách công việc, cho họ chút tự do để suy nghĩ xem
làm sao có kết quả tốt nhất, đó cũng là cách làm họ trưởng thành và gắn
bó với cộng đoàn.
Trong tinh thần ấy, ĐTC Gioan-Phaolô II trong Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến (ban hành ngày 25/3/1996) khẳng định: “Các
tu hội được mời gọi hãy can đảm tìm lại tinh thần xông xáo dám nghĩ dám
làm, óc sáng tạo và sự thánh thiện của các đấng sáng lập, để đáp trả
những ‘thời điểm’ đang xuất hiện trong thế giới ngày nay. Lời mời gọi
này tiên vàn nhắm đến việc kiên trì trên đường nên thánh, giữa những khó
khăn vật chất và tinh thần gặp phải trong cuộc sống hằng ngày. Nhưng đó
cũng là lời mời gọi hãy thủ đắc cho được một khả năng chuyên môn trong
việc làm, và trung thành năng động trong sứ mệnh của mình, bằng cách
biết thích nghi các hình thái, khi cần, với những hoàn cảnh mới và những
nhu cầu khác nhau, trong thái độ hoàn toàn tuân phục sự soi sáng của
Thiên Chúa và sự biện phân của Giáo Hội.
Phải xác tín vững chắc rằng việc cố gắng ngày càng
nên đồng hình đồng dạng với Chúa hơn, là điều kiện đích thực của mọi
cuộc canh tân trung thành với linh ứng nguyên thủy của mỗi tu hội. Trong
tinh thần này, mọi tu hội phải canh tân lối nhìn về luật dòng, vì một
lộ trình đã được phác họa trong luật dòng và hiến chương để thực hiện
việc đi theo Chúa Kitô, tương ứng với đặc sủng riêng đã được Giáo Hội
chuẩn nhận. Càng trân trọng luật dòng, người tận hiến càng có những tiêu
chuẩn chắc chắn, để tìm ra những phương thức thích đáng cho sứ vụ đáp
ứng những đòi hỏi của thời đại mà không xa rời linh ứng nguyên thủy”
(Vita Consecrata, số 37).
“Các con không những phải nhớ và kể lại một lịch
sử huy hoàng, mà còn phải kiến tạo một lịch sử vĩ đại nữa. Hãy hướng về
tương lai, tới chỗ mà Thánh Thần đang sai các con đi để làm những việc
trọng đại. Các con hãy biến cuộc đời các con thành cuộc trông đợi sốt
sắng Chúa Kitô… Hãy sẵn sàng luôn luôn, hãy trung thành với Chúa Kitô,
với Giáo Hội, với tu hội của mình và với con người thời đại này. Nhờ
thế, ngày qua ngày, các con sẽ được Chúa Kitô đổi mới, và nhờ Thánh Thần
trợ giúp, các con sẽ kiến tạo những cộng đoàn huynh đệ,…và góp phần độc
đáo của các con vào sự biến hình của thế giới… Mong sao cho thế giới đã
được trao vào tay con người sẽ được nhân đạo hơn, công bằng hơn, trở
nên dấu chỉ và hình ảnh báo trước thế giới sắp đến…” (Vita Consecrata,
số 110).
i. Tận tâm phục vụ
Nhà đào tạo vừa lãnh đạo vừa phục vụ cộng đoàn như
Chúa Giêsu: “Thầy ở giữa anh em như người phục vụ” (Lc 22, 27), mới có
thể huấn luyện ứng sinh trở thành người phục vụ. Phục vụ đòi phải đứng
mũi chịu sào, chấp nhận con dại cái mang “trên đe dưới búa”, và đón lấy
thánh giá không thể tránh khỏi mỗi ngày. Xin lỗi, cám ơn, khen ngợi, an
ủi, giúp đỡ, cộng tác, chia sẻ, sẵn sàng dành thời giờ để gặp gỡ, hiện
diện thường xuyên trong cộng đoàn… là những cách diễn tả việc tận tâm
phục vụ của nhà đào tạo hôm nay. Có thể nói, nhờ phục vụ mà nhà đào tạo
theo sát được các ứng sinh của mình để đào tạo (x. Kiểm soát bằng cách
phục vụ).
6. Các giai đoạn đào tạo tu sĩ[10]
Tiến trình đào tạo tu sĩ qua các giai đoạn liên tục nhằm sự đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, cho cả nhà đào tạo lẫn ứng sinh.
Trước hết nhà đào tạo phải theo mẫu gương của Chúa
Giêsu. Ngài đã sống với các môn đệ liên tục không gián đoạn trong ba năm
cuộc đời công khai cho đến khi chết trên thập giá. Ngài đã đồng hành
cùng họ với tình yêu bao dung, nhẫn nại và săn sóc ân cần để họ được lớn
lên trong đức tin và trưởng thành, thiêng liêng lẫn nhân bản. Ngài biết
rõ mỗi người, những cá tính, những điểm mạnh và những điểm yếu của họ.
Ngài nhẫn nhục chịu đựng những khuyết điểm, những bất toàn, những tham
vọng trần tục, những bướng bỉnh, thiếu lòng tin và chậm hiểu của họ về
các mầu nhiệm Nước Trời; và Ngài kiên trì chờ đợi Thánh Thần đến kiện
toàn công cuộc đào tạo họ: “Thầy còn nhiều điều để nói với anh em,
nhưng bây giờ anh em không thể hiểu. Khi Thần Chân Lý đến, Người sẽ
hướng dẫn anh em biết tất cả sự thật” (Ga 16,12-13). Chúa Giêsu cũng hằng cầu xin Chúa Cha giữ gìn bảo vệ các môn đệ: “Con không xin Cha cất họ ra khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi tay ác thần” (Ga 17,15).
Các giai đoạn đào tạo tuy khác nhau nhưng phải có sự
liên tục tiệm tiến và tổng thể, ăn khớp mắt xích với nhau trong chiều
hướng canh tân tìm kiếm một phương thức thể hiện mới để Hội Dòng hiện
diện hữu hiệu trong hoạt động dưỡng giáo lẫn truyền giáo của Giáo Hội.
Phương thức này đòi hỏi canh tân các giá trị, các tâm thức, các quan
điểm, các mối quan hệ, cách suy nghĩ và hành động, lối sống và cách thi
hành sứ vụ, nghĩa là một cuộc canh tân sâu sắc và toàn diện.
Công cuộc đào tạo này là trách nhiệm của mọi thành
phần trong Dòng, và được Hội Dòng ủy thác cách riêng cho các nhà đào
tạo, từ giai đoạn đào tạo khởi đầu Đệ tử viện, Nhà Thử, Nhà Tập mà cao
điểm là việc tuyên khấn lần đầu, qua giai đoạn Học viện được kết thúc
với việc tuyên khấn trọn đời, đến giai đoạn đào tạo thường xuyên diễn ra
trong suốt cả cuộc đời mỗi tu sĩ, với những hình thức rất đa dạng và
thích hợp cho từng hoàn cảnh và độ tuổi, phản ánh nổi bật đặc sủng và
linh đạo Dòng thể hiện trong Hiến Chương, Nội Quy và Luật Sống.
Việc đào tạo ngày nay được thực hiện với nhiều người
và cho nhiều người, nhưng phải chú trọng đến sự hợp tác của từng cá
nhân, với từng hoàn cảnh cá biệt, nghĩa là phải được cá nhân hóa và nội
tâm hóa, tức vừa được đào tạo vừa tự đào tạo, trong một tổng thể liên
tục qua các giai đoạn đào tạo và tự đào tạo.
a. Giai đoạn đệ tử viện
Đệ tử viện là nơi Dòng tiếp nhận
và đào tạo các em muốn thử tìm hiểu và sống ơn gọi tu trì. Các em được
hướng dẫn sống chung với nhau, cùng tham gia mọi sinh hoạt do Dòng tổ
chức hướng về việc tìm hiểu hỗ tương (các em tìm hiểu Dòng và Dòng tìm
hiểu các em) xem có thích hợp với Dòng không, nếu không hợp thì ra về
hoặc đi Dòng khác.
Vì hoàn cảnh, ngày nay không có trường Dòng riêng
hoặc trường công giáo, nên các em đệ tử vẫn đi học trường ngoài đời.
Điều này có những thuận lợi và bất thuận lợi, những tích cực và tiêu cực
của nó trong việc đào tạo tu sĩ, nhất là trong lãnh vực tương quan tình
cảm và giới tính, cần có những nhà đào tạo kỹ năng và tâm huyết đồng
hành với các em, vừa phòng bệnh vừa chữa bệnh, để khảo sát và chữa lành
hầu đạt được sự ổn định cần thiết; những gánh nặng nội tâm cần được tháo
gỡ và giải quyết nhờ sự trợ giúp của vị linh hướng.
Việc đào tạo trong giai đoạn này nhằm giúp các em tìm
hiểu các loại hình ơn gọi, kể cả ơn gọi hôn nhân, để các em tự do quyết
định chọn đời tu, chứ không đưa các em vào thế “bó buộc” phải đi tới.
Tiếp đến tiệm tiến nhập môn cho các em về đặc sủng, linh đạo, mục đích,
sứ mệnh của Dòng, đối chiếu với đặc sủng ân ban cá nhân của các em. Phải
có sự thích và hợp với Dòng thì ơn gọi đó mới triển nở bền vững được.
Việc đào sâu và sống đặc sủng và linh đạo của Dòng phải được tiến hành
dần dần theo từng giai đoạn đào tạo, càng lâu càng thấm, càng lên cao
càng nhấn mạnh.
Để vun trồng và nuôi dưỡng ơn gọi, nhà đào tạo phải
nhắm tới một tiến trình đào tạo toàn diện cho các em, vừa nhân bản,
thiêng liêng, tri thức và tông đồ. Cần để ý khả năng sống cộng đoàn của
các em, vì đời sống huynh đệ cộng đoàn là một trong bốn cột trụ căn bản
chống đỡ đời tu, đặc biệt trong việc sống ba lời khuyên Phúc Âm (Chúa
Giêsu, Phúc Âm, Đời sống huynh đệ cộng đoàn, Sứ vụ chứng tá). Tập cho
các em ham thích đời sống cầu nguyện, cử hành phụng tự và bí tích. Giúp
các em học văn hóa và chuyên môn thích hợp để trở nên người tốt và hữu
dụng. Có thể hướng nghiệp cho các em phù hợp với sứ mệnh của Dòng. Giúp
các em có ý thức trách nhiệm trong việc tổ chức đời sống mình, dễ nhận
thấy nhất là trong công việc được giao phó.
Trách nhiệm của Chị Giáo và những trợ tá là tìm hiểu,
xem xét và đánh giá tất cả các bối cảnh gia đình, môi trường và động
lực của các em hầu đi đến kết luận một cách tương đối là các em khả dĩ
có ơn gọi hay không để đưa lên giai đoạn đào tạo tiếp theo. Đừng vội có
kết luận dứt khoát, vì tiến trình ơn gọi còn lớn lên, triển nở và được
khẳng định với thời gian và ơn Chúa. Cũng hãy để cho Chúa làm công việc
của Ngài nữa.
Như thế, để thẩm định ơn gọi cần có một sự hợp tác
giữa đôi bên, Nhà Dòng và các em, các em và Nhà Dòng, theo tiến trình ơn
gọi 5 bước:
· Chúa gọi (trực tiếp hay gián tiếp)
· Các em quảng đại đáp lại.
· Các em cam kết theo chính Chúa Kitô toàn thể với
vinh quang và thập giá, nghĩa là khi vui cũng như khi buồn, lúc thành
công cũng như lúc thất bại, khi sướng cũng như khi khổ, đều luôn trung
thành theo chính Chúa Kitô, chứ không phải ai khác.
· Các em dần dần biến đổi và điều chỉnh đời sống mình cho phù hợp với đời tu trong linh đạo Dòng.
· Kiên trì chu toàn bổn phận hằng ngày hôm nay và sứ vụ Dòng sẽ giao phó mai sau.
b. Giai đoạn Tiền Tập viện
Thời kỳ đi trước và chuẩn bị giai đoạn Tập viện là
giai đoạn thử thách (Nhà Thử) nhằm tìm bảo đảm rằng ứng sinh đã đạt tới
sự trưởng thành khả dĩ về nhân bản và kitô chứng tỏ có khả năng đảm
đương dần dần tất cả những đòi buộc của đời sống thánh hiến. Việc đào
tạo ở Nhà Tập tùy thuộc vào phẩm chất của các ứng sinh đã được nhận vào.
Thời kỳ này để ứng sinh nghiêm chỉnh bắt đầu khám phá
ơn gọi đời sống thánh hiến của mình và thực hiện cuộc điều chỉnh tiệm
tiến về mặt thiêng liêng cũng như tâm lý để chuẩn bị một sự cắt đứt cần
thiết nào đó với môi trường xã hội, cũng như các mối tương quan không
thích hợp của mình ngõ hầu tham gia trọn vẹn tiến trình đào tạo và tự
đào tạo.
“Hầu hết những khó khăn gặp phải ngày nay trong
việc đào tạo các tập sinh thường do sự kiện khi họ được nhận vào nhà tập
thì họ chưa có được sự trưởng thành đòi buộc” (Những chỉ dẫn về đào
tạo trong các Dòng tu số 42). Tuy vậy, không được đòi hỏi một ứng sinh
vào đời sống thánh hiến phải có ngay lập tức khả năng đảm trách tất cả
mọi bó buộc của đời sống thánh hiến, mà là có khả năng làm việc ấy cách
tăng tiến dần dần.
Xác định và đánh giá ứng sinh để thâu nhận vào Nhà
Tập là mục đích của giai đoạn này. Việc này có thể tóm tắt trong bốn
động từ sau đây: xác minh, làm sáng tỏ, không rút ngắn vô lý, không kéo
dài quá mức: “Phải làm thế nào để thời gian này chứng minh và làm
sáng tỏ một số điểm giúp các Bề trên định đoạt về sự thích hợp và thời
điểm để thâu nhận vào Nhà Tập. Không nên rút ngắn hoặc kéo dài vô lý
giai đoạn này, miễn làm sao có được một phán đoán chắc chắn về tư cách
xứng đáng của ứng sinh” (sd số 43).
Những điểm lợi ích đặc biệt của việc biện phân cần được thẩm tra nơi các ứng sinh vào đời sống thánh hiến là:
· Trình độ trưởng thành về nhân bản và kitô;
· trình độ văn hóa phổ thông cơ bản;
· sự quân bình tình cảm và giới tính, bao hàm việc chấp nhận sự khác biệt của tha nhân và tôn trọng quyền bảo vệ bí mật của họ;
· và khả năng sống cộng đoàn.
Ba hình thức thực hiện giai đoạn tiền tập viện:
· Đón tiếp ứng sinh vào một cộng đoàn Dòng;
· Các thời kỳ giao tiếp với một cá nhân hay cộng đoàn;
· Cuộc sống chung trong một nhà nơi các ứng sinh được đón nhận.
Điều đó nói rõ rằng các thỉnh sinh chưa phải là những
thành viên đầy đủ của Dòng. Một sự kết nạp tiệm tiến được bảo đảm. Phải
nhớ rằng con người đang được đồng hành thì quan trọng hơn các động lực
hay cơ cấu tiếp nhận (sd số 44)
c. Giai đoạn Tập viện
Giai đoạn Tập viện là thời kỳ của việc kết nạp toàn
diện; là một thời gian đặc ân để cầu nguyện và chiêm niệm để biện phân
ơn gọi đích thực vào đời sống thánh hiến (x. GL 652,5). Việc trau dồi
các giá trị và hòa nhập thực tại kêu gọi/đáp trả qua cầu nguyện, suy
nghĩ, học hỏi, đặc biệt về đặc sủng và linh đạo Dòng, mở ra và phục vụ
lẫn nhau.
Mục đích của tập sinh được mô tả bởi GL 646 trong 4 động từ nhận biết, kinh nghiệm, được đào tạo và được thử thách (sd số 45):
· Tập sinh phải nhận biết tốt hơn ơn gọi của Chúa, phù hợp với Dòng mình;
· Tập sinh phải được đào tạo trí óc và con tim theo tinh thần Dòng qua việc đào sâu và sống đặc sủng và linh đạo của Dòng;
· Tập sinh phải kinh nghiệm lối sống của Dòng bằng việc thực hành Hiến Chương, Nội Quy và Luật Sống của Dòng;
· Các động lực của Tập sinh (phương diện chủ quan) và tính thích hợp (phương diện khách quan) phải được thử thách, kiểm chứng.
Việc khai tâm để kết nạp quan trọng hơn nhiều việc
dạy dỗ đơn thuần. Nó dần dần dẫn dắt tập sinh đi vào những thành phần
khác nhau cấu tạo nên đặc sủng đời sống thánh hiến (sd số 46-47):
· Khai tâm vào một sự hiểu biết sâu xa và sống động
về Chúa Kitô và Cha Ngài (qua Thánh Kinh, Phụng vụ, Cầu nguyện cá nhân
và Lectio Divina);
· Khai tâm vào Mầu nhiệm Phục sinh (các lời khuyên Phúc Âm, sự khổ chế vui tươi, chấp nhận can đảm mầu nhiệm thập giá);
· Khai tâm vào đời sống huynh đệ Phúc Âm;
· Khai tâm vào lịch sử, sứ mệnh đặc biệt, đặc sủng và linh đạo của Dòng (các thời kỳ hoạt động tông đồ ở bên ngoài cộng đoàn)
Mấy điều kiện tập sinh phải thực hiện (sd số 49-50):
· Tính mềm dẻo và thận trọng;
· Một khung cảnh riêng và bầu khí thanh bình để có thể cắm rễ sâu vào cuộc sống với Chúa Kitô;
· Sự cắt đứt và tước bỏ chính mình (một điều kiện cần thiết cho những chọn lựa mới có ý nghĩa);
· Lồng ghép tập sinh vào các cộng đoàn là tuyệt đối không nên (x. GL 647-649).
· Trong thời gian tập viện, đời sống thiêng liêng trổi vượt hơn đời sống tông đồ.
Chị giáo tập (sd số 51) là người trách nhiệm chính
chăm sóc các tập sinh, nhưng ở dưới quyền của Bề trên thượng cấp (x. GL
650). Để chu toàn cách thích hợp sứ vụ đào tạo của mình: Chị giáo tập
phải được tự do khỏi mọi bó buộc khác có thể cản trở việc chu toàn trách
nhiệm của mình; các cộng tác viên phải lệ thuộc chị giáo tập, nhưng họ
có một vai trò quan trọng trong việc biện phân và quyết định liên quan
đến tập sinh; chị giáo tập là người đồng hành của mỗi người và tất cả
các tập sinh: tập sinh là nơi chốn thừa tác vụ của chị. Giáo tập trong
các Dòng giáo sĩ thường không cho các tập sinh xưng tội, trừ khi gặp
hoàn cảnh phải thu xếp như vậy.
d. Giai đoạn Học viện
Là thời kỳ đào tạo giữa thời gian tiên khấn và vĩnh
khấn. Đào sâu sự cam kết với Chúa Kitô và sứ vụ của Ngài, đồng thời sống
cao độ bốn sự trung thành:
· Trung thành với Chúa Kitô và Phúc Âm;
· Trung thành với Giáo Hội và sứ mệnh của Giáo Hội;
· Trung thành với đời sống thánh hiến và đặc sủng của
Hội Dòng, cụ thể trong việc sống Hiến Chương, Nội Quy và Luật Sống của
Dòng;
· Trung thành với các thời triệu qua đó thánh ý Chúa được biểu lộ.
để biện phân cho sự cam kết suốt đời với Chúa Kitô và sứ vụ của Ngài trong tinh thần và đặc sủng của Dòng.
Những gì Giáo Hội truyền dạy (sd số 58):
GL 659 nói rõ ràng: trong mỗi Dòng, việc đào tạo tất
cả các thành viên phải được tiếp tục, nhờ đó họ có thể sống đầy đủ hơn
cuộc sống thích hợp với Dòng mình và chăm lo sứ vụ của mình cách phù hợp
hơn.
GL 660 thêm rằng công cuộc đào tạo này phải:
· Có hệ thống, chứ không theo lối phân mảnh;
· được thích nghi với khả năng của các thành viên;
· có tính cách thiêng liêng và tông đồ; vừa giáo thuyết vừa thực hành, với nhiều trình độ khác nhau.
· Đàng sau những chỉ thị đó là nguyên lý hội nhập và quân bình.
Nội dung và phương tiện đào tạo (sd số 60 – 61). Mỗi Dòng được yêu cầu cung ứng cho ứng sinh:
· Một cộng đoàn đào tạo: Đời sống cộng đoàn
mang lại thực tiễn cho ứng sinh; giúp ứng sinh trưởng thành cá nhân, tự
trọng và kích thích tinh thần đồng trách nhiệm.
· Các nhà giáo dục/đào tạo, đồng hành thành thạo.
· Chương trình học nghiêm túc
· Cam kết dấn thân làm việc tông đồ và xã hội (sd số. 62) phải
theo đặc sủng và linh đạo của Dòng, lưu tâm đến năng khiếu và ước vọng
cá nhân, nỗ lực thực thi sự thống nhất đời sống trong tương quan với bốn
diều phải trung thành (với Chúa Kitô và Phúc Âm, với Giáo Hội và sứ
mệnh của Giáo Hội, với đời sống thánh hiến và đặc sủng Dòng, với nhân
loại và thời đại chúng ta)
· Vị linh hướng (sd số 63): Ngoài những người
có trách nhiệm đồng hành thiêng liêng (Bề trên, chị giáo), mỗi Dòng đều
nên có những người có khả năng và thành thạo nên được chỉ định giúp linh
hướng/cố vấn về lương tâm cho tu sĩ, dù không giải tội. Các phương pháp
sư phạm tâm lý không thể thay thế việc linh hướng, và Vat. II đòi phải
để một “tự do thích đáng” (x. GL 220). Liên quan đến việc chọn vị linh
hướng, điều quan trọng là phải giúp ứng sinh cảm thấy được tự do trong
lương tâm để chọn một người mà ứng sinh cho là thích hợp hơn. Đàng khác,
người làm tác vụ này phải có ơn đặc biệt và làm cho mình có khả năng để
làm việc đó.
e. Giai đoạn đào tạo tiếp tục (thường huấn)
Vì các giới hạn nhân loại, con người không bao giờ
hoàn toàn đạt tới cuộc sống của “một tạo vật mới” phản ánh được thần trí
Chúa Kitô trong mọi hoàn cảnh sống (VC 69). Do đó, tu sĩ cần được đào
tạo và tự đào tạo thường xuyện, với nhiều trình độ và tuổi tác khác nhau
(tuổi tu và tuổi đời). Đào tạo thường xuyên là một chương trình tổng
quát nhằm canh tân mọi chiều kích của cá nhân cũng như của cả nhà Dòng.
Đào tạo thường xuyên giúp tu sĩ lớn lên trưởng thành
tự mình đứng vững: Những năm đầu tiên dấn thân trọn vẹn trong việc tông
đồ, đi từ một cuộc sống được trông nom đến một tình trạng chịu trách
nhiệm hoàn toàn về việc mình làm, từ lúc cần có người đồng hành trong
cuộc sống đến lúc triển nở đầy đủ về tình yêu và lòng nhiệt huyết cho
Chúa Kitô.
Tuổi trung niên là thời gian tìm kiếm những gì là căn
bản: Sự nổi bật của con người thật và thách đố để hòa nhập mọi cực của
cuộc sống. Thời kỳ cho sự cô đơn sáng tạo và sinh hoa kết trái thiêng
liêng. Hành trình hướng nội để sống mầu nhiệm Phục sinh. Tuy nhiên, tu
sĩ trong độ tuổi này cũng có thể liều mình vấp phải thói quen. Cần có sự
thúc đẩy và các động lực tươi mới, sự hiểu biết và chấp nhận mùa vọng
của tiến trình tuổi già.
Vị tu sĩ tiến dần đến giai đoạn cuối đời, tuổi của
trưởng thành và trọn vẹn. Người thánh hiến nhận diện được hơn bao giờ cả
những gì là thật, căn bản và không thể bị phá hủy trong đời sống. Đây
là giai đoạn vị tha, biết ơn, khôn ngoan và bình an, hướng tới sự hòa
nhập tích cực của sự sống và sự chết nhằm đến đời sống sung mãn và hiệp
thông với Chúa.
Tuy nhiên cũng không thiếu người cảm thấy những hụt
hẫng, nặng lòng vì bất lực, trở nên vô dụng hay bị bỏ quên… cần được
nâng đỡ, chăm sóc giúp nhớ lại và sống tình yêu hăng say của buỗi ban
đầu “một lần đã quảng đại thì cố quảng đại cho đến cùng.” Cần quan tâm
đặc biệt về chế độ chăm lo cho những người hưu dưỡng. Đó cũng là một
cách “làm yên lòng” cho lớp đàn em hăng say phục vụ hết mình.
Các lý do của thường huấn: Người có sáng kiến là
Thiên Chúa, Đấng vẫn tiếp tục kêu gọi trong thời gian và những hoàn cảnh
mới. Cần phải đi theo Chúa Kitô, luôn đặt mình lên đường. Đặc sủng là
một quà tặng phải được đón nhận trong những điều kiện mới mẻ.
Việc thường huấn đòi hỏi:
· Trí thông minh để đọc được các hoàn cảnh, những dấu chỉ thời đại và những dấu chỉ của Chúa Thánh Thần;
· Ý chí dấn thân trong Giáo Hội;
· Tính táo bạo trong sáng kiến;
· Tính kiên trì trong cam kết;
· Lòng khiêm tốn để chấp nhận và vượt qua mâu thuẫn;
· Chức năng biểu tượng cánh chung phù hợp với đời sống thánh hiến;
· Thách đố do tương lai đặt ra cho đức tin công giáo, kể cả tương lai của các Dòng Tu.
Ngoài ra cũng có dữ liệu tâm lý về nhu cầu đào tạo
trong các hoạt động chuyên nghiệp. Đào tạo khởi đầu có mục tiêu chính là
giúp ứng sinh đạt được đủ tự lập để sống những cam kết trong sự tín
trung. Đào tạo thường xuyên có mục tiêu giúp các ứng sinh hội nhập với
lòng trung thành. Sự thống nhất giữa đòi hỏi đào tạo thiêng liêng và đời
sống nội tâm luôn phải được đặt lên địa vị ưu tiên. Đào tạo thường
xuyên phải đề cập tới các vấn đề thiêng liêng, tham dự vào đời sống Giáo
Hội như những tác nhân canh tân giáo thuyết và nghiệp vụ, cũng như hiện
tại hóa đặc sủng của Hội Dòng.
B. NhỮng bẤt cẬp và thái quá trong con ngưỜi và sỨ vỤ đào tẠo.
Chúng ta chân thành cám ơn Chúa, biết ơn các Bề Trên
Giáo Hội và Hội Dòng, cùng các nhà đào tạo đi trước đã dày công đào tạo
và vun đắp cho đời sống tu trì của chúng ta có được ngày hôm nay. Các
ngài đã chưa lấy thế làm đủ mà còn tín nhiệm giao phó cho chúng ta trách
nhiệm đào tạo thế hệ tu sĩ tương lai. Những nỗ lực và kinh nghiệm của
quá khứ là bàn đạp, là đà bẩy và là bệ phóng giúp chúng ta hướng tới
tương lai.
Cho đến nay, người trước kẻ sau, chúng ta đã cố gắng
rất nhiều. Nhưng bên cạnh những ưu điểm và ý hướng tốt, chúng ta cũng
cần thẳng thắn nhìn lại đôi nét cách thức đào tạo mà chúng ta đã và đang
làm có thể không thích hợp với huấn quyền Giáo Hội và khoa sư phạm đồng
hành của thời đại hôm nay, một thời đại đang đổi mới từng ngày. Hy vọng
một khi nhận ra được những bất cập hay thái quá của mình, chúng ta sẽ
tự cải thiện bản thân và cải tiến cách đào tạo của mình, sao cho phù hợp
với đường lối đào tạo của Giáo Hội trong giai đoạn mới (x. Huấn thị
Xuất phát lại từ Chúa Kitô ngày 19.5.2002).
1. Óc nệ cổ
Vì nệ theo truyền thống “xưa bày nay làm”, nhiều khi
chúng ta áp dụng lại cách thức mình đã được đào tạo trước đây mà không
cập nhật, thay đổi và cải tiến theo những chỉ dẫn của Huấn quyền Giáo
Hội, cũng như của khoa sư phạm thời nay. Ngày xưa làm như vậy là tốt,
nhưng ngày nay không còn thích hợp nữa (vd. Làm vỡ cái bát bị phạt đội
cái bát vỡ quỳ giữa lối đi, hay phạt nằm sấp giữa lối đi cho mọi người
bước qua, phạt ngồi ăn cơm muối một mình dưới sàn trong nhà cơm chung,
v.v… làm tổn thương tự ái, tự trọng và nhân phẩm).
2. Điều tra ứng sinh về ứng sinh khác
Để nắm bắt sâu sát tình hình các ứng sinh hầu công
cuộc đào tạo được hiệu quả, một số nhà đào tạo trong chúng ta hay hỏi
các ứng sinh về những ứng sinh khác, lấy lý do “họ ở với nhau, biết nhau
hơn mình” và đơn sơ tin vào các “báo cáo” đó mà không chắt lọc và lắng
nghe cả hai phía, khiến có những trường hợp bị oan uổng, gây nghi ngờ,
cảnh giác, sợ hãi, và có khi thù oán nhau nữa.
3. Bắt ứng sinh nhận xét nhau
Vì muốn giúp đỡ các ứng sinh sửa chữa và hoàn thiện
bản thân, một số nhà đào tạo trong chúng ta yêu cầu mỗi ứng sinh nhận
xét về các ứng sinh khác, nhưng lại làm lộ tên người viết, nhất là khi
nhận xét gây thiệt hại lớn cho người bị nhận xét, khiến có sự buồn lòng
và mâu thuẩn giữa các ứng sinh (có khi giận thù nhau, tẩy chay nhau,
không thèm nhìn mặt nhau). Việc này cũng khiến họ giảm bớt lòng tín
nhiệm và trở nên dè dặt đối với nhà đào tạo, tổn thương bầu khí bình an,
huynh đệ và thăng tiến của cả cộng đoàn. Thật ra, về những điều tiêu
cực, chỉ nên nói đến một tình trạng chung, không nêu đích danh người
nào, để người có trách nhiệm đào tạo nhắc nhở chung, ai có liên hệ bản
thân thì tự mình lo sửa chữa cho nên tốt.
4. Lẫn lộn tòa trong và tòa ngoài
Một số nhà đào tạo trong chúng ta chưa phân biệt đủ
tương tác tòa trong và tòa ngoài, không giữ kín mà lại đem nói ra điều
ứng sinh tín nhiệm tâm sự hay lỗi lầm thầm kín của họ mà mình biết được
khi đồng hành thiêng liêng hay linh hướng, khiến họ bị thiệt hại, đau
khổ rồi từ đó đóng lòng lại vì mất tin tưởng ở nhà đào tạo. Thật ra linh
hướng thuộc bí mật tòa trong, và tương quan linh hướng là tương quan bí
mật khép kín tay ba giữa Chúa Thánh Thần, người thụ hướng và vị linh
hướng (x.GL 220). Bí mật linh hướng có cùng qui chế với ấn tòa giải tội.
5. Tin thư nặc danh
Một số nhà đào tạo trong chúng ta đơn sơ dễ tin thư
nặc danh và áp dụng biện pháp không thích đáng cho người bị tố cáo,
trong khi đáng ra phải vứt bỏ thư nặc danh và tìm trừng trị kẻ hèn nhát
không dám ký tên chứng thực điều mình viết, coi như một thứ gian lận cần
phải loại trừ; đồng thời quan tâm tìm hiểu thực hư thế nào để giúp đỡ
các đương sự sống tốt hơn.
6. Dùng “ăng-ten” theo dõi báo cáo
Nhằm tính hiệu quả trong việc hiểu biết mọi thành
viên, một số nhà đào tạo trong chúng ta dùng một số ứng sinh tin tưởng
(có khi khéo xu nịnh và a dua) làm tay chân theo dõi và báo cáo về các
ứng sinh khác. Việc này gây rối loạn trong cộng đoàn, bao phủ bởi bầu
khí nghi ngờ, sợ sệt, lo âu, thù hằn, mất bình an,… rất tác hại cho công
cuộc đào tạo, và vô tình bị chính những tay sai của mình lèo lái và
điều khiển theo ý họ, theo lối “lừa thầy phản bạn.” Nhà đào tạo không
nên dùng lối đó, mà chính mình sẽ đích thân kiểm soát bằng sự phục vụ
đầy chăm sóc và gần gủi yêu thương, vì cuộc sống mỗi ngày sẽ mạc khải
đúng con người thật: “Đi lâu mới biết đường dài, ở lâu mới biết con ngài
phải chăng.” Nhờ đó sẽ phát hiện kịp thời và có cách thích hợp nhất để
uốn nắn, đào tạo với lòng cảm thông.
7. Lạm dụng Thần quyền
Cũng nhằm tính chắc chắn tuyệt đối, một ít nhà đào
tạo trong chúng ta lạm dụng biện pháp thánh thiêng để điều tra sự việc
như bắt ứng sinh đặt tay trên Phúc Âm mà thề, đứng trước thánh giá hoặc
qùy trước Thánh Thể để nói lên sự thật nào đó. Làm như thế, lắm khi thay
vì đạt được sự thật mong đợi thì lại tạo cớ cho họ phạm tội thề gian.
Chắc Chúa chẳng chứng giám cho lời thề ấy và chẳng bằng lòng việc làm đó
đâu, vì chính Chúa Giêsu dạy đừng thề chi cả, mà con cái Chúa hễ có thì
phải nói có, không thì phải nói không, thêm bớt là do ma qủi.
8. Thương riêng cách lộ liễu
Dù có thể có thiện cảm với người này hơn người kia là
chuyện bình thường, không ai có thể cân đo đong đếm được tình cảm,
nhưng một số nhà đào tạo trong chúng ta biệt đãi, thương riêng cách lộ
liễu một vài ứng sinh, trong khi lại thiếu công bằng với những người
khác như xếp loại, in trí và định kiến, phân biệt đối xử giàu nghèo, tốt
xấu… khiến cộng đoàn bị phân hóa, mất bình an và do đó một số người
vượt không được đành mất ơn gọi.
9. Óc cầu toàn
Cũng vì mong muốn cái gì cũng phải hoàn hảo, một số
nhà đào tạo trong chúng ta quá cầu toàn, đòi hỏi ứng sinh phải thế này
thế nọ vượt quá trình độ nhận thức và tu luyện còn non nớt của họ. Làm
như vậy là đốt giai đoạn và đốt giai đoạn là đốt cháy luôn cả đời người,
vì nhân đức hay tội ác cũng cần có thời gian để hình thành, không ai
một sớm một chiều mà nên thánh hay thành ác quỉ được đâu.
10. Vội kết án và sử dụng biện pháp
Cũng vì bị thúc đẩy bởi ý muốn có những ứng sinh tốt,
một số nhà đào tạo trong chúng ta vội kết luận về lỗi lầm và nghiêm
khắc sử dụng biện pháp ngay, nhưng lại không cho ứng sinh biết lỗi lầm,
giải thích và biện minh, cũng như cơ hội và thời gian để thực hiện sự
hoán cải và đổi mới cần thiết (x. Cvtđ 25, 13-16).[11]
Nếu chỉ tìm giữ lại người hoàn hảo thôi thì chỉ có rất ít, hoặc không
thể có, như thánh Phaolô nói “Không có chi hoàn hảo trên trần gian này
cả.” Loại đi người có lỗi, người đó thất bại đã đành, mà nhà đào tạo và
chính bản chất của công cuộc đào tạo (biến đổi người xấu thành người
tốt) cũng thất bại.
11. Hay nhắc lại lầm lỗi cũ
Vì muốn cho ứng sinh nhớ bài học quá khứ để sửa mình,
một số nhà đào tạo trong chúng ta hay nhắc lại lỗi lầm cũ, trong khi
người có lầm lỗi đã sửa chữa, không còn tái phạm nữa, khiến họ rất khổ
tâm và nhụt chí. Đáng ra quá khứ qua rồi thì thôi, không ai thay đổi
được cái đã xảy ra, cố gắng giúp lật qua trang đời mới, cho người ta vui
vẻ tiến về tương lai: Mỗi vị thánh đều có một quá khứ và mỗi tội nhân đều có một tương lai.
Cha ông chúng ta cũng từng nói rằng đã là người thì không ai mà không
có lỗi gì, nhưng có lỗi thì sửa, và sau khi sửa rồi thì không còn lỗi
nữa (x. Câu chuyện Mẫu tự ST).
12. Làm việc cách độc đoán
Một số nhà đào tạo trong chúng ta quên nguyên lý bổ
trợ, thi hành nhiệm vụ thiếu hài hòa, thiếu phân cấp trách nhiệm rõ
ràng, “dẫm chân lên nhau” dẫn tới tình trạng xung đột quyền bính, tranh
chấp uy tín, ảnh hưởng và quyền hạn với nhau, gây ảnh hưởng xấu tác hại
trên việc đào tạo ứng sinh: “hai con trâu đánh nhau, con ruồi chết oan”![12]
13. Lạm dụng việc đánh giá
Vì ý hướng tốt muốn phát triển trách nhiệm tập thể
cao, một số nhà đào tạo trong chúng ta áp dụng phương thức cả cộng đoàn
bỏ phiếu đánh giá quyết định ơn gọi của nhau. Việc này vừa giảm nhẹ
trách nhiệm của Bề Trên và Hội đồng đào tạo là những người có trách
nhiệm, ơn đoàn sủng và nghiệp vụ để làm việc đó, vừa trao quyền quyết
định quá lớn cho phán đoán của các thành viên không có trách nhiệm, ơn
đoàn sủng và nghiệp vụ đào tạo, chưa đủ trưởng thành để cân nhắc trách
nhiệm lương tâm khi sử dụng phiếu bầu theo cảm tính hay đầu óc phe nhóm,
để cất nhắc người cùng phe và trù dập người của phe đối lập, đang khi ý
kiến hay phiếu bầu đó chỉ nên có giá trị tham khảo để biết tình hình
chung hầu xây dựng phương hướng đào tạo thích hợp mà thôi.
Tóm lại, lắm khi tính khí, quan điểm và cách làm việc
bất cập hay thái quá của một số nhà đào tạo trong chúng ta đã gây nên
những thách đố, thử thách, và đau khổ không vượt qua được đối với một số
ứng sinh làm cho Giáo Hội mất đi một số ơn gọi, mà càng ngày sẽ càng ít
đi, nhất là ở các thành phố lớn và những khu vực mới phát triển.
Ước gì không ai trong chúng ta sẽ phải ân hận vì mình
mà một hay nhiều ơn gọi đích thực đã phải ra đi, hay đã bất cẩn cất
nhắc những người mà Chúa không chọn gọi. Chúng ta cần biết mình để tự
điều chỉnh cho đúng với chức năng đào tạo. Nếu chúng ta không tự mình
làm được việc đó, thì hãy xin Bề trên cho rút lui khỏi trách nhiệm đào
tạo vì lợi ích lớn hơn của các ứng sinh, của Nhà Dòng và của Giáo Hội
Chúa. Cần phải biết tự mình thay đổi trước khi bó buộc phải thay đổi do
thời thế, do người ta không thể chịu nổi và do những thiệt hại mình gây
nên.
C. Tái đỊnh hưỚng đỜi sỐng và sỨ vỤ đào tẠo: Chúa Giêsu, kiỂu mẪu đích thỰc cỦa nhà đào TẠO.[13]
1. Theo gương mẫu của Chúa Giêsu
Cả chúng ta là nhà đào tạo, cả các người thụ huấn của chúng ta đều phải luôn tâm niệm và sống tiến trình ơn gọi năm bước này:
· Chúa gọi (trực tiếp hay gián tiếp).
· Con người mau mắn và quảng đại đáp lại, vì ơn gọi
“không phải là một chọn lựa luân lý hay một lý tưởng cao quý, nhưng là
sự gặp gỡ với một biến cố, một con người; một cuộc gặp gỡ trao ban cho
cuộc sống một chân trời mới, và qua đó là một hướng đi có tính cách
quyết định” (Deus Caritas Est, số 1).
· Cam kết theo chính Chúa Kitô, chứ không phải vì ai
khác, một Chúa Kitô toàn thể với vinh quang và thập giá, nghĩa là khi
vui cũng như khi buồn, lúc thành công cũng như lúc thất bại, khi sướng
cũng như khi khổ, đều luôn trung thành theo chính Chúa Kitô.
· Dần dần biến đổi và điều chỉnh đời sống mình cho phù hợp với đời tu trong đặc sủng và linh đạo Dòng.
· Kiên trì chu toàn bổn phận hằng ngày hôm nay và sứ vụ Dòng sẽ giao phó mai sau, trong bất cứ trạng huống nào của cuộc sống.
Nếu công cuộc đào tạo nhằm làm cho ứng sinh càng ngày
càng nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, thì trước hết nhà đào tạo
sẽ nỗ lực nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, kiểu mẫu đích thực của
nhà đào tạo: suy nghĩ như Chúa Kitô suy nghĩ, nhìn thấy như Chúa Kitô
nhìn thấy, hành động như Chúa Kitô hành động, cầu nguyện như Chúa Kitô
cầu nguyện, hướng dẫn như Chúa Kitô hướng dẫn và yêu thương như Chúa
Kitô yêu thương, nhất là nhà đào tạo ra sức giúp ứng sinh trực tiếp cam
kết mật thiết theo chính Chúa Giêsu, để một khi “thần tượng nhà đào tạo”
có sụp đổ hay hoàn cảnh cuộc sống và sứ vụ có thế nào đi nữa thì họ vẫn
bền vững với lý tưởng ơn gọi đã lựa chọn.
1. Nhân hậu như Chúa Giêsu
Nhà đào tạo quyết tâm theo gương mẫu hoàn hảo là Chúa
Giêsu, Đấng đã rửa chân cho các môn đệ, yêu thương và đối xử với họ như
bạn hữu; sống và đồng hành với họ trên hành trình trưởng thành đức tin
và thiêng liêng. Bằng yêu thương nhẫn nại, tận tâm săn sóc, Ngài biết rõ
họ từng người một, tính tình, phẩm chất, những điểm mạnh điểm yếu của
họ. Ngài nhân hậu và bao dung trước yếu đuối, khuyết điểm, tham vọng
trần thế, cứng đầu cứng cổ, yếu lòng tin và chậm hiểu mầu nhiệm Nước
Trời của họ, và Ngài kiên nhẫn chờ đợi sự giáo dục bổ túc của Chúa Thánh
Thần cho họ.
2. Cầu nguyện cho ứng sinh
Trước khi chọn và huấn luyện 12 tông đồ để thiết lập
Giáo Hội và sai đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã cầu nguyện suốt đêm
với Chúa Cha cho họ, và trao họ cho Cha trên trời gìn giữ bảo vệ: “Bây
giờ con bỏ thế gian mà về cùng Cha, nhưng họ còn phải ở trong thế gian,
con không xin Cha cất họ ra khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ cho
khỏi sự dữ.” Nhà đào tạo luôn cầu nguyện cho các ứng sinh được giao phó
cho mình đào tạo, vì chỉ có Chúa biết rõ từng con người, và chỉ có Chúa
mới thay đổi được một con người, đồng thời làm cho người đó được mãi bền
vững trung kiên: “Nếu không có Thầy, các con chẳng làm gì được.”
3. Nêu gương sáng
Chúa Giêsu đã nêu gương phục vụ rửa chân cho các tông
đồ: “Thầy đã làm gương cho các con…” Gương sáng của nhà đào tạo rất
hiệu quả, như Ca dao nói “Lời nói lung lay gương bày lôi kéo.” Chính vì thế, ĐGH Phaolô VI nói “Thế giới ngày nay tin vào chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có tin vào thầy dạy là bởi vì thầy dạy đó là chứng nhân.”
Nhà đào tạo không nhất thiết phải hoàn hảo hay là
thánh, nhưng cố gắng là chứng tá một đời sống tu trì đích thực, từ những
giới hạn rất người của mình. Các người trẻ sẽ nhạy cảm đối với gương
sáng của một nhà đào tạo khiêm tốn và chân thực, theo đúng đặc sủng và
linh đạo riêng của Dòng mình, nhờ đó họ thấy nỗ lực trở thành tu sĩ
thánh thiện của họ trong Dòng là điều hoàn toàn có thể. Đó cũng là lý do
ngày nay người ta trình bày Chúa Kitô “từ bên dưới”, từ một người
Nazareth, con bà Maria và bác thợ mộc Giuse, gần gũi với mọi người, như
mọi người, để mọi người có thể cùng Ngài vươn lên với Thiên Chúa.
4. Cùng ứng sinh tìm ý Chúa
Chúa Giêsu suốt đời tìm thực hiện ý Chúa Cha, nhưng cũng không thoát khỏi những lúc trăn trở, giằng co với ý riêng mình (“Lạy Cha, nếu có thể được, xin cất chén đắng này xa con…”).
Nhà đào tạo khiêm tốn biết chấp nhận những nghịch cảnh và trái ý, lại
không tự phụ cả dám đồng hóa ý mình với ý Chúa và áp đặt lên ứng sinh.
Trái lại, nhà đào tạo dẫn dắt ứng sinh và cùng với ứng sinh cầu nguyện
tìm thánh ý Chúa để thực thi, bằng cách nỗ lực khám phá điều Chúa Thánh
Thần muốn nói với ứng sinh qua mình, và cũng khiêm tốn tìm biết điều
Chúa Thánh Thần muốn nhắc nhở mình qua ứng sinh.
5. Không nản lòng vì thất bại
Chúa Giêsu cũng có những nỗi buồn thất bại (“Linh hồn Thầy buồn có thể chết được… Một người trong các con sẽ phản nộp Thầy…
”). Nhà đào tạo cũng biết khiêm tốn chấp nhận thất bại, nghịch cảnh và
trái ý, không phải lúc nào ứng sinh cũng được như ý mình muốn cả đâu…
Trái lại, nhà đào tạo luôn tin tưởng mãnh liệt rằng đào tạo là thay thế
và biến đổi, thay thế cái xấu bằng cái tốt, biến đổi người chưa tốt
thành người tốt và biến đổi người tốt thành người tốt hơn, trong tiến
trình thành nhân rồi mới thành thánh nhân.
Trong chiều hướng ấy, nhà đào tạo luôn quý chuộng và
ra sức gìn giữ các ơn gọi Chúa gửi đến cho mình, như người chăn chiên
lành để lại 99 con chiên trong đàn đi tìm con chiên lạc: Những kẻ Cha đã ban cho con, con không để một ai phải hư mất, trừ ra kẻ phải hư hỏng để Lời Kinh Thánh được nên trọn.
6. Mở rộng con đường trở về
Chúa Giêsu thừa nhận tội của Madalêna, nhưng Ngài
không đóng chặt bà lại ở tội quá khứ, mà đã mở rộng con đường biến đổi
tương lai cho bà trở thành vị thánh nữ loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Nhà
đào tạo nhìn xa tin tưởng và hy vọng vào sự biến đổi tốt đẹp trong tương
lai của ứng sinh, nhờ ơn Chúa: “mỗi vị thánh đều có một quá khứ và mỗi tội nhân đều có một tương lai.” Thấu cảm, độ lượng và tha thứ, gạn đục khơi trong theo gương lòng nhân hậu của Chúa: “Cây sậy đã rạp xuống Ngài không bẻ gãy, ngọn đèn còn leo lét khói Ngài không dập tắt.”
Nhà đào tạo nhân từ không quên dụ ngôn người chăn
chiên lành đi tìm con chiên lạc vác trên vai đưa về mở tiệc ăn mừng.
Người nào còn cứu được, hãy cố cứu: người được tha nhiều sẽ cảm nhận
hạnh phúc và sẽ cố gắng bền vững (Hạnh phúc kẻ được tha nhiều, sẽ lo yêu
mến trăm chiều trung kiên). Phêrô đã chối Thầy vì yếu đuối, dù Chúa đã
báo trước. Ngài nhìn lại để thấy nước mắt ăn năn của ông và vẫn tiếp tục
thương tín nhiệm trao cho nhiệm vụ chăn dắt toàn thể Giáo Hội.
7. Không nhắc lại lầm lỗi quá khứ
Trong dụ ngôn đứa con hoang đàng, người cha khoan hậu không màng đến lời xin lỗi của đứa con trở về, một chỉ vui mừng “vì con ta đã mất nay tìm thấy, đã chết nay sống lại.”
Nhà đào tạo bao dung không nhắc lại lầm lỗi quá khứ của ứng sinh và
hành xử căn cứ vào lầm lỗi cũ; mọi sự đã đổi mới, cố gắng giúp họ lật
qua trang đời mới: Chiếc đồng hồ bị hư, sau khi sửa rồi không ai còn gọi
nó là đồng hồ hư nữa; và nếu ai còn coi đó là đồng hồ hư là không đúng.
Vì thế, cha ông chúng ta đã nói: “Nhân thùy vô quá, hữu quá tắc cải,
thị vị vô quá.”
8.Kín đáo cẩn mật về lầm lỗi cá nhân của ứng sinh
Dù Giuđa toan tính phản nộp Ngài với giá chỉ bằng một
phần mười bình dầu thơm người phụ nữ xức chân Chúa, Chúa Giêsu vẫn luôn
kín đáo nhắc khéo Giuđa nhiều lần, cho ông cơ hội sửa mình (“một người trong các con sẽ nộp thầy; việc gì con tính làm thì hãy làm mau đi; Giuđa, con dùng cái hôn để nộp Con Người sao?…”).
Nhà đào tạo khéo léo sẽ kín đáo, không đem lỗi lầm hay tâm sự của ứng
sinh và của người khác nói ra công khai với mọi người, gây thiệt hại và
làm mất lòng tín nhiệm của đương sự cũng như của những người nghe. Người
ta sẽ đóng lòng lại và không ai dám nói gì với mình nữa.
9. Gợi ý thúc đẩy sáng kiến và quyết tâm
Nhiều lần trong Phúc Âm, Chúa Giêsu dùng lối hỏi gợi ý để dạy dỗ (“Các con nghĩ sao?… Ông Simong, tôi có điều này muốn nói với ông…”). Nhà
đào tạo dày kinh nghiệm dùng phương pháp này để giúp ứng sinh nhận ra
thực trạng của mình để tự đào tạo, tự đưa ra sáng kiến và quyết tâm chọn
lựa, như thế mới bền. Nhờ Chúa hỏi mà Phêrô tuyên xưng đức tin và Chúa
có cơ hội để dạy điều quan trọng hơn được chính Chúa Cha mạc khải cho.
Nhà đào tạo khéo léo triệt để vận dụng phương pháp này, trong tinh thần
đối thoại, kể cả trong “vâng lời đối thoại” liên quan đến quyền bính mà
Vatican II đề xướng. Cùng nhắm đến một mục tiêu, nhưng gợi ý thì hiệu
quả hơn là truyền lệnh và bắt buộc: “Ông nói đúng, hãy đi và làm như vậy.”
10. Thương người lầm lỗi
Chúa Giêsu dạy chúng ta giới răn mới đặc biệt của Ngài: “Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con”.
Chúng ta thế nào thì Chúa vẫn yêu thương chúng ta như thế ấy, và Ngài
sẽ yêu thương chúng ta cho đến cùng. Nhà đào tạo tốt luôn biểu lộ lòng
yêu thương; không có lòng yêu thương độ lượng không thể đào tạo được:
Loại bỏ lỗi lầm nhưng thương yêu người lầm lỗi và tạo cơ hội cho họ hoán
cải nên tốt. Chính tình yêu thương ấy làm cho cộng đoàn triển nở hạnh
phúc, và nhờ đó mà phát triển thêm nhiều ơn gọi mới: “Xem kìa, họ yêu thương nhau là dường nào!”
11. Không thử thách quá sức ứng sinh
Thánh Phaolô căn dặn Timôthê về việc tuyển chọn các trợ tá: “Họ phải được thử thách trước đã, rồi mới được thi hành chức vụ…”
(1 Tm 3,10). Thử thách là cần thiết và có nhiều thứ, nhưng nhà đào tạo
nhân từ không đưa ra những thử thách không cần thiết, hay vượt quá sức
ứng sinh, nhất là không bao giờ “gài bẫy” cho họ mắc phải để có cớ trừng
trị. Chúa không để thử thách nào vượt quá sức con người: Sau khi loan
báo về cuộc khổ nạn, Phêrô đã ngăn cản và bị Chúa Giêsu quở là Satan vì
ông chỉ biết việc của con người, mà không biết việc của Thiên Chúa.
Nhưng tiếp đó, Ngài đã biến hình trên núi trước mắt các tông đồ thân tín
hầu nâng đỡ đức tin yếu kém của các ông trước thử thách thập giá. Và
khi Phêrô yếu đuối sa ngã chối Ngài, Chúa Giêsu đã nhìn lại với ánh mắt
nhân từ thương yêu khiến ông đủ sức chỗi dậy.
12. Cho biết lỗi, lắng nghe lời giải thích biện hộ
Cvtđ 25,16 dạy để cho bị cáo được đối chất với nguyên cáo, và được cơ hội biện hộ về lời tố cáo.
Ở đời ai mà chẳng có lúc lầm lỗi. Tội thì tha, lỗi thì sửa. Nhà đào tạo
nhân từ và nhẫn nại cho ứng sinh biết lỗi, nghe họ giải thích, cho họ
cơ hội và thời gian để sửa chữa, nhất là khi lỗi lầm còn kín đáo; khi họ
không sửa được và lỗi lầm trở nên bản chất nghiêm trọng rồi hẵng hay.
Và cho họ ra về cũng với sự tôn trọng, (chẳng hạn như “vì không thích
hợp với đời tu”), chứ không rêu rao là họ bị loại, bị đuổi vì lầm nọ lỗi
kia làm tổn thương nhân phẩm và danh dự của họ, khiến họ ra đi mà hận
trong lòng chẳng bao giờ quay trở lại nữa. Làm gì thì cũng nên để lại
một chút tình, để sau còn nhìn sửa mặt nhau.
Nhà đào tạo tâm huyết nhìn về tương lai nỗ lực khắc
phục sự mất mát đó. Các cựu ứng sinh nầy cũng là kho tàng của Nhà Dòng,
họ sẽ cộng tác vào công cuộc của Hội Dòng cách này hay cách khác. Hãy
tạo cơ hội cho họ đền đáp những ân huệ đã lãnh nhận bằng cách góp phần
cách tích cực và hữu hiệu vào đời sống và sứ mệnh của Hội Dòng nói
riêng, và của Giáo Hội nói chung, về nhân lực cũng như vật lực. Các Hội
Dòng thiết lập được Hội cựu tu sinh hiểu rõ sức mạnh và lợi ích của lòng
tôn trọng đó.
13. Hiện diện mang lại bình an và an toàn
Trong những lúc các tông đồ bị dao động và sợ hãi
trên biển cả trong đêm tối, bán tín bán nghi tưởng nhìn thấy ma, Chúa
Giêsu lập tức có mặt: “Các con đừng sợ, chính Thầy đây! Bình an cho các con!” Nhà
đào tạo lịch lãm tỏ ra có khả năng kiến tạo bầu khí bình an và an toàn,
đồng thời đem lại sự bình an cho các ứng sinh, nhất là trong những lúc
họ gặp thử thách, bất hòa, nghi nan, do dự, tiến thối lưỡng nan trước
con đường lý tưởng cao cả nhưng nhiều yêu sách một bên, và bên kia là
sức con người dòn mỏng yếu đuối đối diện với những dao động, chiến đấu
cũng như những khó khăn trái ý, đau khổ, và nghịch cảnh đa dạng khác.
14. Nhẫn nại chấp nhận những giới hạn
Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Thầy còn nhiều điều cần nói với các con, nhưng bây giờ các con thể hiểu được, chờ đến khi Thần Chân Lý đến…” (x. Ga 16,12-13). Thánh Phaolô cũng đã viết: “Tôi
đã cho anh em uống sữa, chứ không phải đồ ăn cứng, bởi khi ấy anh em
chưa sao chịu nổi, mà cả bây giờ anh em cũng chưa chịu nổi đâu!” (1
Cr 3,2). Nhà đào tạo có sư phạm và tâm lý sẽ nhẫn nại, không đòi hỏi
những tiêu chuẩn đánh giá quá cao, so với trình độ tuổi tác, kiến thức,
sự trưởng thành nhân bản và thiêng liêng của ứng sinh: Không đốt giai
đoạn, vì đốt giai đoạn là đốt cháy một đời người.
Nhà đào tạo từng trải kinh nghiệm và nhân hậu luôn
nhớ hai sức mạnh đối nghịch mà thánh Phaolô nói đến khiến con người
không làm được điều tốt mình muốn làm, nhưng lại làm điều xấu mình không
muốn làm.[14]
Chấp nhận những giới hạn yếu đuối bất toàn và bất lực
của mình khiến ta ngày càng khiêm tốn hơn. Chấp nhận những giới hạn yếu
đuối bất toàn bất lực của người khác khiến ta ngày càng cảm thông, độ
lượng, tha thứ và bỏ qua lầm lỗi thiếu sót của người hơn. Nhà đào tạo
cảm thông áp dụng điều ấy vào tương quan của mình với ứng sinh sẽ tìm
thấy một con đường rộng mở và mở rộng một con đường cho ứng sinh tiến
bước.
15. Tiến trình chỉ bảo huynh đệ và lòng cảm thông
Nhà đào tạo khéo léo dung hòa được lòng cảm thông với
lầm lỗi của ứng sinh luôn nhớ tiến trình chỉ bảo huynh đệ mà Chúa Giêsu
dạy trong Phúc âm: “Nếu anh em ngươi trót phạm tội, thì hãy đi sửa
lỗi nó, riêng ngươi với nó thôi. Nếu nó nghe ngươi, ngươi đã lợi được
người anh em. Nếu nó không nghe ngươi, ngươi hãy kèm theo một/hai người
nữa, để tất cả công việc được đoán định do miệng hai/ba nhân chứng. Nếu
nó không màng nghe họ, hãy thưa với cộng đoàn…” (x. Mt.18, 15-17).
Một người có thể phạm lỗi cố tình hay vô ý, biết rõ
hay không biết gì. Nhà đào tạo có thể có hai thái độ hành xử: – hoặc là
phòng bệnh, – hoặc là chữa bệnh. Nhà đào tạo cảm thông phòng bệnh đi
bước trước, ngăn ngừa những ảnh hưởng tác hại từ bên ngoài, hay dập tắt
ngay từ trứng nước cái mầm từ bên trong, để lỗi lầm không thể xảy ra.
Như người làm nông năng thăm vườn cây, khi phát hiện cây bị sâu bệnh
liền phun thuốc diệt sâu bệnh hại cây, nhà đào tạo cảm thông đón trước
và khuyến cáo ngay lỗi lầm có thể, ngăn ngừa các ảnh hưởng và nguyên
nhân từ bên ngoài, hay những yếu đuối từ bên trong thân phận con người
để lỗi lầm không xảy ra.
Nhà đào tạo cảm thông tin tưởng vào sự biến đổi tốt
đẹp trong tương lai, cho người phạm lỗi biết lỗi, lắng nghe lời giải
thích biện hộ, kết luận xác định đúng lỗi lầm, gợi ý đương sự tự ra hình
phạt, cho đương sự cơ hội và thời gian sửa chữa, và nhẫn nại giúp đương
sự tập nhân đức ngược lại, hy vọng vào kết quả sẽ có trong tương lai: “xin
cứ để nó lại năm nay nữa, tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho
nó, may ra sang năm nó có trái chăng; nếu không thì ông hẳng chặt” (x. Lc 13, 6-9)
Nhà đào tạo thiếu cảm thông mới khám phá thấy lỗi lầm
đã có biện pháp ngay, vì óc cầu toàn đòi hỏi và đốt giai đoạn, coi ứng
sinh như đã đạt tới trình độ cao của người đã tu tập thành đạt. Hoặc khá
hơn, nhà đào tạo thiếu cảm thông sẽ chờ đợi lỗi lầm trở nên rõ ràng để
có biện pháp, nhất là khi người có lỗi che đậy, giấu giếm vì một lý do
nào đó.
Do thái độ ngoan cố, ngang bướng và thiếu tinh thần
phục thiện của ứng sinh lầm lỗi, nhà đào tạo thiếu cảm thông thường âm
thầm theo dõi hoặc tệ hại hơn là cho người theo dõi, có khi còn “gài
bẩy” cho mắc phải để đương sự không thể cãi lại, chữa mình hay chối cãi
được nữa. Thật ra nhà đào tạo nên tìm một lối khác, chứ loại chiến thắng
này không đem lại lợi ích cho ai cả. Người chiến bại chẳng còn gì, mà
kẻ chiến thắng cũng chỉ chiến thắng trên một đỗ vỡ tan nát. Người thiệt
hại nhất là Hội Dòng, Giáo Hội và chính Chúa; trong khi kẻ hưởng lợi
nhất là Satan và những kẻ nghịch thù cùng Hội Thánh.
Nhà đào tạo khéo léo sử dụng kỹ thuật chỉ bảo huynh
đệ “feed-back”, áp dụng vào đào tạo và tự đào tạo, cả về chiều dọc lẫn
chiều ngang: Người và ta, trên và dưới cảm thông nhau, gặp được nhau,
hiểu được nhau trong mọi quan điểm thì mọi việc đều được giải quyết dễ
dàng và tốt đẹp. Tin tưởng vào sự biến đổi tốt đẹp trong tương lai, với
ơn Chúa và sự cố gắng của mỗi người.
16. Cảm thông với Giáo Hội
Cảm thông cùng với Giáo Hội (Sentire cum Ecclesia) là công thức định hướng rất đẹp của Vatican II. Nhà đào tạo cảm thông với các lãnh đạo Dòng và sứ mệnh của Dòng trong nỗ lực chuẩn bị nhân sự tương lai cho Dòng; đồng thời cũng cảm thông với các người thụ huấn của mình. Có thể nói nhà đào tạo là cầu nối hiện tại với tương lai, trên và dưới, làm vừa lòng trên nhưng cũng làm vui lòng dưới thì công cuộc đào tạo của mình mới đạt được kết quả. Trong chiều hướng này, chính nhà đào tạo cũng quan tâm chuẩn bị người tiếp tục và thay thế mình trong công trình đào tạo của Dòng theo tiến trình:
· Dạy cho người ta làm.
· Giúp người ta làm.
· Để người ta làm.
· Mình rút lui vì đã hoàn thành sứ vụ.
17. Khen và thúc đẩy
Đọc Lc 10,25-37, chúng ta gặp thấy cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và một thầy thông luật về giới răn trọng nhất mến Chúa yêu người và người Samaritanô tốt lành. Chúa Giêsu đã khen ông và thúc đẩy ông thực hành để được sống đời đời: "Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống"… "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy" (Lc 10,28.37). Nhà đào tạo lão luyện hạn chế lời chê và rộng rãi lời khen để thúc đẩy ứng sinh cố gắng sửa tật xấu và luyện nhân đức. Lời chê làm suy yếu, nhưng lời khen thêm nghị lực và phấn chấn tinh thần.
Tóm lại, nhà đào tạo tốt phải theo sát mẫu gương Chúa Giêsu, thực hiện cho thụ huấn sinh của mình như Chúa Giêsu đã làm:
- suy nghĩ với đầu óc của Chúa Giêsu,
- nhìn sự việc với con mắt Chúa Giêsu,
- hành động với sức mạnh của Chúa Giêsu,
- phán đoán với sự khôn ngoan của Chúa Giêsu,
- sử dụng biện pháp với lòng nhân hậu của Chúa Giêsu,
- yêu thương với con tim của Chúa Giêsu,
- đào tạo với sư phạm của Chúa Giêsu…
Nếu nhà đào tạo làm được như vậy, công cuộc đào tạo
sẽ thành công mỹ mãn, tương lai của Hội Dòng, của Giáo Hội và Nhân Loại
sẽ tốt đẹp hơn.
2. Định Hướng Phương Cách Đào Tạo
Con người cần một môi trường để hình thành và tồn tại
trong cái “trở thành” của mình. Môi trường đào tạo tu sĩ là một cộng
đồng liên nhân vị, mà mỗi người đều sống cùng, sống với và sống cho
người khác. Sau đây, chúng ta sẽ nói đến bối cảnh trong đó các nhà đào
tạo tự đào tạo và đào tạo ứng sinh, để trở thành nhà đào tạo mỗi ngày
một tốt hơn.
a. Cộng đoàn giáo dục
Các nhà đào tạo và những người đang được đào tạo,
trong mối tương quan liên nhân vị, làm nên một cộng đoàn có tính cách
đào tạo và có khả năng đào tạo. Cộng đoàn giáo dục phải luôn cho thấy
một hướng đi, một cái nhìn rõ ràng thế nào là đời tu, qua việc thực hành
các lời khuyên Phúc Âm, diễn tả ra nơi Hiến pháp, Nội qui và Luật sống
chiếu theo đặc sủng và linh đạo của vị sáng lập mà Dòng đã kế thừa, bổ
sung và kiện toàn qua dòng thời gian do các nhu cầu tông đồ đề xướng;
cũng như sẽ bổ sung và thích nghi sao cho phù hợp với nhu cầu tông đồ
của thời đại mới, mà vẫn giữ căn tính của Dòng mình (x. Những Bước Chân Gieo Yêu Thương, đúc kết của Học viên Liên tu sĩ Bùi Chu niên khóa 2008-2009 về đặc sủng và linh đạo Dòng).
Ứng sinh có quyền đòi hỏi các Bề trên và nhà đào tạo
khai tâm cho họ đặc sủng và linh đạo Dòng ngay từ những bước tập tễnh
đầu tiên vào Dòng, đồng thời cho họ chứng tá sống động trong thực tế về
đặc sủng và linh đạo của Dòng, là những yếu tố làm cho người tu sĩ càng
ngày càng gắn bó với Dòng mình hơn, để họ tự trắc nghiệm, cũng như nhà
đào tạo phải xem họ có thích hợp với đặc sủng và linh đạo Dòng không,
nếu không thì nên thay đổi sớm sẽ tốt hơn cho cả đôi bên. Và đến lượt
họ, các tu sĩ trẻ sẽ phải là chứng tá về đặc sủng và linh đạo Dòng để
củng cố ơn gọi Dòng cho các thế hệ tiếp theo sau họ: “Dập dìu kẻ trước
người sau, sức riêng một ít góp vào lợi chung.”
Cộng đoàn giáo dục loại trừ sự sợ hãi, kiến tạo bầu
khí bình an và an toàn, kiên định và bền vững, thích hợp cho việc phát
triển toàn diện nhân bản và thiêng liêng, qua việc chỉ bảo lẫn nhau,
chấp nhận nhau, ý thức về lợi ích và niềm vui chung trong việc tìm kiếm
và phục vụ Chúa.
Cộng đoàn giáo dục thể hiện trách nhiệm tập thể trong
việc đào tạo, trong đó ứng sinh được mời đảm nhận trách nhiệm hàng đầu
tự đào tạo chính họ, đồng thời cộng tác vào việc đào tạo các bạn đồng
môn.
Cộng đoàn giáo dục này cũng phải mở ra với các cơ cấu
khác của Giáo Hội Địa phương, để đào tạo ý thức tông đồ, giúp ứng sinh
khám phá ra tính cấp bách của việc loan báo Tin Mừng, ý nghĩa và những
đòi hỏi của cuộc đời trọn vẹn hiến dâng phục vụ Nước Chúa.
b. Đội ngũ đào tạo hiệp nhất
Trách nhiệm tập thể của các nhà đào tạo đóng vai trò
tiên quyết trong việc đào tạo, nên phải có một đội ngũ hiệp nhất các nhà
đào tạo, sẵn sàng cộng tác huynh đệ, đồng trách nhiệm, chia sẻ đời sống
và đối thoại chân thành. Chính sự hiệp nhất của các nhà đào tạo với
Chúa Kitô là nền tảng, khuôn mẫu và keo sơn cho sự hiệp nhất tinh thần
và hành động của họ với nhau.
Mỗi nhà đào tạo chỉ đóng một phần vai trò trong việc
đào tạo. Chính công việc của cộng đoàn giáo dục và đội ngũ hợp nhất các
nhà đào tạo mới có tính cách đào tạo toàn diện. Các nhà đào tạo tìm được
sự nâng đỡ không thể thiếu từ anh chị em đồng nghiệp. Không có tình
liên đới này, sứ vụ sẽ trở nên nặng nề và mất đi hiệu năng. Tính tập
đoàn (collégialité) vừa nâng đỡ trách nhiệm tập thể của các nhà đào tạo
vừa tránh cho các ứng sinh khỏi những thiệt hại do quyết định khắt khe
và độc đoán của một số cá nhân, vì bên cạnh ông ác vẫn còn có ông thiện
(x. Câu chuyện bỏ phiếu 2/10), nhờ có sự bàn bạc, cân nhắc và lấy biểu
quyết bằng phiếu kín của mọi thành viên Hội đồng, chứ không để cho ý
kiến cá nhân mạnh thế nào áp đặt.
Tính tập đoàn và đồng trách nhiệm của các nhà đào tạo
còn là gương mẫu và động lực đào tạo cho các ứng sinh có ý thức cộng
đồng, biết quan tâm đến người khác, biết hợp tác với người khác làm việc
chung, biết nhượng bộ ý kiến chủ quan của mình cho ý kiến khách quan
của tập thể vì lợi ích chung.
c. Nhà đào tạo
Các ứng sinh sẽ bắt chước hạnh kiểm và noi theo lời
dạy của các nhà đào tạo: họ chịu ảnh hưởng những gì họ đã thấy và đã
nghe từ các nhà đào tạo.
Nhà đào tạo tốt cần hai điều kiện rất quan trọng này:
một là lòng khiêm nhường ý thức giới hạn và yếu đuối của mình để tin
tưởng vào Chúa; hai là tinh thần hài hước rộng lượng ý thức rằng ứng
sinh không hoàn hảo như mình mong muốn, nhưng là những con người bất
toàn để mình đào tạo.
Nhà đào tạo trung thực nhận biết các điểm mạnh điểm
yếu trong cách xử sự, các thái độ, các tình cảm, các động lực và ngộ
nhận cơ bản của mình. Chính nhờ kinh nghiệm bản thân mà nhà đào tạo giúp
ứng sinh cách hữu hiệu. Nhà đào tạo phải phát huy nghiệp vụ giảng dạy
bằng cách cập nhật hóa kiến thức theo kịp với những nhu cầu hiện tại của
Giáo Hội giữa một thế giới đang đổi thay nhanh chóng, đồng thời cải
tiến phương pháp giảng dạy trong sự trung thành với Mạc khải và Huấn
quyền.
Phẩm chất của nhà đào tạo hết sức quan trọng: Người
ta cần giáo sư giỏi để dạy học, nhưng lại cần hơn nhà đào tạo tốt để
huấn luyện con người toàn diện. Họ phải là những con người của đời sống
cầu nguyện sâu xa, khiêm tốn và khôn ngoan. Họ cần “được tuyển chọn giữa
những người ưu tú, được chuẩn bị kỹ lưỡng bởi một nền giáo lý vững
chắc, một kinh nghiệm mục vụ thích hợp, được huấn luyện đặc biệt về
thiêng liêng và sư phạm.”[15]
Nhà đào tạo phải không ngừng tự đào tạo mình bằng chính công cuộc đào
tạo của mình: càng sống và làm việc đào tạo, càng trở nên nhà đào tạo
hơn, như chúng ta thường nghe nói “người ta trở thành thợ rèn bằng cách
rèn”
d. Chính ứng sinh và việc tự đào tạo
Việc đào tạo sẽ mất đi hiệu quả của nó, nếu nó không
bao hàm sự tham gia cá nhân của ứng sinh, nghĩa là sự tự đào tạo của ứng
sinh. Chính vì thế, Đức Gioan Phaolo II đã nhắc nhở rằng chính ứng sinh
là nhân tố cần thiết và không thể thay thế được trong việc đào tạo của
chính mình: “Tự đào tạo là tối quan trọng trong tất cả mọi công cuộc đào
tạo. Không ai có thể thay thế ứng sinh trong sự tự do có trách nhiệm mà
ứng sinh có được như là những nhân vị độc đáo” (x. JP. II, Pastores
Dabo Vobis 69).
Tự đào tạo là yếu tố quyết định đưa tới thành công
trong việc đào tạo, nhất là đào tạo thiêng liêng. Mặc dù Chúa Thánh Thần
là tác nhân tuyệt hảo trong việc đào tạo này, ứng sinh phải hoàn toàn
tự do đón nhận tác động định hình Ngài. Cũng thế, hoạt động của các nhà
đào tạo khác nhau sẽ chỉ trở nên thực sự và đầy đủ hiệu quả, nếu ứng
sinh cống hiến sự cộng tác chân thành và xác tín của mình vào công cuộc
đào tạo này.
Quan niệm Á Châu “không thầy đố mầy làm nên” được
hiểu trong một tầm cao mới là thầy phải kích thích cho được tính chủ
động của trò: nếu không có sự thực hành của trò thì những giáo huấn và
lý thuyết của thầy chỉ là những lời hoa mỹ thôi. Điều rất quan trọng là
việc đào tạo phải cung cấp cho ứng sinh cách suy nghĩ mới, cách sống
mới, cách hành động mới, cách yêu thương mới và cách làm chứng mới cho
Tin Mừng. Nhưng điều còn quan trọng hơn nữa là việc tự đào tạo này phải
đem sự hiểu biết hữu ích đó ra thực hiện. Sự cộng tác chặt chẽ giữa hai
phía, đào tạo và tự đào tạo, là điều kiện tiên quyết cho mọi thành công,
và dĩ nhiên với ơn Chúa nữa. Vì thế, Pastores Dabo Vobis đòi hỏi: “Các
ứng sinh… phải hết sức ý thức chuẩn bị chính mình để đón nhận ơn Chúa và
đem ra thực hành, biết rằng Giáo Hội và thế giới đang rất cần đến họ”
(JP. II, Pastores Dabo Vobis số 82).
e. Nhóm bạn đồng môn
Ngày xưa người ta hay nói “học thầy không tầy học
bạn.” Ngày nay người ta nhấn mạnh nhiều đến tính năng động nhóm. Nhà đào
tạo phân chia ứng sinh thành nhiều nhóm nhỏ, tự bầu lên người trách
nhiệm nhóm, nhằm thăng tiến tinh thần tập đoàn (collégialité) và đời
sống cộng đoàn. Phải nhắm đến cả hai, các cá nhân và nhóm, như một toàn
thể, ngõ hầu bảo đảm được sự trưởng thành của cả hai, cá nhân và tập
thể.
Đời sống trong nhóm gồm có những lúc cầu nguyện, gặp
gỡ hàng tuần về một đề tài thuộc đời sống thiêng liêng (chia sẻ đức
tin), những giờ giải trí, các hoạt động mục vụ, trách nhiệm phụng vụ và
các dịch vụ hàng ngày. Sự tương tác trong những nhóm như thế giúp phát
triển sự tin tưởng lẫn nhau, truyền thông và chia sẻ, góp phần xây dựng
một cộng đoàn đúng nghĩa.
Nhóm nhỏ này có thể trở thành một nhóm bạn thân có thể dễ dàng thực hành việc “chỉ bảo huynh đệ.”[16]
Thường người ta không dám sửa lỗi người khác, phần vì con người ai cũng
yếu đuối và bất toàn, phần vì tế nhị hay sợ phản ứng tiêu cực từ phía
người kia, hay ít nhất để tránh hiểu lầm nhau, mâu thuẫn và xung đột có
thể có. Vậy, cách tốt hơn và dễ hơn là mọi người đồng ý thỏa thuận với
nhau rằng nếu một người trong nhóm thấy người khác có lỗi, thì người này
sẽ nói với người đó về lỗi ấy.
Trong bối cảnh cuộc gặp gỡ hàng tuần chia sẻ Phúc Âm
và kiểm điểm đời sống, mỗi người có thể góp ý phản hồi cho người khác và
giúp nhau tiến bộ hơn trong tiến trình được đào tạo và tự đào tạo, hy
vọng tiến tới tình huynh đệ cộng đoàn đích thực (x. Tv 133, 1). Tiến
trình này đòi hỏi phải có ý ngay lành, sự sẵn sàng để thay đổi, lòng can
đảm, tình bác ái, và nhất là ơn Chúa.
Trong cấp độ đời sống nhóm này, mỗi người phải học
biết chăm chú lắng nghe và cho người khác ý kiến phản hồi cách thích
hợp. Mỗi người cũng phải học biết chấp nhận chính mình và chấp nhận
người khác: càng biết nhìn nhận lỗi lầm, thiếu sót, giới hạn, yếu đuối
và bất lực của mình, chúng ta càng trở nên khiêm tốn hơn; và khi càng
biết chấp nhận những bất lợi đó của người khác, chúng ta càng trở nên độ
lượng và cảm thông hơn với họ.
Đời sống nhóm giúp mỗi thành viên khám phá và phát
triển những tài năng, tài năng tự nhiên và tài năng đạt được từ kinh
nghiệm cuộc sống. Mỗi người có trách nhiệm tìm biết và phát triển những
ân huệ ấy. Chẳng ai sở hữu được mọi ân huệ của Thiên Chúa, nhưng những
ân huệ cần thiết cho sứ mạng luôn hiện diện trong cộng đoàn, và cộng
đoàn là nơi cần thiết để nhận ra các ân huệ của mỗi thành viên (x. 1Cr
12-14).
Tuy nhiên, nhiều khi người ta phải chịu đựng những
khó khăn và xung đột do ghen tị hay thèm muốn ân huệ của người khác (x.
Gal 5,26). Nếu biết chú ý tới những khác biệt của tha nhân, đánh giá sự
độc đáo của người khác với sự hiểu biết tích cực, coi những xung đột chỉ
là một phần cần thiết trong tiến trình tôi luyện trưởng thành, thì mọi
sự sẽ được giải quyết, cộng đoàn sẽ tiến triển tốt đẹp, và sứ mạng loan
báo Tin Mừng của Hội Thánh sẽ được hiệu quả hơn (Gl 6,2).
f. Sự thích nghi cần thiết
Nhà đào tạo phải bắc được nhịp cầu nối này: Ứng sinh
mới đến đôi khi khó hội nhập vào cộng đoàn, trong lúc những người đã
sống ở đó thấy thế giới của mình bị xáo trộn bởi những người mới đến.
Những người lớn tuổi muốn rằng người mới vào phải có tư tưởng, tình cảm,
khát vọng và trông đợi như họ, mà quên đi khoảng cách văn hóa và giáo
dục của các thế hệ. Do đó cần phải lắng nghe và nỗ lực cảm thông nhiều
lắm để thích nghi với nhau. Nét đẹp của cuộc đời đến từ sự đổi mới không
ngừng, và cuộc đời sẽ phong phú khi mọi người được từ từ biến đổi ăn
nhịp với sự hiểu biết, cách làm, cách sống và cách suy tư mới mẻ của
nhau.
Nhà đào tạo phải tôn trọng và đón nhận sự khác mình
của ứng sinh, đồng thời phải thích nghi phương pháp đào tạo của mình, dù
đôi khi khó khăn. Trong đời sống gia đình, đôi vợ chồng phải thay đổi
cuộc sống khi đón nhận đứa con đầu lòng, tự điều chỉnh và thích nghi với
các nhu cầu và chỗ đứng của đứa con. Với mỗi đứa con ra đời, cha mẹ và
cả gia đình phải tái điều chỉnh cách xử sự. Công cuộc đào tạo cũng tương
tự như thế. Người mới vào phải học biết kinh nghiệm và khôn ngoan của
người đi trước bằng cách niềm nở lắng nghe, hòa nhịp cùng với bước đi
của cộng đoàn và hội nhập vào cách sống đã được thiết lập và cấu trúc.
Người cũ cũng không quá nại vào nề nếp để làm khó cho những người mới
đến, bắt họ phải mau chóng đi vào thế giới của mình và điều chỉnh ngay
theo nhịp sống và tư tưởng của mình.
g. Trách nhiệm đào tạo
Nhà đào tạo không nhất thiết phải hoàn hảo hay là
thánh, nhưng phải là chứng tá một đời sống tu trì trung thực, theo đúng
đặc sủng và linh đạo của Dòng. Tính trung thực làm nên sự thành công của
nhà đào tạo. Các người trẻ sẽ nhạy cảm đối với gương sáng của một nhà
đào tạo khiêm tốn và chân thực.
Các ứng sinh sẽ rất tín nhiệm uy quyền của các nhà
đào tạo được thực hiện hài hòa theo nguyên tắc căn bản này: Trách nhiệm
đòi phải có quyền bính tương ứng và phải luôn theo nguyên lý bổ trợ, chứ
không qua mặt các cấp độ trách nhiệm, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn
“trống đánh xuôi kèn thổi ngược”, ứng sinh không biết phải theo ai.
Cần có sự trao đổi thống nhất đường lối và hành động:
bề trên không bao giờ bỏ qua người có trách nhiệm đào tạo để trực tiếp
điều chỉnh các người dưới quyền của người đó, và người trách nhiệm cấp
dưới không làm điều gì quan trọng mà không thông qua ý kiến và sự chấp
thuận của cấp trên.
Nhà đào tạo không thể chuyên môn trong mọi sự, nhưng
phải luôn giữ trách nhiệm đồng hành cho từng cá nhân ứng sinh. Cần phải
xây dựng tương quan hợp tác giữa các giáo sư và nhà đào tạo, vì việc đào
tạo là một toàn thể và các môn học phải góp phần vào việc đào tạo toàn
diện, nhân bản và thiêng liêng, tri thức và tông đồ cho ứng sinh.
h. Tương quan đào tạo
Trong tương quan đào tạo, tiến trình giáo dục phải đi
trước. Giáo dục là giúp ứng sinh nhận diện cái tôi sâu thẳm của mình để
rồi khai thông và biến cái tôi này thành cái tôi mà nó phải trở thành.
Nếu không hiểu được chính mình, khám phá ra các động cơ còn nằm trong
tiềm thức và nhận ra các phân mảnh của mình để biến đổi thì không thể
nào đạt được sự trưởng thành và thống nhất nội tâm.
Nhà đào tạo phải cố gắng đi vào khoảng không gian kín
ẩn của từng ứng sinh, hiểu rõ các ước muốn tốt cũng như những tổn
thương sâu xa thường được che giấu của họ, giúp họ hiểu biết chính mình
và tin tưởng để ân sủng Chúa tác động, thì họ mới tiến bộ thực sự được.
Nếu không làm như thế thì sự tiến bộ đó chỉ có bề ngoài. Nội dung đào
tạo sẽ không bén rễ sâu trong ứng sinh, và kết quả đào tạo sẽ chỉ biểu
hiện trên cách ứng xử của đương sự trong một thời gian nào đó mà không
kết hợp được với các động lực sâu xa của họ.
Việc thiếu hụt các nhà đào tạo có chất lượng ảnh
hưởng không chỉ đào tạo tri thức, mà cả đào tạo nhân bản và thiêng
liêng: nhà đào tạo không có cả thời gian và nghị lực để lắng nghe, thấu
hiểu và cảm thông, cung cấp sự đào tạo hữu hiệu cho ứng sinh; và các ứng
sinh cũng bị tước mất nhu cầu chia sẻ và trình bày những vấn đề thực tế
phức tạp của họ.
Điều đáng ao ước là có nhà đào tạo thích hợp cho từng
giai đoạn huấn luyện: nhân cách và tài năng của nhà đào tạo được thi
thố tốt, và các ứng sinh sẽ được đào tạo tốt hơn trong từng giai đoạn
liên hệ. Mỗi giai đoạn phải nhằm một mục tiêu đặc biệt, chẳng hạn giai
đoạn Nhà Tập phải là thời gian trong đó đời sống thiêng liêng vượt trổi
hơn đời sống tông đồ (x.GL 652,5). Nhưng tất cả các giai đoạn phải nằm
trong một tổng thể nhất quán và liên tục.
Nhà đào tạo cần gần gũi, nhưng nên tránh tình trạng
“quen quá hóa nhờn”, nghĩa là phải có một mức độ thân mật đủ để trao
đổi hầu ứng sinh biết mình và cái mình phải “trở thành.” Một liên hệ
quá quen thuộc nhàm lờn liều mình tạo nên một sự thông đồng cản trở
những tương quan lành mạnh. Những xung đột liên nhân vị có thể dễ dàng
sản sinh ra những mối ác cảm rất mạnh và nguy hiểm, có thể trở nên không
chịu nổi cho người này lẫn người kia.
Lòng khiêm tốn của nhà đào tạo mở ra với đối thoại và
cảm thông. Sự khác biệt tâm thức giữa các thế hệ có thể sẽ ảnh hưởng
đến tính đáng tin cậy của nhà đào tạo đối với những ai được giao phó cho
họ. Đừng để những điều đáng tiếc đi vào tiềm thức và ở lại mãi trong
lãnh vực không nói lên lời đó, hầu tránh những nỗi thất vọng không lường
trước được.
i. Việc linh hướng
Ngoài việc đồng hành thiêng liêng như chúng ta thường
hiểu và thực hành để giúp ứng sinh khám phá ra ý Chúa và đi theo, còn
có một mức độ sâu xa và bí mật liên hệ tới tòa trong, đó là việc linh
hướng không thể thiếu trong tiến trình đào tạo. Vị linh hướng là dụng cụ
của Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần mới là vị linh hướng đích
thực. Ngài dẫn dắt mỗi người theo một đường lối độc đáo. Cả vị linh
hướng lẫn người thụ hướng đều phải tìm khám phá và điều chỉnh cuộc đời
người thụ hướng theo đúng con đường đó của Chúa Thánh Thần.
Vị linh hướng phải khơi dậy lòng tín nhiệm nơi người
thụ hướng bởi thái độ sẵn sàng, cởi mở, đón tiếp và chân thành, đồng
thời nuôi dưỡng tinh thần tin cậy nhờ lòng cẩn mật của mình. Có thế thì
người thụ hướng mới có thể tự do nói hết những trăn trở riêng tư, những
bí mật của cuộc đời mình, đặc biệt trong lãnh vực giới tính.
Vì việc linh hướng thuộc về tòa trong, nên khi đánh
giá ứng sinh (tòa ngoài), vị linh hướng không bao giờ được lên tiếng, dù
để bảo vệ hay để kết án người thụ hướng của mình. Sự bảo mật này nhằm
bảo đảm tự do nội tâm của ứng sinh trong việc biện phân và quyết định
chọn lựa ơn gọi. Nhưng nhờ nghe trong hội đồng đánh giá những nhận xét
khác nhận xét của mình, vị linh hướng có thêm được thông tin về những
yếu tố khác, nhờ đó mà phân định được tốt hơn, đồng thời chọn lựa sự
giúp đỡ thích hợp và hữu hiệu hơn cho người thụ hướng của mình.
Quyết định dứt khoát ở tòa trong ăn khớp với lương
tâm ứng sinh: tự mình đối diện, trắc nghiệm bản thân, lượng lấy sức và
tự mình chủ động giải quyết. Do đó vị linh hướng dự phần trong việc đào
tạo lương tâm trưởng thành của ứng sinh. Nhưng ở tòa trong, vị linh
hướng không chỉ thụ động lắng nghe, song phải có khả năng thách đố và
đối đầu, khi sự việc đòi hỏi, để giúp ứng sinh trải qua một tiến trình
phân định ơn gọi đích thực, như Chúa và Giáo Hội mong muốn.
Việc linh hướng và phân định thiêng liêng rất tế nhị
và khó khăn. Nó bao gồm mọi chiều kích của cuộc đời ứng sinh: nhân bản
và thiêng liêng, tự nhiên và siêu nhiên. Vì thế vị linh hướng phải cập
nhật các kỹ năng linh hướng, những hiểu biết về tâm sinh lý, khả năng tư
vấn, biết vận dụng các khám phá hữu ích của tâm lý học, y học và xã hội
học hiện đại. Các trao đổi với đồng nghiệp, cũng như những khóa học
huấn luyện các vị mới và cập nhật cho các vị cũ, sẽ liên tục gia tăng
khả năng của vị linh hướng, mà ngày nay có thể là linh mục và nam nữ tu
sĩ, miễn là được Chúa Thánh Thần kêu gọi, thẩm quyền Giáo Hội trạch cử
và được đào tạo thích đáng, vì đây là việc của Chúa, và chỉ có Chúa biết
đầy đủ một con người và biến đổi tận gốc con người đó.
KẾT LUẬN
Nói về đào tạo, nhất là ở đây lại nói về đào tạo các
nhà đào tạo nữa thì không thể nào thấu tình đạt lý hết được. Tôi xin hết
lòng cám ơn toàn thể chị em đã chịu khó nghe, và thành thật xin lỗi chị
em vì có khi phải nghe cả những điều khó chịu nữa.
Giờ đây, xin được kết thúc với mấy tư tưởng này: “Nhà
đào tạo tầm thường thì thích nói, nhà đào tạo tốt thì giải thích, nhà
đào tạo giỏi thì chứng minh, và nhà đào tạo khéo léo thì gợi hứng.”
Các vị đại thánh thường đủ khiêm tốn để nhìn nhận
mình là kẻ có tội. Chúng ta nhìn nhận mình không hoàn hảo và không ảo
tưởng chờ đợi các bảo đảm của việc đào tạo của mình, mà hoàn toàn ký
thác cho Chúa. Không thể thấy trước được những gì sẽ xảy ra trong đời
một con người về lâu về dài. Lòng khiêm tốn sẽ giúp chúng ta tìm đến với
khôn ngoan và quyền năng của ơn Chúa.
Hãy thực thi lòng nhân hậu và để Chúa Thánh Thần làm
phần còn lại. Như thế chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn, tự tin hơn, và
có thể làm công việc đào tạo tốt hơn. Hãy để ân sủng Chúa làm việc
trong chúng ta, dẫn dắt chúng ta, và hãy tin tưởng vào Chúa và tha nhân.
Và nếu chúng ta có cảm thấy mình nhiều khuyết điểm,
cũng hãy tạ ơn Chúa. Có lẽ điều đó sẽ giúp chúng ta trở nên nhà đào tạo
khéo léo và tâm huyết. Cái quan trọng chính là tấm lòng của chúng ta: Ai
không yêu thương thật sự không thể làm nghề đào tạo được, ta sẽ khổ và
làm các người chúng ta đào tạo khổ.
Chúng ta có thể nói rằng làm nhà đào tạo là một ơn
gọi và một ân sủng. Chúng ta cho bao nhiêu thì chúng ta nhận bấy nhiêu,
càng cho đi chúng ta càng nhận lãnh. Đón tiếp và đào tạo người trẻ hôm
nay là một cơ may để chúng ta đáp lại lời mời gọi đặc biệt của Chúa
Giêsu: “Hãy đến và theo Ta… Các con là bạn hữu của Thầy.” Đồng
thời chúng ta cũng không phụ lòng hay làm thất vọng những trông đợi mà
Giáo Hội, Hội Dòng và Thế giới kỳ vọng nơi các nhà đào tạo.
Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss
Slideshow kết thúc: BÀI HỌC QUÉT LÁ
Thơ: Diệu Nhân – Nhạc: Võ Tá Hân – Ca sĩ: Xuân Phú
Vâng lời Thầy, con đi quét lá, lá vàng rơi lả tả khắp
nơi. Lá khô rơi như kiếp một con người, giờ phút cuối là về cùng cát
bụi. Con vừa quét sạch một gốc cây, quay trở lại đã thấy đầy rơi rụng.
Con hỏi nếu như gió đừng rung động thì lá kia hẳn còn trên cành. Một
kiếp người cũn thế, quá mong manh, một hơi thở nếu đi rồi không đến nữa.
Thầy đã cho con bài học quét lá thâm sâu như một triết lý không cùng.
Con ra về lòng luống những bâng khuâng: Lá và con cũng trong vòng sinh
diệt. Lá vừa sinh đã có mầm huỷ diệt, con vừa sinh đã hẹn có ngày đi.
Suy tư: Có ai biết chốc lát nữa mình sẽ chết mà
còn ham hố những sự đời này, còn gieo rắc bất công hận thù, còn ghen
ghét tranh chấp hơn thua, mà không trái lại, an hòa với mọi người, tôn
trọng lương tâm kẻ khác, giao phó cho lòng nhân từ của Chúa lời phẩm
bình cuối cùng và sự xét đoán chung thẩm, nỗ lực chuẩn bị tâm hồn để ra
đi trong bình an về với Chúa?
Một làn gió có sức mạnh gì đâu, mà lá rơi không thể
nào cưỡng lại? Hơi thở con cũng giống như làn gió ấy, nếu không về thì
con sẽ đi đâu? Đã lâu rồi vẫn lặn hụp chìm sâu trong mê mải con đi tìm
sự nghiệp: Con vẫn mơ có một căn nhà rộng đẹp, con vẫn mơ con cái học
thành tài. Con vẫn mong, vẫn đợi một ngày mai lũ con cháu trở nên người
thành đạt. Con vẫn chưa có gì cho con hết làm hành trang khi cất bước
lên đường. Tạ ơn Thầy đã cho con chút tư lương, là bài học quét lá vàng
rơi rụng. Lá và con cũng có cùng số phận: đi về đâu do con chọn lấy con
đường. Tạ ơn Thầy đã cho con chút tư lương, là bài học quét lá vàng rơi
rụng. Lá và con cũng có cùng số phận: đi về đâu do con chọn lấy con
đường. ĐI VỀ ĐÂU, DO CON CHỌN LẤY CON ĐƯỜNG!
PHỤ LỤC
NHÀ ĐÀO TẠO
DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CÁC TU SĨ TRẺ
(Đúc kết thảo luận Nhóm của
LỚP THẦN HỌC LIÊN TU SĨ BÙI CHU
2008-2009)
LỜI NÓI ĐẦU
Chúa Giêsu là người đầu tiên được Chúa Cha sai đi
chia sẻ tình thương cứu độ và qui tụ toàn thể thế giới tạo thành về lại
cho Chúa và Ngài đã chu toàn sứ vụ của mình. Nay Giáo Hội và mỗi người
chúng ta được mời gọi tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu, liên tục từ thế hệ
này qua thế hệ khác, làm cho Ngài được nhận biết và yêu mến.
Thế hệ đi trước cũng đã thực thi sứ vụ của họ và họ
đã hoàn thành trách nhiệm khi chuyển giao lại cho thế hệ chúng ta trách
nhiệm tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu và chuẩn bị nhân sự tương lai cho sứ
vụ ấy. Làm nhà đào tạo phải là một ơn gọi đặc biệt Chúa ban xuyên qua
tiến trình:
-
Chúa gọi và được xác nhận qua sự trạch cử của Thẩm quyền hữu trách;
-
Chúng ta sẵn sàng đáp lại, không hề miễn cưỡng;
-
Chúng ta cam kết đi theo đường lối của Chúa Giêsu Mục tử nhân hậu;
-
Chúng ta biến đổi và điều chỉnh chính mình cho phù hợp với giáo huấn của Chúa, Giáo Hội và linh đạo Dòng;
-
Chúng ta kiên trì chu toàn sứ vụ đã nhận lãnh trong mọi hoàn cảnh.
Song song với việc thực thi nhiệm vụ đào tạo ứng sinh các cấp, chúng ta còn có một nhiệm vụ kép:
· Lưu ý tuyển chọn và tài bồi những nhà đào tạo tương
lai sẽ thay thế mình, qua tiến trình: dạy cho họ làm, giúp họ làm, để
họ làm, mình rút lui vì đã hoàn thành sứ mệnh;
· vừa cập nhật việc đào tạo chính mình, nâng cao phẩm
chất con người và sư phạm bằng khiêm tốn học hỏi với người trên, với
đồng nghiệp và với cả những người đang được mình đào tạo, khi khơi gợi
và lắng nghe những thao thức và trông đợi của họ, dù còn nhiều chủ quan,
phiến diện và sai lầm.
Trong ý hướng của nhiệm vụ thứ hai này, tôi đã gợi ý
cho các nhóm chị em học viện ngồi lại với nhau, chia sẻ, trao đổi, đúc
kết, để rồi thuyết trình cho cả lớp học hỏi nhắm về tương lai, theo đề
tài:
FVới tư cách là chị Giáo và Bề
Trên trong tương lai, Chị sẽ làm gì và không làm gì cho các ứng sinh và
bề dưới của chị? Chị trông đợi gì hay không trông đợi gì ở họ?
Đáng ra phải có một bản đúc kết chung, cô đọng các ý
kiến và quan điểm cách khoa học; nhưng vì qú nhiều lớp học, không có đủ
thời giờ nên tôi xin gom lại tất cả các bài thuyết trình. Tuy nhiên,
việc này cũng có cái hay của nó là tập sách được đa dạng và phong phú
hơn. Kính mong các đồng nghiệp và những ai quan tâm đào tạo không buồn
lòng vì những “lời nói vụng dại, ăn chưa no lo chưa tới” của con em
chúng ta, mà tôi hữu ý không ghi tên để khỏi gắn kết trách nhiệm cá nhân
ngõ hầu họ được an tâm. Những trăn trở, ước mong, và quyết tâm của thế
hệ trẻ sau chúng ta cũng có thể giúp chúng ta là những nhà đào tạo trong
hiện tại có cơ hội kiểm điểm và điều chỉnh chính mình, đồng thời giúp
họ uốn nắn những quan niệm sai lầm và hình thành những định hướng tốt
nhất cho công cuộc đào tạo các thế hệ đang tới vốn sẽ còn khó khăn phức
tạp hơn.
Còn đối với các ứng sinh sau này sẽ là các chị giáo
và bề trên tương lai, chắc chắn chị em sẽ cố gắng thực hiện tốt những gì
chị em đã nhận được từ các nhà đào tạo tâm huyết hôm nay mà chị em
ngưỡng mộ, cũng như những đức tính và cách thức đào tạo mà chính chị em
đã dự phóng cho mình; đồng thời chị em cũng sẽ tránh những gì tiêu cực
hay không phù hợp mà chị em đã phải trải nghiệm trong đau khổ và nước
mắt, gây nên bởi những nhà đào tạo không thích hợp và thiếu tâm hồn đào
tạo theo gương của Chúa Giêsu.
Nhưng trong mọi hoàn cảnh, chúng ta sẽ không sợ lạc
đường khi luôn luôn theo sát Chúa Giêsu, “là Đường, là Sự Thật và là Sự
Sống.”
Nếu thiện ý và việc làm của tôi được cảm thông ghi
nhận thì tôi đã rất vui mừng tạ ơn Ba Đấng và biết ơn tất cả mọi người.
Còn nếu nó có mang lại lợi ích nào trong công cuộc trồng người này, thì
xin Chúa Thánh Thần tác động để nó mang lại hoa trái cho sứ mệnh đời tu
trong Giáo Hội và Thế giới. Xin chúc lành và cầu nguyện cho tôi.
Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss
CÁC BÀI THUYẾT TRÌNH
[1]
Dẫn Nhập
Đào tạo là nghệ thuật trên hết các nghệ thuật, và rất
ít người có được nghệ thuật này. Người ta có thể nói rằng tai họa khủng
khiếp cho một cộng đoàn không phải là thiếu những tu sĩ tốt, cho bằng
do không có người lãnh đạo xứng đáng và có khả năng lãnh đạo.
Trong cuộc sống ai cũng có bổn phận, có trách nhiệm
đối với chính mình và với người khác. Nhưng mỗi người có trách nhiệm và
quyền hành to nhỏ khác nhau tùy theo địa vị của từng người được trao
phó. Vậy với tư cách là Bề Trên / Chị giáo, ta cần có những đức tính
nào? Các việc ta sẽ làm và không làm cho bề dưới của mình là gì? Và ta
mong đợi gì hay không mong đợi gì ở họ?
1. Những đức tính của người lãnh đạo tốt
Trước hết với tư cách là Bề Trên, ta cần có các đức tính:
· Công bằng không thiên vị
Công bằng là trả cho mỗi người những gì ta mắc nợ
người đó, nghĩa là chu toàn các bổn phận của mình theo trật tự mà Chúa
muốn. Công việc Bề Trên làm cho chị em: trước hết là lo cho các linh hồn
chị em, thứ đến là lo cho sức khỏe chị em và lo cho các công việc của
Hội Dòng. Bề Trên cần giữ đúng luật của đức công bằng để thi hành những
công việc đó, ngài là người được Chúa đặt lên để hướng dẫn, nâng đỡ và
giúp đỡ bề dưới. Ngài hãy dùng hết mọi khả năng và phương tiện để thực
hiện công trình này. Ngài chính là người phụ tá của Thiên Chúa và trong
khi thi hành, ngài không được thiên vị. Và một khi có đức công bằng đối
với mọi công việc và cho mọi người thì sẽ loại trừ được tính thiên vị.
· Khiêm nhường nhưng không nhát đảm
Khiêm nhường phát xuất từ Thiên Chúa, và theo Thánh
Thoma thì khiêm nhường là biết nhìn nhận đúng sự thật, nói và thực hành
phải đi đôi với nhau. Khiêm tốn là lắng nghe mọi ý kiến của người khác
với sự trân trọng. Vì thế ta không được đàn áp ý kiến của người khác
bằng uy tín, bằng chức vụ hay bằng bất cứ áp lực nào khác. Nếu ta có
thái độ “nghe nhau nói, nói nhau nghe” thì những quyết định của cộng
đoàn sẽ được tốt hơn. Nếu một Bề Trên mà thiếu đức khiêm nhường thì
quyền hành người đó nắm trong tay chỉ là bạo lực. Chỉ có đức khiêm
nhường là phương thế thần diệu chữa lành các bất đồng, chống đối của cấp
dưới và giúp mình đón nhận cái hạn chế của mình và tha nhân một cách
thiết thực hơn.
Theo sự thường càng làm lớn thì càng khó khiêm tốn
hơn. Tại sao vậy? Vì sợ mất uy tín, sợ bị người khác xem thường, chẳng
vậy mà Thánh Benađô đã từng nói: « khiêm tốn trong một đời sống tầm
thường thì tốt và không có khó khăn lắm, nhưng giữ được khiêm tốn giữa
quyền cao chức trọng mới là một nhân đức họa hiếm và cao đẹp »
Một trong những phương cách tập đức khiêm nhường là
trọng kính người khác cho dù người ta kém tuổi, kém tài, kém đức hơn
mình. Đặc biệt là tôn trọng quyền bính của người có trách nhiệm trong
cộng đoàn, dù người ấy có nhiều khuyết điểm hay không có khả năng bằng
mình.
Với cương vị là Bề Trên, nếu thiếu đức khiêm nhường
khi dẫn đầu các công việc thì quả là tai hại. Nhưng cũng không nên khiêm
nhường quá, vì khiêm nhường quá là tính nhát đảm thì cũng không nên.
Quả vậy, có những Bề Trên khiêm nhường quá đến nỗi mất hết can đảm khi
phải quở trách hoặc sửa lỗi chị em. Những Bề Trên đó ý thức sâu xa về sự
bất tài và bất xứng của mình đến nỗi không bao giờ dám nói và hành
động. Tu sĩ này có những khuyết điểm về tính nết, ngài không dám nhắc
nhở, vì ngài cũng có những khuyết điểm như vậy. Tu sĩ kia lỗi phạm đức
bác ái tỏ tường, ngài không dám khuyên răn. Ngài im lặng đối với các chị
em không chu toàn bổn phận. Có những chị em tâm sự với ngài, xin lời
khuyên…. thì ngài không làm gì được cho họ, vì ngài nghĩ mình ít học và
ít được ơn soi sáng !… Dầu do đâu mặc lòng, sự nhút nhát này là yếu
đuối, là tai vạ cho Hội Dòng. Chúa đặt Ngài làm Bề Trên để coi sóc,
khuyên răn, sửa lỗi, quở trách nếu ngài giữ im lặng và do sự im lặng của
ngài mà một linh hồn bị mất thì ngài phải chịu trách nhiệm.
· Khôn ngoan nhưng không đa nghi
Nhân đức khôn ngoan là số một đối với Bề Trên, người
khôn ngoan là biết nghi ngờ chính mình, phải coi chừng tính khí và các
đam mê của mình, tránh sự cố chấp, hấp tấp… Hãy tìm hiểu để biết lòng
con người nói chung, đặc biệt những thành phần thuộc quyền bính mình nói
riêng. Người lãnh đạo cần khôn ngoan để phân biệt phải trái, đúng sai
trong những quyết định, phải luôn lắng nghe ý kiến của mọi người bề
dưới, sẵn sàng bỏ ý riêng, nếu ý kiến của bề dưới phù hợp hơn, sáng tạo
hơn để xây dựng cộng đoàn tốt hơn.
Sự khôn ngoan đòi nơi Bề Trên sự kín đáo. Ai không có
khả năng giữ bí mật thì không thể cai trị được. Trong nhiều trường hợp.
Bề Trên có bổn phận lương tâm phải giữ kín những gì mình biết được do
chức vụ của mình. Có như thế chị em mới dễ dàng tin tưởng bày tỏ những
khúc mắc hay lỗi phạm của mình. Trong đời sống có những chuyện cần phải
«sống để dạ chết mang theo», chỉ cần một sự «bất tín» thì sẽ có vạn sự
«bất tin». Vì thế những tâm tư của thụ huấn sinh thổ lộ với mình, mình
không thể đem đi phơi bày cho toàn dân thiên hạ biết. Nếu thế thì ta
không mong người thụ huấn đó sẽ đến với ta lần thứ hai.
Như vậy sẽ thất bại trong giáo dục và đào tạo con
người. Để trở nên khôn ngoan như thế, không cần phải trở nên chính trị
hay sử dụng các mưu mẹo và mánh lới. Hoặc luôn có vẻ giữ gìn và bí hiểm.
Nhưng là hãy tỏ ra cởi mở, chân thành ngay thật, biết lặng thinh không
nói những điều cấm, không nói dối, luôn tỏ ra tin tưởng nơi các bề dưới
của mình. Khôn ngoan nhưng không dễ dãi, dễ tin tưởng. Nếu dễ tin rất dễ
bị bề dưới lạm dụng, nên phải biết nghi ngờ chính bản thân và cẩn trọng
đối với những người mà ta gặp gỡ hay tiếp xúc.
· Kỷ luật mà không khuôn khổ cứng nhắc
Theo Thánh Bonaventura nói rằng đời sống gương mẫu là
ưu điểm hàng đầu của người lãnh đạo. Trong hết mọi sự, ở khắp mọi nơi,
Bề Trên luôn là người dẫn đầu cộng đoàn của mình, để sau cùng ngài có
thể nói với anh em trong nhà như Ông Giêđêôn đã nói với quân lính của
mình rằng «Anh em hãy bắt chước những gì tôi đã làm». Bề trên hãy khuyến
khích chị em trung thành giữ kỷ luật về lời khấn và tinh thần Dòng.
Luôn làm gương sáng cho chị em về việc giữ kỷ luật. Bề Trên không thể
mong các thuộc cấp của mình sẽ tuân phục hay tuân giữ kỷ luật của Hội
Dòng, nếu như chính mình lại không tuân phục những chỉ thị và mệnh lệnh
của thượng cấp. Chúng ta thường thấy ở các tổ chức, những tập thể mà ở
đó tinh thần kỷ luật bị coi nhẹ, không phải vì các khoản luật thiếu
trong sáng nhưng vì người Bề Trên chỉ biết nhắc cho người dưới mà chính
mình lại không thi hành. Vì thế Bề Trên luôn phải đứng đầu trong việc
giữ kỷ luật để chị em noi theo.
· Tinh thần đạo đức
Bề Trên cần sống thân mật với Chúa qua tinh thần cầu
nguyện. Ngài cần luôn tham khảo ý Chúa để được sự hướng dẫn, nhất là
trong các quyết định quan trọng phải thi hành. Vai trò của ngài là
chuyển đạt thánh ý Chúa đến các tu sĩ. Làm sao ngài có thể làm việc này,
nếu như ngài không biết các ý định của Thiên Chúa? và ngài sẽ tìm biết
các ý định đó ở đâu, nếu không phải là trong việc cầu nguyện, khi giao
tiếp với Chúa?
Nếu ngài muốn có ánh sáng, sức mạnh và lòng can đảm
cần phải có, để hướng dẫn chị em mình và đào tạo tâm hồn họ, ngài phải
xin những ơn đó bằng siêng năng cầu nguyện, cầu nguyện liên tục. Cầu
nguyện là phương thức tốt nhất của việc lãnh đạo. Khi chúng ta không
biết xoay hướng nào, hãy để các công việc đó lại mà đi cầu nguyện. Chính
Thiên Chúa sẽ lo tìm ra giải pháp cho chúng ta. Chị em cũng rất cần lời
cầu nguyện và gương sáng của Bề Trên trong lãnh vực này, nên Bề Trên
đừng quên hằng ngày cầu nguyện cho chị em dưới quyền và khuyến khích chị
em cầu nguyện, nhất là qua gương cầu nguyện của Bề Trên là người duy
trì đạo đức để kéo ơn Chúa xuống cho mọi tâm hồn trẻ.
· Tinh thần đức ái
Nhờ đức ái, Bề Trên sẽ làm mọi người yêu mến ngài, và
mọi sự sẽ trở nên dễ dàng cho ngài. Trước hết là hãy lo thu phục nhân
tâm. Để làm việc này ngài phải dùng mọi phương thế, hãy nhắm mắt bỏ qua
nhiều chuyện, hãy thực thi sự khoan dung và lòng thương xót cách rộng
rãi cho tới khi chiếm được lòng mọi người. Một khi đã được như thế thì
có thể nói được với bề dưới nhiều điều, làm mọi sự, áp đặt mọi điều và
đạt được mọi sự.
· Trầm tĩnh và tự chủ
Một người không làm chủ được mình thì cũng khó bình
tĩnh điều hành công việc và chỉ đạo người khác. Cho nên dù phải đối mặt
với bất cứ tình huống nào, người lãnh đạo cũng cần thể hiện được thái độ
khí khái, bình tĩnh và tránh những xúc động, những lo lắng thái quá.
2. Những việc Bề trên/Chị Giáo nên làm cho các em
Để trở thành một nhà lãnh đạo giỏi và thành công,
người lãnh đạo cần có không những khả năng cần thiết mà còn phải có
những phẩm chất tốt đối với bề dưới của mình. Người xưa có câu: “muốn
làm người lãnh đạo tốt, lãnh đạo tài giỏi, và lãnh đạo thành công cần
phải có « nhân » để yêu người, có « trí » để biết người và có « nghĩa »
để phục vụ người. Vậy muốn có được thành quả tốt đẹp như mong muốn, thì
ta phải góp sức, cố gắng phát huy những điểm tốt và loại trừ dần những
cái xấu. Như vậy mới mong có được kết quả như dự định ban đầu. Vậy để
làm được việc đó người lãnh đạo cần làm gì và sẽ không làm gì cho bề
dưới của mình.
Yêu thương và phục vụ chị em. Như Đức Kitô đến để
phục vụ, các Bề Trên cũng thi hành quyền bính với tinh thần phục vụ theo
Tin Mừng và vâng theo Thánh ý Chúa, để chị em cảm nghiệm được tình
thương Thiên Chúa qua các vị lãnh đạo.
Trau dồi cho mình về đời sống đạo đức cũng như về đời
sống kiến thức. Bởi vì chị Giáo là người làm đầu để hướng dẫn, dẫn dắt
các em nên muốn cho các em đi đúng đường lối mà Dòng đã đặt ra, thì
chính chị Giáo là cái khuôn, là người trau dồi kiến thức cho các em. Như
vậy Chị giáo là người cần làm gương cho các em.
Cần tạo cơ hội cho chị em có thời giờ, cơ hội thăm
hỏi, khích lệ nâng đỡ nhau. Sự lắng nghe, thông cảm, và hỗ tương giữa
mọi thành phần của gia đình Dòng rất cần thiết để chị em sống vui, hạnh
phúc và chu toàn bổn phận cách đắc lực hơn. Tuy nhiên chị em cần lưu ý
tránh kêu ca phàn nàn và bảo vệ danh dự của nhau, của vị hữu trách và
nhất là đối với người ngoài.
Cổ võ đời sống thiêng liêng và phụng vụ như tạo cơ
hội và môi trường, sắp xếp chương trình hằng ngày thế nào để hầu hết các
chị em trong Cộng Đoàn có thể hiện diện trong các giờ phụng vụ và cầu
nguyện chung.
Các vị lãnh đạo cũng như chị em đều vâng lời thi hành
ý Chúa. Do đó chúng ta cần giúp nhau tìm ý Chúa qua sự đối thoại chân
thành và cảm thông, dù có những khác biệt về tuổi tác và văn hóa.
Phải xác định cho người thụ huấn biết mục đích của
mình khi bước vào Dòng để làm gì? Tìm Chúa hay đi tìm sự nghiệp? Và giúp
các em phát triển về hai chiều kích Tâm linh (trưởng thành về đời sống
thiêng liêng) và chiều kích Xã hội (trưởng thành nhân bản).
Những người huấn luyện phải cộng tác chặt chẽ với
nhau trong cách huấn luyện. Tinh thần đồng trách nhiệm rất cần thiết để
xây dựng cộng đoàn. Để cổ võ tinh thần này, các Bề Trên liên hệ nên
thông đạt những nhu cầu và chia sẻ những khó khăn có thể để chị em được
thông hiểu, góp ý kiến và thi hành.
Làm cho khoảng cách giữa Chị Giáo và bề dưới được
ngắn lại, tạo nên sự gần gũi bao nhiêu có thể, và sẵn sàng lắng nghe khi
bề dưới muốn chia sẻ trong mọi hoàn cảnh, thời gian.
Làm cho ứng sinh được dễ dàng, tự do sống trưởng thành trong đời tu theo lương tâm và ơn gọi mà họ chọn lựa.
Biết cách đối xử đúng lúc, đúng chỗ, tế nhị, để sửa
dạy chị em, không được biểu lộ quá gây sự căng thẳng khiếp sợ nơi các
em, khi các em đã sửa lỗi, xin Chị Giáo nên tạo sự thân mật, không nhớ
đến quá khứ để các em không mặc cảm sợ sệt nhưng nên tạo cơ hội để các
em sửa chữa vì: « Thánh » nào cũng có một quá khứ và « Tội nhân » nào
cũng có tương lai.
Khi các em có lỗi, không nghe và kết án vội, trái lại
phải tìm hiểu rõ ràng, cẩn thận kẻo oan uổng. Luôn đặt mình ở hoàn cảnh
khó khăn của từng em, không bắt các em theo ý riêng mình. Luôn tìm hiểu
để thông cảm hoàn cảnh của từng em.
Cần phải có cái nhìn khách quan không thiên vị về
tiền, tình, tài,… Có như vậy mới tạo cho các em có cơ hội để phát huy
tài năng phù hợp với từng em.
Biết nâng đỡ khích lệ chị em trong mọi công việc,
trung thành với kỷ luật, lời khấn, tinh thần Dòng và các quyết định của
Tổng Hội và Bề Trên cao cấp.
Tạo bầu khí cởi mở, chân thật, không thành kiến và không bộc lộ cho các em biết lỗi của nhau để các em tôn trọng nhau.
Phải hiểu biết tâm lý người trẻ hôm nay, riêng từng em với những cá tính riêng biệt.
Luôn tôn trọng sáng kiến của chị em. Chị Giáo cần tạo
cho cộng đoàn có một bầu khí thoải mái, yêu thương. Phải là người cập
nhật hóa với đà tiến cuả xã hội, không thể áp dụng lối giáo dục của
nhiều năm trước vào thời đại bây giờ. Môi trường làm nên nhân cách của
con người. Mỗi người được sinh ra trong hoàn cảnh và môi trường khác
nhau. Vì thế Chị Giáo tùy vào khả năng mỗi người mà chị Giáo đóng vai
trò là người khơi dậy những điểm tốt, còn đang tiềm ẩn trong họ và bào
mòn dần những gì không phù hợp với lối sống và bước đường mà họ theo
đuổi.
Biết người không phải là điều dễ dàng, nhưng biết người sẽ dùng người có hiệu quả.
-
Những việc không nên làm cho các em
· Tránh thái độ độc đoán, cho mình là trung tâm điểm, là khuôn mẫu và phương pháp của mình là tốt nhất.
· Tránh đánh giá các em theo bề ngoài và theo tình
cảm riêng tư; thái độ bao che, thiên vị không công bằng: con ông cháu
cha, em sơ này, cháu thầy kia…
· Không yêu riêng hay tin tưởng một em nào quá, việc gì cũng tìm em đó thôi thì sẽ gây xáo động, xì xèo nơi cộng đoàn.
· Không nên yên trí về nết xấu nào đó của chị em để trì triết quy tội..
· Thiếu kiên nhẫn và bao dung, không yêu thương khi sửa dạy cũng như trong cách đối xử hằng ngày.
· Thiếu tin tưởng nơi người thụ huấn. Tránh nhồi nhét
kiến thức theo cái mình có sẵn, mà không cần biết, không quan tâm,
không chịu nhận ra người thụ huấn đang muốn gì.
· Không nên đòi hỏi những gì quá sức chị em. Không
nên coi các ứng sinh của mình như là con nít, mà luôn luôn đi kè kè để
theo dõi.
· Không lấy ứng sinh này hỏi về ứng sinh kia, « đặt tình báo ».
· Không la mắng khi chưa biết rõ thói hư và nói công khai lỗi của chị em trước mặt người khác.
· Tránh áp đặt người dưới trong sự nghiêm khắc, biến
họ thành những người khép kín luôn bị dồn nén, không dám cởi mở nói lên
điều mình ước mơ.
· Không được phép buộc các ứng sinh theo lương tâm viết ra giấy bản trắc nghiệm về mặt tiêu cực của người khác.
· Không được tin vào những tin tức, thư nặc danh.
Không được phép lạm dụng những việc thánh thiêng, khi gặp những sự kiện
và biến cố cần điều tra làm rõ sự thật như bắt ứng sinh đứng trước Thánh
thể hay đặt tay trên Phúc âm mà thề…
4. Những điều chị giáo mong muốn nơi ứng sinh
-
Không gì hơn là người đào tạo mong muốn các em của mình trở thành những tu sĩ thực sự theo đúng linh đạo và tinh thần của dòng.
-
Mong muốn các em trở thành người tu sĩ trưởng thành toàn diện, kể cả trong cuộc sống cũng như trong công việc. Biết sống quân bình giữa tự do và kỷ luật, biết nhận định và chọn lựa điều tốt, tránh điều xấu.
-
Mong các em nhận ra ơn gọi của mình để tự ý đáp trả và cam kết dấn thân. Để từ đó các em có thêm nghị lực vượt qua những thử thách trong đời tu và đứng vững trong ơn gọi của mình.
-
Mong các em biết nhận ra lỗi của mình để sửa và cố gắng sửa để hoàn thiện mình hơn. Và ngày một thêm tin tưởng, can đảm hơn: sai không sợ, bại không nản nhưng chỉ lo người không có chí vượt lên chính mình mà thôi.
-
Mong các em trở thành những người hữu ích cho Giáo Hội và cộng đoàn. Trở thành người dễ răn, dễ dạy, sống hòa đồng vui vẻ…
-
Mong các em trở thành những thành viên chín chắn đi đúng với đường lối của Dòng, để các em là những người kế tiếp xây dựng Hội Dòng ngày càng vững chắc hơn.
-
Mong cho các em phát huy hết khả năng, năng khiếu của các em để phục vụ Chúa và phục vụ tha nhân.
-
Mong các em luôn có khả năng làm chủ bản thân mình, biết phân định trước mọi vấn đề, và biết chịu trách nhiệm về những hành động của mình.
-
Mong các em sống thành thật, tiết độ, công bằng, khôn ngoan, luôn biết cách tự chế để làm chủ được chính mình,và thắng được bản năng tự nhiên của mình. Biết tự chế trong việc nhỏ và tầm thường, thì mới chấp nhận được những đòi hỏi trong đời sống cộng đoàn và đời tu.
-
Mong các em luôn coi Hội Dòng như là mái ấm Gia đình của mình, để khi đi thì nhớ, khi ở thì thương.
-
Mong các em biết vâng lời trong đối thoại, tin tưởng với tinh thần khiêm tốn. Biết cảm thông, tha thứ, kính trọng và yêu thương.
-
Mong các em khi muốn trách móc Bề Trên, thì hãy đặt mình vào cương vị Bề Trên
5. Những điều không mong muốn nơi bề dưới
-
Không muốn đào tạo một Nữ tu chỉ có xác không hồn, trên mình khoác áo tu mà tâm không tu.
-
Không muốn các em trở thành một Nữ tu thiếu trưởng thành, thiếu tinh thần trách nhiệm, không chu toàn các bổn phận. Sống thiếu nhân bản, sống thiếu tư cách là một Nữ tu. Không biết đối nhân xử thế.
-
Không muốn các em tỏ ra cứng cỏi, khó bảo, coi thường Bề trên. Coi nhà Dòng là nhà trọ miễn phí, muốn đi đâu tùy ý.
Vậy để thực sự là người của mọi người, người lãnh đạo
phải biết cởi mở tấm lòng của mình ra đối với chị em, sống hòa đồng vui
vẻ, biết chấp nhận chính mình, chấp nhận tha nhân, sống yêu thương và
đón nhận chị em như một quà tặng của Thiên Chúa.
Người lãnh đạo là người khởi xướng, người thông tin,
người hỗ trợ, người đồng hành, người kiểm tra đánh giá kết quả, người
lãnh trách nhiệm,…
Và quan trọng hơn hết là người lãnh đạo luôn có tấm
lòng, có tâm hồn, làm tất cả vì «tình yêu ». Để tất cả mọi chị em trong
Hội Dòng được thăng tiến như lòng Chúa mong muốn, và sống đúng với linh
đạo cũng như mọi đường hướng của Hội Dòng.
Người lãnh đạo cần giúp ứng sinh thấy được đường lối
phát triển trong tương lai. Các ngài cần giúp cho nguời dưới thấy được
niềm vui và hy vọng trong tương lai; ý thức về thực tế và những khó khăn
không thể tránh được, nhưng giữa những khó khăn và gian khổ ấy, là niềm
tin vào sự phát triển trong tương lai Hội Dòng.
Chúng ta có thể nói được rằng Hội Dòng phát triển
được cũng tùy thuộc vào các ứng sinh – từng ứng sinh phát triển là hội
Dòng phát triển. Cuộc biến hình của Chúa Giêsu trên núi Tabor là một thí
dụ điển hình cho niềm hy vọng của Dòng, cuộc biến hình này như hé mở
vinh quang sau này để củng cố niềm tin và tăng thêm nghị lực, lòng can
đảm cho các môn đệ dấn thân bước theo Ngài.
[2]
Dẫn nhập
Con đại diện cho các chị trong tổ để đọc bài thuyết
trình mà tất cả chị em chúng con sau khi đã suy nghĩ, bàn hỏi để đúc rút
ra những ý kiến chung nhất, hợp với ước muốn của chúng con nhất, theo
đề tài Cha Giáo đã đưa ra.
Trong quyển sách về truyền thống của các vị ẩn tu có thuật lại câu chuyện sau đây:
Ngày kia khi Đức Giám Mục A-mô-las đến thăm mục vụ
một làng nọ, dân chúng đã bày tỏ với Ngài lòng bất mãn tột độ của họ đối
với một vị ẩn tu trên núi, vì ông ta đem theo một phụ nữ để chung sống.
Từ dạo ấy, vị ẩn tu không ngớt là đối tượng để dân làng đàm tiếu, chỉ
trích và lên án. Thấy Giám Mục Amôlas đến, họ xúm lại vây quanh Ngài và
nói: hôm nay, Ngài đã đến đây thì Ngài phải chấm dứt ngay lập tức tình
trạng sa đọa bê bối gây nhiều gương xấu của vị ẩn tu trên núi kia. Sau
khi nghe những lời kết án gay gắt của dân làng, Giám Mục Amôlas quyết
định leo lên núi. Ngài đi đầu, dân làng lũ lượt nối gót theo sau. Vị ẩn
tu thấy đám đông kéo đến túp lều của mình, ông ta hoảng sợ và cấp tốc
bảo người phụ nữ chui vào trốn trong một chiếc thùng rỗng. Đức Giám Mục
là người đầu tiên đến trước túp lều, và cũng là người đầu tiên bước vào.
Ngài đưa mắt nhìn chung quanh và hiểu ngay tình hình. Ung dung, Ngài đi
thẳng đến ngồi trên chiếc thùng gỗ để nghỉ chân. Rồi bình thản khoác
tay gọi dân làng vào mà bảo: Vào đây, các ngươi hãy vào mà lục xét túp
lều để tìm người phụ nữ. Khi họ không tìm đâu ra bóng dáng người đàn bà.
Đức Giám Mục mới nói: Bây giờ các ngươi hãy quỳ xuống xin lỗi Thiên
Chúa vì đã nói xấu vị ẩn tu vô cớ. Nhưng sau đó, khi mọi người đã lục
đục kéo nhau xuống núi, Đức Giám Mục tiến lại vị ẩn tu nắm chặt hai bàn
tay của ông. Đưa mắt nhân từ nhưng cương nghị nhìn sâu vào đôi mắt của
ông và chậm rãi nói: Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ mình kẻo mất
linh hồn đấy.
Hai thái độ khác nhau đối với một người lầm lỗi giữa
dân làng và giám mục có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn giáo huấn của Chúa
Giêsu về việc sửa chữa lỗi lầm của nhau. Ngược lại với phản ứng của dân
làng, Đức Giám Mục đã cố gắng áp dụng lời khuyên của Chúa Giêsu. Trong
một tình trạng khó xử, Ngài đã tìm cách đem vấn đề đã được mọi người bàn
tán trở thành một vấn đề cá nhân để có dịp thuận tiện nói chuyện diện
đối diện với vị ẩn tu.
Ngài đã không sửa lỗi ông như một người có thẩm
quyền. Trái lại Ngài đã dùng thẩm quyền của mình để bảo vệ vị ẩn tu để
sau đó có thể khuyên nhủ ông như một người anh em. Ngài không cấu kết
với đám đông để khinh thường và lên án vị ẩn tu đang vấp phạm, nhưng đã
nêu bật mối nguy hiểm của lỗi lầm đối với phần rỗi của đương sự, qua một
lời khuyên nhẹ nhàng nhưng thẳng thắn: “Hỡi người anh em, hãy cẩn thận
giữ mình kẻo mất linh hồn”.
Từ câu chuyện trên, chúng ta thấy nghệ thuật lãnh đạo
và nghệ thuật sửa lỗi cho người vấp phạm của Đức Giám Mục Amôlas thật
là tuyệt vời, và rất ít người có được nghệ thuật này. Người ta có thể
gặp được nhiều tu sĩ tốt, nhưng ít khi gặp được một vị Bề Trên tốt. Bởi
vậy, ngoài những nhân đức cần thiết để làm nên những tu sĩ tốt, các Bề
Trên và Chị Giáo tương lai cần phải có những nhân đức mà tổ chúng con
quy về một số điểm sau:
I. NHỮNG ĐIỀU BỀ TRÊN VÀ CHỊ GIÁO TƯƠNG LAI PHẢI LÀM.
1. Lo phần rỗi linh hồn và cầu nguyện cho chị em
Các Bề Trên và Chị Giáo tương lai phải xác định rằng:
Một Bề Trên dòng hay một Chị Giáo cũng là một Mục Tử coi sóc các linh
hồn. Họ phải biết các con chiên mình từng tên, nghĩa là hiểu biết cặn kẽ
từng người bề dưới của mình cũng như từng người bề dưới phải hiểu biết
bề trên của mình. Bề trên là dụng cụ, là phụ tá của Thiên Chúa để lo cho
linh hồn chị em trong Dòng.
Vậy lo toan số một và trọng đại nhất của tu sĩ là gì?
Thưa là ơn cứu rỗi linh hồn mình. Bề trên, chị giáo là những người Chúa
đặt lên để nâng đỡ, hướng dẫn và cầu nguyện cho bề dưới. Đặc biệt là
đối với những chị em có đức tính cá biệt, Bề Trên và Chị Giáo càng phải
cầu nguyện kiên trì và tha thiết, đặt các em dưới sự hướng dẫn của Chúa,
xin Chúa hoán cải, đổi mới tâm hồn các em, vì không có việc gì mà Thiên
Chúa không làm được.
Ngoài ra, tổ chức các buổi hướng dẫn về đời sống
thiêng liêng, cung cấp những việc đạo đức mà chị em cần đến, những trợ
lực mà luật dòng dành cho chị em, thời gian mà chị em cần để lo việc
linh hồn… chứ đừng để chị em phải tất bật lo lắng nhiều chuyện quá, mà
quên đi phần rỗi của mình thì thật là nguy hiểm. Cả một cuộc đời theo
Chúa, đến khi nhắm mắt lìa đời mà tay vẫn trắng tay, đời này chả được
gì, đời sau cũng mất luôn. Như vậy, thì bề trên và những người có trách
nhiệm phải trả lẽ rất nặng nề trước mặt Thiên Chúa.
2. Phải lo cho sức khoẻ của chị em
FSong song với việc lo phần hồn, Bề Trên và Chị Giáo
có bổn phận lo sức khỏe cho chị em, bởi vì có thực mới vực được đạo, có
xác mới vác được hồn. Phần sức khỏe của chị em là tài sản và kho báu của
Dòng. Trong nội bộ, tình trạng sức khỏe của chị em gắn liền với sự tuân
giữ hoặc lơ là đối với Luật Dòng. Sự an hòa của Dòng cũng lệ thuộc vào
đó. Chị em cần có buồng phổi tốt để tập hát, dạy giáo lý, sinh hoạt; cần
có đôi mắt sáng để băng bó bệnh nhân; cần có bàn tay vững chắc và lực
lưỡng để lo cứu vớt các linh hồn; cần có bộ giò thật khỏe để chạy đến
với những ai lâm cảnh túng thiếu. Vì thế Bề Trên và Chị Giáo tương lai
phải rộng rãi đáp ứng những nhu cầu cho chị em, nhất là cấp phát lương
thực đầy đủ, phải lo cho chị em có được những bữa ăn hằng ngày hẳn hoi,
không có thịt thì ít nhất có tôm, cua, canh, cá, chứ đừng để suốt ngày
rau khô (ruốc Mỹ), tép khô (ruốc Ý), cà nén dài hạn (Việt nam).
Ngoài ra, cố gắng tạo một sân chơi với những môn thể
thao thích hợp cho giới nữ, giúp cho chị em có sức khỏe và đặc biệt giải
tỏa những căng thẳng và bầu khí nặng nề do đời sống cộng đoàn gây nên.
Quan tâm đến chị em ốm đau, già cả, nhất là đau yếu
liệt giường, đau yếu thường xuyên, bề trên và chị giáo tương lai phải
cảm thương và có những săn sóc thích hợp, như sự châm chước về đời sống
khổ chế theo luật dòng, thường xuyên thăm hỏi là dịp bề trên chinh phục
quả tim của chị em. Dưới cái nhìn đức tin, chị em đau yếu giữ một vai
trò lớn trong cộng đoàn, bởi vì tham dự vào những đau khổ của Chúa Kitô,
lôi kéo hồng ân của Thiên Chúa xuống trên Hội Dòng. Vậy Bề Trên và Chị
Giáo tương lai phải kính trọng, cảm thương, thông cảm, và nâng đỡ chị em
đau yếu.
Bề Trên và Chị Giáo tương lai được yêu mến, tiên vàn
không phải do có tài, nhưng là có tấm lòng và tình thương dành cho chị
em của mình. Nét đẹp và duyên dáng của Bề Trên và Chị Giáo tương lai nằm
ở đó. Nhưng để chị em đón nhận được tấm lòng và tình thương của mình
thì bề trên phải đi bước trước, phải xây dựng mối tương quan qua việc
tiếp xúc cởi mở, vui vẻ, chân thành và đơn sơ. Đây là thái độ tốt nhất
để Bề Trên tiếp cận với chị em và tạo sự tín nhiệm của mình nơi chị em,
chứ đừng để chị em coi mình như cảnh sát hình sự, nhìn thấy Bề Trên và
Chị Giáo đi cửa trước, bề dưới chuồn lối cửa sau đi.
Tình thương và tấm lòng của bề trên đối với chị em
còn được thể hiện qua đức nhẫn nhục chịu đựng các nết xấu, nhẫn nhục để
không nản lòng vì những tiến bộ đôi khi rất chậm chạp của bề dưới, nhẫn
nhục để chịu đựng cả những vô ơn, dửng dưng lạnh nhạt của bề dưới đối
với sự tận tâm của mình, nhẫn nhục để không tỏ ra bực bội và nhất là
không bao giờ để lòng oán hận, thù ghét, không bao giờ nổi giận lôi
đình, cũng không nhiệt tình nóng nảy. Sau cùng nhẫn nhục để tiếp chị em
mình bất cứ giờ nào, về bất cứ việc gì, và đừng bao giờ để cho người
khác thấy rằng họ quấy rầy mình.
Luôn sẵn sàng đón tiếp chị em một cách niềm nở, trên
khuôn mặt, trên ánh mắt, với nụ cười thân thiện, đó là việc làm lớn nhất
của Bề Trên và Chị Giáo tương lai. Sự nhẫn nhục và tận tụy được bộc lộ
ra ở điểm đó, thời gian, việc làm, tài năng không còn thuộc về mình nữa,
nhưng thuộc về Hội Dòng và chị em.
Bề trên và chị giáo tương lai phải tỏ ra có thời giờ
cho chị em, vì nếu tỏ vẻ bận rộn, chị em sẽ không dám nói hết những gì
họ muốn gặp Bề trên để nói, bởi vì có những người chỉ dám nói chuyện của
mình sau khi đã nói đủ thứ chuyện khác,và khi cuộc nói chuyện đã trở
nên dễ dàng, thoải mái, trái tim chị em mới thổ lộ tâm can.
Bề Trên và chị giáo tương lai quên mình đi thì sẽ tha
thiết với công việc sứ vụ của chị em. Khi chị em mình từ xa trở về,
phải hỏi han, tỏ ra vui mừng hoặc cảm thương tùy mỗi trường hợp, chúc
mừng, khuyến khích làm cho cho chị em lên tinh thần, chị em sẽ cảm thấy
hăng hái hơn khi được Bề Trên và chị giáo hiểu biết, yêu mến và quan tâm
đến nỗ lực của mình.
Biết phân chia đúng người, đúng việc, không những Bề
Trên tránh không làm kiệt sức bản thân, và không gây tai hại cho đời
sống thiêng liêng của mình vì trăm ngàn công việc mà còn làm vui lòng
chị em. Chị em sẽ hài lòng vì được dự phần vào công việc của Hội Dòng.
Bề trên sẽ chiếm được trái tim chị em vì Bề trên đã tỏ ra tin tưởng chị
em. Bề trên có thể khiến họ tha thiết với lợi ích, sự tiến bộ và công
việc của Hội Dòng. Bề trên sẽ xử dụng các khả năng khác nhau của chị em
và giúp chị em trau dồi các tài năng Chúa ban. Như vậy, Ngài đang chuẩn
bị những vị Bề trên cho tương lai.
Khi trao cho các chị em công việc gì thì phải trao
phương tiện cần thiết và tối thiểu để chị em chu toàn một cách tốt đẹp,
đồng thời tôn trọng bổn phận, quyền lợi và thành quả của chị em.
Cách riêng đối với Chị Giáo là cộng sự viên và cánh
tay phải của Bề Trên thì phải thấm nhuần đặc sủng, đường hướng huấn
luyện của Dòng và trung thành thực hiện. Cần huấn luyện tâm trước, trí
sau qua từng giai đoạn. Giúp các em có tinh thần cầu nguyện, đời sống
nội tâm, tinh thần tu trì vững chắc, để dám chịu trách nhiệm về cuộc
sống của mình.
Đồng hành với các em về đời sống tinh thần, vật chất
với tư cách là một người mẹ, người chị, người bạn hơn là một chị giáo.
Tôn trọng sáng kiến và giúp các em tuân giữ kỷ luật tốt. Khiêm nhường,
lắng nghe, đối thoại trong yêu thương, không đòi hỏi kết quả quá sức các
em
Khi làm việc thì phải cầu nguyện, bàn hỏi với các vị
linh hướng khôn ngoan và có kinh nghiệm. Công việc đề ra phải mang tính
khả thi, không thái quá, bất cập, xa thực tế.
Chị Giáo phải biết bảo vệ ứng sinh của mình, đặc biệt
khi ứng sinh bị tố cáo những khuyết điểm trong buổi họp cộng đoàn, chị
Giáo phải lên tiếng bệnh vực, nếu là sai, còn nếu đúng thì phải khiêm
nhường xin lỗi vì cách giáo dục của mình. Như vậy ứng sinh sẽ cảm nhận
được chị giáo là người cảm thông với mình và sẽ dễ hoán cải hơn. Đặc
biệt trong thời kỳ chuẩn bị khấn, lời nhận xét và lá phiếu của chị giáo
góp một phần quan trọng cho sự tiến lên của ứng sinh, nên thận trọng,
suy nghĩ, cầu nguyện và có sự cảm thông, các em là con người, mình cũng
là con người, không mắc lỗi này thì lỗi khác, chẳng ai mười phân vẹn
mười, các em cùng chung lý tưởng với mình thì mình phải giúp các em: Chị
ngã em nâng, Chị em như thể chân tay, Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.
Chỉ trong trường hợp lỗi nặng và công khai thì buộc Bề trên và chị giáo
phải chuyển hướng cho các em mà thôi.
Mỗi năm tổ chức ít nhất một đến hai lần cho các em đi
tham quan du lịch. Mỗi tháng cho các em tự do một ngày (trừ tập viện),
về quê thăm gia đình, thăm viếng bệnh nhân, hoặc đi đâu tùy ý, giúp các
em trưởng thành, biết được thế giới và cuộc sống của con người hôm nay
đa dạng và phức tạp. Để từ đó ý thức được bổn phận và trách nhiệm của
một người tu sĩ phải làm gì cho thế giới hôm nay.
Biết rút lui đúng lúc khi thấy mình không còn hợp
thời, không còn khả năng. Noi gương Chúa Giêsu trong việc huấn luyện các
Tông Đồ, phải có đời sống đạo đức tốt và làm gương sáng bằng chính việc
làm của mình chứ không chỉ dựa trên lý thuyết.
II. NHỮNG ĐIỀU BỀ TRÊN VÀ CHỊ GIÁO TƯƠNG LAI NÊN TRÁNH.
Bên cạnh mặt phải và chính đáng mà vị Bề Trên và chị Giáo tương lai phải làm thì có mặt trái và điểm tiêu cực không nên làm:
-
Đó là thái độ độc đoán, cho mình là trung tâm điểm, là khuân mẫu và phương pháp của mình là nhất.
-
Không đánh giá chị em theo bề ngoài và theo tình cảm của mình.
-
Không la mắng chị em khi chưa biết rõ thực hư.
-
Không nói công khai các lỗi của chị em.
-
Không chấp nhận những hành vi xấu của chị em, nhưng luôn sẵn sàng chấp nhận chính con người của chị em.
-
Không buộc chị em phải trình bày lương tâm của họ nếu họ không muốn.
-
Không lấy chị em này để hỏi về chị em khác như là mật thám.
-
Không thiên vị, không thành kiến, không nóng giận và không làm việc cách máy móc.
-
Không nhắc đi nhắc lại mãi về lỗi lầm đã qua của chị em: không ai muốn người khác nhớ lỗi của mình và nhất là cứ thỉnh thoảng lại lôi chuyện cũ ra để đay nghiến một cách đầy thành kiến. Hãy nhớ rằng con người ta có thể thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh. Một lỗi lầm đã qua không thể để cho trở thành một bản án đối với một con người.
III. NHỮNG ĐIỀU BỀ TRÊN VÀ CHỊ GIÁO TƯƠNG LAI MONG MUỐN NƠI BỀ DƯỚI VÀ ỨNG SINH CỦA MÌNH:
-
Mong tất cả các chị em có tinh thần lạc quan, vui vẻ trong đời sống tu trì. Sống vui với mình và với người khác, không ai sống tách biệt một mình một cõi, nhưng phải sống cộng đoàn, hòa nhịp với mọi sinh hoạt của nếp sống cộng đoàn. Mỗi người đều cần có nhau, đều cần phải sống nương tựa nhau, biết sống hòa hợp, bình đẳng với mọi người, biết bày tỏ tình huynh đệ tương thân tương trợ, tình chị em trong sáng đối với nhau. Để được như vậy, chị em phải biết sống khẩu hiệu: Nghĩ tốt, nói tốt và làm tốt cho nhau.
-
Xác định rõ nền tảng chân tu của mình là theo sát và họa lại nếp sống của Đức Kitô Nghèo Khó, Khiết Tịnh và Vâng Phục.
-
Đời sống gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể, qua và nhờ Mẹ Maria.
-
Có tinh thần trách nhiệm xây dựng Hội Dòng: Tuân giữ kỷ luật Dòng với lòng mến. Thành thật với chính mình. Hiểu, sống và làm phát triển đặc sủng Dòng.
-
Quan tâm đến người khác và sống hiếu thảo. Khiêm nhường, lắng nghe, tha thứ và đón nhận nhau trong cuộc sống.
-
Trong công việc tông đồ: nhiệt tình, hăng say, dấn thân và sẵn sàng nhìn thẳng vào những khó khăn để đương đầu với nó.
-
Trong cộng đoàn phải sống tình liên đới, cộng tác và cư xử với nhau bằng tình bác ái của Chúa Kitô, như vậy cuộc sống cộng đoàn sẽ dễ thở hơn, ấm cúng hơn. Cho dù cộng đoàn có lủng củng, có bất hòa, thì mỗi thành viên phải là ánh lửa tình yêu, nhịp cầu hiệp thông, phải là chiếc phao nâng đỡ tha thứ. Phải sống thế nào để cho người ta có thể nói: Niềm vui và tình yêu Chúa Kitô vẫn còn cháy sáng trong tôi, trong lòng mọi người.
Nói chung cầu mong tất cả mọi thành viên trong Hội
dòng từ Bề trên xuống bề dưới sống trưởng thành về đời sống nhân bản,
đời sống thiêng liêng và đời sống tu trì.
IV. NHỮNG ĐIỀU BỀ TRÊN VÀ CHỊ GIÁO TƯƠNG LAI MONG MUỐN CHỊ EM NÊN TRÁNH:
-
Không làm khổ và nói xấu chị em trong Hội Dòng, vì nói xấu chị em mình là nói xấu chính Hội Dòng.
-
Không sống giả hình: “chủ vắng nhà gà mọc râu tôm”.
-
Không thái quá và bất cập trong mọi lãnh vực.
-
Không chạy theo model thời đại về hình thức bề ngoài như cách ăn mặc, tiền của vật chất…
-
Không quá chú trọng đến tài năng của mình và tìm mọi cách trau dồi cho nó mà quên đi mục đích thiết yếu của đời tu.
-
Không cậy vào khả năng của mình mà coi thường Bề Trên và chị em khác.
-
Không cho mình là số một, là quan trọng nhất của Hội Dòng, vì không có mợ thì chợ vẫn đông.
-
Không nịnh hót Bề Trên.
-
Không ù lì, ích kỷ, một mình một kiểu.
V. KẾT LUẬN
Tổ chúng con vừa phác họa bức chân dung vị Bề Trên và
Chị Giáo tương lai, với những điều nên làm và không nên làm, cũng như
những điều mong đợi hay không mong đợi nơi chị em của mình.
Nhưng chung quy lại, để một tu sĩ sống đúng chân tu
của mình, một cộng đoàn sống đúng đặc sủng của mình, một cộng đoàn thực
sự yêu thương, một cộng đoàn thực sự phát triển thì tất cả mọi người
phải có cái nhìn đức tin, nhìn Chúa Giêsu hiện diện trong mọi người – Bề
Trên tôn trọng Chúa Giêsu nơi chị em mình, ngược lại chị em kính trọng,
tuân phục và yêu mến Chúa Giêsu nơi Bề Trên và những người có trách
nhiệm.
Thứ đến sống trong cộng đoàn chị em phải liên đới, bổ
túc và nâng đỡ nhau, giúp nhau trưởng thành về đời sống nhân bản, đời
sống tâm linh, đời sống tu trì để đạt tới sự trọn lành như Chúa Giêsu
khuyên bảo: “Anh chị em hãy nên trọn lành, như Cha trên trời là Đấng
trọn lành”.
ƯỚC GÌ VỊ BỀ TRÊN VÀ CHỊ GIÁO TƯƠNG LAI MỖI NGÀY HÃY
HỌC VỚI ĐỨC GIÊSU VỀ TẤM LÒNG NGÀI DÀNH CHO CÁC MÔN ĐỆ: “NGƯỜI VẪN YÊU
THƯƠNG NHỮNG KẺ THUỘC VỀ MÌNH CÒN Ở TRẦN GIAN, VÀ NGƯỜI YÊU THƯƠNG HỌ
ĐẾN CÙNG” (Ga 13,1).
[3]
I. MỞ BÀI
Tuổi trẻ là sức sống và tương lai của Hội Dòng. Số
phận của Hội Dòng sẽ tùy thuộc rất nhiều vào việc huấn luyện, dạy dỗ,
hướng đường cho các em trẻ trong thời buổi hiện tại. Vậy nếu bạn là một
Chị Giáo hay Bề Trên trong tương lai, bạn sẽ làm gì? Và sẽ không làm gì?
Cho các huấn sinh cũng như bề dưới của bạn, bạn mong muốn gì hay không
mong muốn gì nơi họ?
Trước khi đi vào vấn đề chính, thiết tưởng chúng ta
cùng nhau nhìn lại xem quan điểm của các thế hệ đi trước và quan điểm
của người trẻ hôm nay như thế nào?
II. THÂN BÀI
1. QUAN ĐIỂM CỦA CÁC THẾ HỆ ĐI TRƯỚC VÀ CÁC THẾ HỆ ĐI SAU:
Nói chung con đường tu hành của các thế hệ đi trước
nhấn mạnh nhiều đến các hình thức tập luyện nhân đức thường dựa trên nền
tảng chung là vâng lời, khổ hạnh và nhẫn nhục, nhiệm nhặt và hi sinh
cao độ. Nhưng mặt khác cũng không phải là không có những hạn chế. Có
những người đạo đức “có củ” và rất có “tinh thần chung”, nhưng lại ứng
xử đôi khi thiếu tình người.
Còn người trẻ thì sao? Người trẻ ngày nay tự mãn với
những suy nghĩ và lập trường đã học được, nhưng thiếu can đảm để thực
hiện nỗ lực ấy. Nhiều khi họ cố tìm cho mình một “lập trường đúng đắn”
và nghĩ rằng thế là đủ. Thành ra nhiều lần họ đưa ra những lập trường
đầy tính thần học, nhưng trong đời sống họ lại chẳng có chút thần nào.
Họ đề cao cái tôi, cố gắng để thăng tiến bản thân hơn là cho tinh thần
sứ vụ. Họ sẵn sàng lớn tiếng phê phán cộng đoàn và phê bình người khác
nếu như không phù hợp với quan điểm của họ.
Người trẻ hôm nay nhạy cảm trước những vấn đề của
thời đại. Chán những gì bình thường, tẻ nhạt, thiếu sức sống, không hấp
dẫn… thích đặt vấn đề, tìm tòi, canh tân, sáng tạo và những gì độc đáo.
Thích dùng ngôn ngữ biểu tượng, văn hoa, bóng bảy, có cánh và rất dễ bị
lôi cuốn bởi những cái mới. Người trẻ thích độc lập, khát khao tự do và
đòi được tôn trọng, lắng nghe. Họ rất dị ứng với những cấm đoán, nguyên
tắc có sẵn. Chú trọng đến học hành, phát triển tài năng. Thích lý sự để
biện minh hay bao che cho thái độ, nếp sống hoặc những sai sót của mình
hơn là sửa chữa.
Đứng trước tâm lý của người trẻ như thế – chúng ta
những con người còn đang trẻ, nhưng một lúc nào đó chúng ta không còn
trẻ nữa mà sẽ đóng vai trò là người đồng hành, hướng dẫn, tư vấn cho
người trẻ. Vậy chúng ta sẽ làm gì?
2. CÁC VIỆC SẼ LÀM CHO CÁC ỨNG SINH VÀ BỀ DƯỚI:
Là một Chị Giáo hay Bề Trên tương lai, điều đầu tiên
và trên hết là mỗi người cần phải ý thức rằng đó là một ân ban tài năng
Thiên Chúa ban cho, chứ không phải do tự sức riêng của mình. Vì vậy cần
phải cậy dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, lấy Chúa làm mẫu mực, làm
khuôn thước. Thật vậy, Cựu Ước đã nhiều lần giới thiệu Thiên Chúa như
người Cha nhân hậu, luôn kiên nhẫn dạy dỗ dân tộc Israel bước đi trên
con đường công chính, bằng đôi chân nhân loại nhỏ bé của mình: “Ta đã
tập cho Epraim bước đi, đã dìu chúng trong cánh tay, nhưng chúng không
hiểu rằng ta lấy dây nhân nghĩa và dây tình yêu mà dìu họ bước đi”
Thứ đến ta luôn nhớ đời sống của chúng ta có ảnh
hưởng rất lớn đến đời sống của các em bởi vì: “Gần son thì đỏ, gần mực
thì đen, gần người hiền thì sáng, gần người tài thì khôn, gần người lành
thì có đức, gần người ngu thì dại, gần kẻ nịnh hót thì a dua, gần đứa
tham lam thì trộm cướp”. Cho nên đời sống của tôi phải cư xử thế nào để
nêu gương sáng cho các em về mọi mặt như: đời sống cầu nguyện, làm việc,
ăn uống, ngủ nghỉ…
Ý thức được như thế chúng ta sẽ mặc vào lối sống, mặc
vào cách cư xử của chúng ta một “tình yêu” hay “một tấm lòng”. Tấm lòng
ở đây chính là khả năng đón nhận các em, hội nhập các vấn đề của các em
trong sự an hòa, bao dung, quảng đại và từ bi. Biết đặt mình vào hoàn
cảnh của các em để dễ dàng chấp nhận những ưu khuyết điểm để đối thoại,
gợi mở và hướng tới một chân trời lý tưởng. Ta không nhìn cuộc đời như
mảnh vụn để phê phán, nhưng trân trọng nét độc đáo của từng em. Hãy đặt
mình vào hoàn cảnh từng em và nhớ lại nếu ta bằng tuổi các em ta cũng sẽ
như thế, từ đó ta dễ dàng thông cảm với các em hơn. Nói tóm, ta phải có
cái nhìn “soi lòng người” để thấy được điểm mạnh, điểm yếu của từng em
và đồng hành với các em.
Luôn sống vui vẻ, hài hòa, quan tâm và yêu thương tất
cả các em, bởi vì chúng ta được mời gọi để tiến tới một tình yêu chan
hòa cho tất cả, chứ không dành riêng cho em nào, để các em cảm nhận được
sự gần gũi và tình thương của Thiên Chúa dành cho các em.
Khi nghe các em tâm sự hay hỏi ý kiến về một vấn đề
gì đó, chúng ta cần kiên nhẫn, lắng nghe, và sáng suốt tìm hiểu, nhận
định đâu là phải, đâu là trái, không phải bất cứ một chuyện gì cũng chấp
nhận, không phải bất cứ chuyện gì cũng từ chối hay cáu kỉnh mà vô tình
làm tổn hại đến lòng kính mến của các em.
Là một Chị Giáo hay Bề Trên chúng ta phải luôn sống
theo phương châm: “Khi tư vấn chúng ta là những chuyên gia, còn khi nói
chuyện chúng ta là bạn hữu”. Có nghĩa là khi giảng dạy hay khuyên bảo
chúng ta phải thực sự dùng hết khả năng của mình để phân tích, giảng
giải cho các em. Còn khi nói chuyện, vui đùa chúng ta phải trở nên gần
gũi, thân mật, nhẹ nhàng, dịu dàng như người bạn, người chị, người mẹ
trong gia đình, để các em thực sự tin tưởng, cởi mở và an tâm vững bước.
Và điều quan trọng nhất là phải tuyệt đối giữ bí mật
điều các em tin tưởng tâm sự với mình, không nói ra khi không cần thiết.
Khi các em sai lỗi ta không nên vội vàng kết án, nhưng phải thật bình
tĩnh để tìm hiểu ngọn nguồn, hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến sai lầm, để tìm
ra hướng sửa chữa cách hữu hiệu nhất, làm sao để các em không nhìn mình
như một quan tòa xét xử hay giám sát viên chuyên gia bới lông tìm vết,
nhưng phải sống và cư xử thế nào để các em hiểu rằng mình cư xử như thế
là chỉ muốn cho các em nên tốt mà thôi.
Khi các em đã nhận ra lỗi lầm của mình chúng ta phải
có lòng vị tha, tinh thần bao dung để các em không cảm thấy sợ vì mình
lầm lỗi, nhưng cần tạo bầu khí bình an, an toàn. Cần tiếp tục đồng hành
nâng đỡ để các em không tái phạm nữa.
Về đời sống vật chất các Bề Trên luôn khuyến khích
các em hãy theo gương đời sống khiêm hạ của Đức Giêsu, nhưng cũng đừng
eo hẹp quá, miễn sao đảm bảo được cho chị em có một đời sống bình dị
nhưng an vui và khỏe mạnh để các em sống tốt ơn gọi của mình. Cũng như
cần quan tâm đặc biệt tới sức khỏe của các em, khích lệ, động viên tinh
thần các em yếu đuối để các em không cảm thấy mình bị bỏ rơi hay trở
thành người vô dụng trong cộng đoàn.
Khi lên lớp với các em, ta nên trình bày những điều
thực tế, thiết thực, phù hợp với cuộc đời hiện tại, đừng trình bày những
điều viển vông, thiếu thực tế, và cũng đừng nói một đàng làm một nẻo.
Cũng không cố gắng nhồi nhét, sửa chữa theo kiểu uốn nắn, cắt tỉa, rèn
luyện, rập khuôn mà là đón nhận chia sẻ, gợi ý, giới thiệu, khai mở để
các em tự lớn lên, tự trưởng thành trong đời sống của các em. Nếu không,
có thể các thụ huấn sinh sẽ trở thành những Rôbôt chỉ biết làm việc
dưới sự chỉ đạo của con người. Cũng cần tạo điều kiện cho các em học
tập, nâng cao kiến thức để theo kịp thời đại, để làm việc tông đồ tốt
hơn.
Điểm cuối cùng, một Bề trên hay một Chị Giáo tương
lai nên làm là phải luôn luôn khiêm tốn để đón nhận, tiếp thu ý kiến từ
các em cũng như những ý kiến từ phía Bề Trên và những người có kinh
nghiệm trong cộng đoàn, để ngày càng đạt kết quả cao hơn trong vai trò
và trách nhiệm của mình.
Nói tóm lại: bên cạnh cái trí, một Chị Giáo hay một
Bề Trên tương lai cần phải có một cái tâm. Cho dù hoàn cảnh khó khăn,
điều kiện làm việc eo hẹp và khả năng chuyên môn giới hạn đến đâu đi
nữa, có một điều không thể thiếu nơi người phụ trách đó là một tấm lòng,
sự tận tụy, thái độ bao dung và tình yêu thương.
3. CÁC VIỆC SẼ KHÔNG LÀM CHO CÁC ỨNG SINH VÀ BỀ DƯỚI
Không bao giờ dùng quyền bính để áp đặt các em, bắt
các em làm theo ý riêng của mình. Không cứ lúc nào cũng cho mình là
đúng, là hay, là phải, lấy mình làm chuẩn mực, làm thước đo. Luôn ý thức
được nhiệm vụ của mình là đồng hành, giáo dục, sửa sai, chứ không phải
là giám sát viên để bới lông tìm vết nơi các em.
Đối xử công bằng, không thiên tư tây vị, không quá
quan tâm hay quý mến riêng em nào để tránh tình trạng mất đoàn kết giữa
các em. Và ngược lại cũng không để cho mình rơi vào tình trạng yên trí,
định kiến về một đối tượng nào đó khiến cho em đó luôn sợ sệt, tự ti,
lẩn tránh…. Và không thể vươn lên được.
Khi các em sai lỗi và đã được sửa thì không nên nhắc
đi nhắc lại lỗi của các em, khiến các em dễ mặc cảm, khổ tâm và nhụt
chí: “đánh kẻ chạy đi, chứ ai đánh kẻ chạy lại bao giờ”.
Không nên vội tin lời báo cáo của một ai đó hay của
chính các em về một người chị em khác, mà không chắt lọc tìm hiểu rõ,
gây bầu khí nghi ngờ, hận thù… Không vội vàng kết luận và nghiêm khắc sử
dụng biện pháp ngay mà không hề cho các em biết lỗi lầm của mình, không
cho giải thích và biện minh, không cho cơ hội cũng như thời gian để sửa
chữa và đổi mới.
Không làm gương xấu, gương mù cho các em để nên cớ
vấp phạm cho các em, để các em nói hành chế nhạo mình. Khi các em tin
tưởng tâm sự thì không nên tiết lộ điều các em đã tin tưởng nói ra,
khiến cho các em xấu hổ, mất danh dự. Không nên lúc nào cũng cáu gắt, hễ
cất lời lên là ra lệnh, nghiêm mặt khiến các em không dám đến gần.
Trong các buổi gặp gỡ, chia sẻ chung không nên quá
dài lời, nói dài, nói dai thành ra nói dở, mà chỉ nên ngắn gọn, đủ ý,
nói những gì cần thiết sao cho các em dễ chấp nhận và không chán nản.
Không sống giả tạo, nhưng chân thành trong lời nói, trong việc làm, nên
nói ít làm nhiều thì tốt hơn nói nhiều mà làm ít.
Không nên nghe lời nịnh của một số em muốn lấy lòng
Bề Trên nên luôn kiếm câu chuyện làm quà hay nay biếu cái này, mai biếu
cái khác vì đã “ăn rồi thì khó nói”. Biết làm sao đây?
Không nên trao nhiệm vụ vượt quá khả năng của các em khiến các em lo lắng và không chu toàn bổn phận cho tốt được.
4. NHỮNG ĐIỀU MONG MUỐN NƠI BỀ DƯỚI.
Tâm lý chung của người dưới là coi Bề Trên của mình
như người quản lý và ban truyền luật lệ, nên thường tỏ ra dè dặt, thiếu
cởi mở, đôi khi còn sợ sệt, nên không dễ bộc lộ tâm tình, sống bề ngoài,
bằng mặt chứ không bằng lòng. Vì thế Bề Trên thường rơi vào tình trạng
cô độc và ít gần gũi được với bề dưới, nên Bề Trên mong muốn ở bề dưới:
Trước tiên các em phải có một tình yêu: tình yêu đối
với Chúa, với chị em của mình và với ơn gọi mình đang sống. Thánh
Augustinô đã nói: “Bạn cứ yêu đi rồi bạn muốn làm gì thì làm”, tình yêu
sẽ giúp các em có một đời sống nội tâm sâu xa hơn, giúp các em nhìn nhận
ra được sự cao quý của con đường mà các em đã chọn.
Thứ đến, khi các em đã có một tình yêu, một đời sống
nội tâm sâu xa, các em sẽ nhìn nhận Bề Trên như một người được Chúa gửi
đến để cùng đồng hành với các em, chứ không phải là những người được đặt
nên để thống trị.
Từ đó các em sẽ biết tích cực cộng tác với Bề Trên,
để cùng nhau thăng tiến bản thân cũng như giúp Bề Trên chu toàn bổn phận
của mình cách tốt nhất, giúp cho Hội Dòng ngày càng phát triển hơn.
Biết thông cảm cho những yếu đuối cũng như khả năng
hạn hẹp của Bề Trên, không nên phê bình, chỉ trích sau lưng nhưng biết
chân thành góp ý khi Bề Trên thiếu sót, khuyết điểm. Không nên chỉ nhìn
vào ngững lỗi lầm đó và lấy cớ để không cố gắng bởi vì Bề Trên có làm
đâu mà tôi làm, Bề Trên cũng thế thì tôi tốt làm sao được. Mà trái lại
phải vượt lên trên ý nghĩa tầm thường đó để cố gắng vươn lên.
Coi Bề trên là chỗ dựa vững chắc, là nơi tin tưởng
nhất để mình tâm sự, chia sẻ mỗi khi gặp sóng gió trong cuộc đời. Luôn
biết cầu nguyện cho Bề Trên để Bề Trên có đủ sức mạnh, trí khôn ngoan và
lòng nhiệt thành để chu toàn bổn phận trong địa vị của mình.
Còn về phía bản thân các thụ huấn sinh, với tư cách
là các Bề Trên, các ngài luôn luôn mong muốn cho các em của mình đạt tới
mức độ trưởng thành toàn diện về đời sống nhân bản, tâm linh, trí thức
và mục vụ.
a. Về Đời Sống Nhân Bản
Các em phải có khả năng yêu thương, biết yêu và trách
nhiệm về chính bản thân, và từ đó mở rộng đến tha nhân bằng một tình
yêu rộng mở, chứ không khép kín, co cụm vào một đối tượng nào.
Luôn ý thức về chính mình và vai trò sứ vụ của mình.
Luôn nhớ tôi là ai? tôi phải làm gì? Làm như thế nào? Tại sao tôi làm?
Và sẵn sàng chịu trách nhiệm về những gì mình làm.
Khi các em đã ý thức về chính mình, các em cần có
thái độ cởi mở, nghĩa là mở rộng tầm nhìn ra cho người khác và cái khác.
Chứ không co cụm và khép kín trên chính mình qua đó các em sẽ được lớn
lên, được phát triển dưới nhiều góc độ.
Luôn biết chấp nhận thực tế và có cái nhìn đúng đắn
về thực tế và bản thân, không tự cao tự đại, mà cũng chẳng giả bộ, trái
lại biết chấp nhận hoàn cảnh, môi trường, cuộc sống và khả năng của
mình. Không giấu giếm, không đóng kịch để che giấu con người thật của
mình. Sẵn sàng và mạnh dạn nói lên cách xác tín về quan điểm của mình
trước một vấn đề nào đó.
Luôn biết thích nghi: nghệ thuật sống là thích nghi
và nhập cuộc: “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, từ đó các em sẽ sẵn sàng
chấp nhận những thay đổi của Bề Trên và thích nghi với những hoàn cảnh
của các cộng đoàn mà các em được gởi tới.
b. Về Đời Sống Tâm Linh
Là một người phụ trách không ai là không ước mong cho
các em có một ước vọng chân thành muốn dấn thân triệt để cho Chúa Kitô,
luôn trung thành với ơn gọi của mình bằng cách sống triệt để ba lời
khuyên Phúc âm. Cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống hằng
ngày, luôn biết đối thoại với Thiên Chúa, nghe tiếng Ngài và quảng đại
đáp lại lời mời gọi của Ngài. Coi Ngài như người cố vấn, người Bạn thân
tín, người Cha nhân từ kiên nhẫn lắng nghe ta.
Khi cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong
cuộc đời, lúc đó các em sẽ nhìn mọi sự và đánh giá cuộc sống dưới ánh
sáng của Lời Chúa, chứ không nhìn theo con mắt của nhân loại.
Để làm được điều đó không gì khác hơn là các em phải
có một đời sống cầu nguyện, ưa thích học hỏi Lời Chúa và đem ra áp dụng
trong cuộc sống hằng ngày.
c. Về Đời Sống Tri Thức
Đứng trước một xã hội không ngừng phát triển, tri
thức trở thành tấm hộ chiếu của mỗi người. Việc học hỏi nâng cao kiến
thức để theo kịp thời đại, để có thể truyền đạt Tin Mừng của Chúa bằng
chính ngôn ngữ của họ. Muốn đạt được điều đó, chúng ta phải không ngừng
học hỏi, nghiên cứu, phải có những tư duy mới, biết sáng tạo, năng động,
có khả năng đem chất xám vào hoạt động tông đồ, ngõ hầu có thể trả lời
cho những thách đố của thời đại hôm nay.
d. Đời Sống Tông Đồ ( mục vụ)
Đời sống của các em sẽ chưa trọn vẹn nếu như các em
chưa có tâm hồn truyền giáo, nghĩa là các em phải ý thức được vai trò và
sứ vụ của mình là được chọn gọi và được sai đi. Vì thế các em phải có
một tâm hồn khao khát truyền giáo, mong muốn cho Tin Mừng của Chúa được
loan truyền đi khắp mọi nơi, dù có phải gặp nhiều gian truân sầu khổ,
nhưng luôn nghe được tiếng vang vọng của Thiên Chúa: “ Hãy ra chỗ sâu mà
thả lưới”.
5. NHỮNG ĐIỀU KHÔNG MONG NƠI BỀ DƯỚI.
Bên cạnh những điều mong muốn nơi các em thì ngược
lại với tâm tình của một người mẹ, một người chị, chúng ta sẽ không hề
mong muốn hay trông đợi nơi các em một số điều sau đây:
-
Thiếu đời sống nội tâm, đời sống kết hợp sâu xa với Thiên Chúa, dẫn đến lơ là, bỏ bê các giờ kinh nguyện chung, bê trễ trong việc bổn phận hằng ngày, dẫn đến thiếu tin tưởng và cậy dựa vào tình thương của Thiên Chúa, cho rằng mọi sự mình có được, làm được là do sức riêng của mình và hậu quả bi đát là đến một lúc nào đó lý tưởng tu trì sẽ không còn sức hấp dẫn lôi cuốn nữa và dẫn đến chán nản trong đời sống tu trì.
-
Coi Bề Trên như người xa lạ, không quan tâm hoặc vì khinh thường hoặc quá kính trọng đến nỗi sợ hãi không dám đến gần, không dám đối thoại, chỉ biết gọi dạ bảo vâng. Và như vậy sẽ tạo ra một khoảng cách xa lạ giữa bề trên và các em.
-
Thiếu tinh thần chung, không nhiệt tình xây dựng cộng đoàn mà chỉ biết lo cho bộ lông, bộ cánh của mình, tìm thăng tiến bản thân và an toàn về đời sống vật chất. Cá nhân chủ nghĩa cao và ít nhạy cảm trước nhu cầu của chị em.
-
Nói hành, nói xấu, phê phán, chỉ trích nhau, gây bè cánh làm mất sự đoàn kết trong cộng đoàn. Đưa chuyện của chị em để trình với Bề Trên khi không cần thiết, hay lấy câu chuyện làm quà để lấy lòng Bề Trên.
-
Quá say mê học để đạt được bằng này, bằng kia đến độ mất quân bình giữa yêu cầu trí thức và tinh thần tu trì, nên nhớ là học để mà tu chứ không phải tu để mà học.
-
Quá mải mê làm việc tông đồ và hòa đồng với đời quá để không còn thời giờ lo cho việc bổn phận và đời sống chung với chị em. Hay làm việc tông đồ cốt là để làm vinh danh cá nhân mình chứ không phải nhân danh Hội Dòng .
-
Đua đòi chạy theo thời thế về cách nghĩ, cách nhìn, nếp sống. Đã bỏ mọi sự để đi tu thì cũng đừng cố vớt vát những chuyện nhỏ nhặt không cần thiết.
-
Thiếu chân thành, đạo đức giả. Hay chối quanh, bao che cho nhau, cũng đừng ù lì, cố chấp.
-
Nghi ngờ, thiếu tin tưởng nơi Bề Trên và vì sợ bị loại mà sống khép kín, nhiều khi đóng kịch, sống dựa giẫm, nín thở qua cầu, cốt sao “tai qua nạn khỏi”.
-
Ngôn hành bất nhất: “nói một đàng làm một nẻo, nói thì rất hay nhưng lại ít mó tay vào, vui đó rồi buồn đó, lúc thì hăng say nhiệt tình nhưng lúc lại nản chí, bất mãn, chán nản, buông xuôi.
III. KẾT LUẬN
Tóm lại: Để xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp và hài
hòa giữa Bề Trên và bề dưới, để cả hai phía cùng lớn lên và sống đẹp ý
Chúa trong vai trò của mình. Chúng con thiết nghĩ không thể có thành
công được nếu chỉ có sự cố gắng từ một phía, trái lại cả Bề Trên và bề
dưới đều phải nhận ra vai trò quyết định của mình trong mối quan hệ đó.
Vì thế sẽ có được sự thành công tốt nhất nếu như tự bản thân mỗi người
cùng nỗ lực cố gắng và xây dựng bằng cách hãy chuẩn bị cho bản thân mình
những hành trang tốt nhất trước khi đối diện với người khác và biết nỗ
lực cộng tác với nhau trong chân thành, yêu thương và đầy sự thánh
thiện. Để được như thế không gì khác hơn là chúng ta hãy noi gương
Giêsu, là Chúa, là Thầy, là Anh Cả, là Bạn, là Bề Trên của tất cả chúng
ta.
[4]
Dẫn Nhập
Là người Kitô hữu, chắc chắn ai trong chúng ta cũng
đã nghe biết quy tắc vàng được ghi trong Kinh thánh: "Điều anh em muốn
người khác làm cho mình thì anh em cũng hãy làm cho người ta, và điều
anh em không muốn người khác làm cho mình thì anh em cũng đừng làm cho
họ". Khởi đi từ quy tắc đó, các thành viên trong tổ chúng con nhận định
một số điểm cần làm và một số điểm không nên làm cho các Bề dưới và
những người thuộc quyền mình; cũng như mong đợi những điều tốt lành phát
xuất từ các ứng sinh và những điều xấu đừng xảy ra nơi họ.
I. Những điều Bề trên nên làm và không nên làm:
1. Những điều nên làm:
a/ Đối với chính bản thân mình:
Điều trước hết và trên hết của BT hay Chị giáo cần có
là đời sống cầu nguyện. Cầu nguyện là một việc rất đơn giản nhưng lại
rất cần thiết và quan trọng. Nếu một người BT hay Chị giáo mà không có
đời sống cầu nguyện thâm sâu, kết hợp với Chúa thì rất đáng buồn và lo
ngại. Không ai có thể vô tâm nói rằng mình không thể cầu nguyện cho ai
cả, phương chi là một BT hay Chi giáo. Vì không ai có thể làm điều gì mà
không do Thiên Chúa ban.
Quả thực, một vị BT hay Chị giáo khi đã có đời sống
cầu nguyện, kết hợp mật thiết thâm sâu với Thiên Chúa thì cũng có thể dễ
hiểu biết được Thiên Chúa, hiểu biết được chính mình và hiểu được người
khác. Từ đó luôn coi trọng việc đào tạo và tự đào tạo chính bản thân
mình. Đào tạo là một lộ trình của đời người về đời sống nhân bản cũng
như đời sống tâm linh. Một con người biết đào tạo và tự đào tạo chính
bản thân mình mới có thể đứng vững trước vòng xoáy xã hội của con người
ngày nay.
Mặt khác, quy luật của con người là chuyển động: hoặc
tiến hoặc lùi, chứ không thể đứng nguyên tại chỗ. Vì thế, tổ chúng tôi
tán đồng một khẩu hiệu "Học để biết, học để làm, học để làm người và học
để sống với nhau" (Trích Thông điệp của UNESCO về giáo dục trong thế kỷ
XXI); và đồng ý với ông Quản Trọng: "Kế một năm không gì bằng trồng
lúa, kế mười năm không gì bằng trồng cây và kế một trăm năm không gì
bằng trồng người". Vậy là ai đi nữa cũng đều cần có một thời gian dài để
học tập và rèn luyện thì mới có thể trở nên một con người xứng đáng là
người. Hay nói cách khác dù là BT hoặc Chị giáo thì cũng phải học, như
nhà triết học kia đã nói: "Học, học nữa, học mãi".
b/ Đối với tha nhân, đặc biệt là những ngươì dưới quyền. Chúa
Giêsu trả lời với Philatô: "Vua chẳng có quyền gì trên tôi nếu Trời
không ban quyền ấy cho vua". Điều đó khẳng định một cách chắc chắn rằng
mọi quyền bính đều phát xuất từ Thiên Chúa, nghĩa là chính Chúa muốn
trao cho quyền ấy cho Bề trên hay chị giáo. Và khi được trao trách
nhiệm, BT hay Chị giáo phải ý thức sự giới hạn của mình để cố gắng thực
sự trở nên mọi sự cho mọi người thuộc quyền mình, quan tâm cho họ cả vật
chất lẫn tinh thần bao nhiêu có thể:
Về vật chất: Cha ông ta thường nói "Có thực
mới vực được đạo". Để có một tinh thần khoẻ mạnh trong một thân xác
tráng kiện thì điều trước hết phải liệu cho các thành viên trong Cộng
đoàn có đầy đủ tối thiểu những nhu cầu cần thiết về vật chất như ăn
uống, các điều kiện vệ sinh hằng ngày… Quan tâm đặc biệt các thành viên
bị ốm đau bệnh tật một cách ân cần và chân thành yêu thương. Bởi mỗi
người chúng ta khi đau ốm đều cảm thấy: mất tiền bạc chỉ là mất ít, mất
thì giờ là mất khá nhiều, còn mất sức khoẻ là mất tất cả.
Về tinh thần: Để các thành viên trong Cộng
đoàn luôn có một tinh thần thoải mái, thanh thản, bình an, có lẽ điều
đầu tiên BT hay Chị Giáo nên làm là hiểu biết, cảm thông và yêu thương
trung thực đối với các ứng sinh và những người thuộc quyền mình, bởi
nhân vô thập toàn nên ai cũng cần được sự thông cảm tha thứ của người
khác. Đồng thời phải tin tưởng nơi những người dưới quyền mình, vì niềm
tin đó mang lại là sức mạnh biến đổi cho mọi người.
Cổ nhân thường nói "Một sự bất tín vạn sự bất tin",
khi đã đánh mất niềm tin nơi ngừơi khác thì coi như mất mọi sự. Vì thế,
cần thiết đặt niềm tin nơi chị em và khi đã tin thì phải giao nhiệm vụ
cho họ, tạo cơ hội để giúp mỗi người phát triển tài năng, lòng chân
thành, tính năng động và óc sáng tạo. Mặt khác, cần định hướng cho những
người thuộc quyền mình một lối sống lành mạnh, một tinh thần trung
thực, một sự can đảm dấn thân, biết lãnh nhận trách nhiệm, có lòng khoan
dung nhân ái vv… và tự kiềm chế được những đam mê khác.
Để có những con người hiểu biết, trưởng thành trong
Cộng đoàn thì cần phải đào tạo. Việc đào tạo này phải nhắm tới bốn chiều
kích: nhân bản, tâm linh, tri thức và mục vụ. Nếu là BT hay Chị giáo
tương lai, nhóm quyết tâm sẽ cố gắng đào tạo liên tục, liên đới và toàn
diện cho ứng sinh, đặc biệt cho những người có khả năng chuyên môn trong
các lãnh vực riêng và theo nhu cầu của Cộng đoàn, của Giáo hội hôm nay
và ngày mai… Cần có một sự đào tạo liên tục, liên đới và xuyên suốt chứ
không phải đào tạo theo thời, nghĩa là sự đào tạo nhân tài trong Cộng
đoàn không phải phụ thuộc vào cảm hứng của mỗi BT: Có thể thời BT này
thích thì đem đi đào tạo nhưng thời BT khác không thích lại mang về,
hoặc sử dụng không đúng với chuyên môn của họ.
Một điều cần thiết nữa là phải cố gắng tôn trọng sáng
kiến của chi em, biết nghi ngờ bản thân mình để nhận ra những điều tốt
nơi những người. Hơn nữa, chị em cùng hợp tác với nhau để thực hiện
những sáng kiến đó một cách có hiệu quả hơn. Cha ông ta vẫn dạy "Một cây
làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao", chúng ta phải có
tinh thần hợp nhất, đồng tâm nhất trí với nhau, vì đó là sức mạnh của
cộng đoàn.
2. Những điều BT không nên làm:
a. Thiên tư tây vị:
Đây là một trong những yếu tố cơ bản làm đổ vỡ hạnh
phúc và sự hiệp nhất trong Cộng đoàn. Cũng như trong một gia đình, con
nào mà chẳng phải là con? Ở đây còn hơn thế nữa, bởi Cộng đoàn là một
gia đình thiêng liêng đích thực do Chúa Kitô quy tụ. Vì thế mỗi chị em
đều cần được quan tâm một cách đúng mức. Tuy mỗi người có hoàn cảnh khác
nhau, nhưng không phải vì thế mà thương người này ghét người kia. Nếu
có sự yêu thương chân thành ai cũng như ai, nghĩa là mọi người đều cảm
thấy mình được tôn trọng, được sử dụng, được tin tưởng…thì việc quan tâm
chia sẻ cho các chị em theo nhu cầu và hoàn cảnh của họ chắc chắn sẽ
không gây cớ gì cho người khác. Ví như trong gia đình ai cũng biết người
đau yếu cần được quan tâm hơn, và còn khuyến khích chăm sóc cho những
người có số phận hẩm hiu ấy.
Sự thiên tư thiên vị có thể gây ra tình trạng "cảnh
sát bất đắc dĩ", một tệ nạn đáng thương cho Cộng đoàn, đánh mất niềm tin
tưởng nhau. BT hay Chị giáo tương lai cố gắng hết sức có thể để tránh
và tiêu diệt tình trạng đó. Có thể nói "đánh giặc ngoài không bằng diệt
thù trong". Nếu trong một Cộng đoàn hay trong một tổ chức xuất hiện
những "con rối" như thế thì sẽ khó có thể phát triển tốt được.
b. Nghi ngờ, trách mắng vô cớ
BT hay Chi giáo tương lai cần phải tránh sự nghi ngờ,
trách mắng vô cớ. Chúng ta ai cũng biết câu chuyện Khổng Tử và Nhan Hồi
"Thấy vậy mà không phải vậy". Trước những biến cố xảy ra cho chị em ứng
sinh, BT và Chị giáo tương lai phải bình tĩnh, cứu xét tìm hiểu để thấy
rõ nguyên nhân chính yếu của nó, cách khôn ngoan không gây cớ soi mói
cho người khác, mặc dù rất cần sự cố vấn của người khác, nhưng tốt hơn
cả là hãy đến với Thiên Chúa để xin Người soi sáng cho mình biết phân
biệt phải trái.
Tóm lại: Những điều trình bày ở trên là những
điều rất cần thiết cho chúng con khi đứng trong cương vị là BT hay Chị
giáo. Tuy nhiên sẽ có những điều cần thiết khác cho BT hay Chị giáo mà
có thể chúng con chưa trình bày hết. Nhưng chúng con tin rằng những điều
trên không thể thiếu để có thể giúp cho chúng con an tâm trong trách
nhiệm của mình, đưa Cộng đoàn vươn lên, với sự cộng tác nỗ lực của mọi
thành viên trong Cộng đoàn.
II. Những mong mỏi và ưu tư của BT hay Chị giáo
1. Là một BT hay Chị giáo tương lai, chúng con khắc khoải và mong chờ nơi các Ứng sinh:
- Sự gần gũi yêu thương, không sợ hãi tránh né.
Ý kiến chung của nhóm nhận định rằng không có sự suy sụp nào bằng sự cô
đơn. Khi là một người bình thường thì sự cô đơn lẻ loi đã làm mệt mỏi
lắm rồi, sự cô độc đó càng làm cho BT hay Chị giáo giảm sút nhuệ khí
hơn. Nếu BT hay Chị giáo không được các thành viên cộng tác, hợp nhất,
không đối thoại, không tôn trọng và yêu thương thì chắc chắn BT hay Chị
giáo sẽ nản chí và có những lúc còn tồi tệ hơn nữa. Vì đã là người thì
ai cũng cần có sự động viên khích lệ chân thành của người khác, nhất là
những người thuộc quyền mình. Nói như thế không có nghĩa là BT hay Chị
giáo luôn sống theo dư luận "ngã theo chiều gió" hay cần có một "đội
quân thổi phồng" mới làm nên hồn. Chúng ta nhắc nhau “đừng nói có khi có
thể nói không” và “chỉ có yêu thương chân thật mới bền vững”.
- Đời sống trưởng thành. Mong các ứng sinh
sống cuộc sống bình an, sống trưởng thành, sống có mục đích, có định
hướng. Chắc chắn khi mọi người sống có mục đích, có định hướng thì các
việc khác sẽ tiến hành một cách tốt đẹp. Còn khi bất an thì tinh thần
xây dựng Cộng đoàn sẽ không có và nhất là không vươn lên lý tưởng cuộc
đời của mình.
- Sống tinh thần gia đình. Mong mọi người đều
cảm nhận được rằng Cộng đoàn là gia đình đích thực của mình, ngõ hầu các
thành viên sống yêu thương nhau và tiến tới trong ơn gọi đời tu, có đời
sống đạo đức thánh thiện và sống đúng là người nữ tu đích thực.
2. Mong đừng xảy ra những tiêu cực nơi ứng sinh:
a. Không gian dối lươn lẹo, nịnh hót để tiến thân, nhưng mỗi người phải đứng trên đôi chân của mình và sống trung thành trong ơn gọi.
b. Không bè phái, ương ngạnh: nếu trong một
gia đình mà bố mẹ, con cái không hoà hợp, mỗi người đều hành động theo ý
riêng và bảo thủ thì gia đình cũng khó thành công trong cuộc sống và
nghề nghiệp nếu không muốn nói là một gia đình bất hạnh, dễ đổ vỡ.
Phương chi là trong một tập thể hay cộng đoàn tu trì gồm người tứ phương
thiên hạ đến ở với nhau, mỗi người một hoàn cảnh, một trình độ, một
phong tục… và tính tình hoàn toàn khác nhau thì sự hoà hợp lại càng trở
nên khó khăn hơn. Không thể nói “Tính tôi nó thế” hay "Phong tục nhà tôi
như vậy"…
c. Mong sự tự ty đừng xảy ra nơi các thành viên của mình.
Sự tự ty làm cho con người nhát đảm, không dám ngước mắt nhìn lên, luôn
co cụm mình lại. Điều đáng sợ nhất là họ không nhận ra cái mình "LÀ",
mà chỉ luôn nghĩ cái mình "CÓ", rồi ngồi than thân trách phận.
III. Kết luận
Qua phần trình bày trên, chúng ta thấy làm BT hay Chị
giáo không phải là một việc đơn giản vì nó rất phức tạp, nó đòi hỏi nơi
bản thân người BT hay Chị giáo một sự hiểu biết thấu đáo về người, về
mình; cũng như khả năng lãnh đạo và kỹ năng trong lãnh vực chuyên môn.
Nhất là về thái độ và cách cư xử của người BT hay Chị giáo, làm sao để
có thể vui lòng ta đẹp lòng người, nghĩa là vừa thực hiện sự cứng cỏi
nhưng lại vừa mềm mỏng tế nhị, vừa nghiêm khắc nhưng lại vừa vị tha- cảm
thông (yêu họ như họ LÀ), vừa cương quyết vừa thích nghi trong mọi hoàn
cảnh, từng trường hợp và từng cá nhân, vừa mau lẹ nhưng cũng thật bình
tĩnh…
Tất cả những điều này không phải tự nhiên mà có nhưng
nó đòi hỏi sự cố gắng của người BT hay Chị giáo rất nhiều, bởi vì mục
đích của công việc đào tạo có đạt được hay không tuỳ thuộc vào phẩm chất
và năng lực của người BT hay Chị giáo. Không phải ai trong chúng ta
sinh ra lả có khả năng lãnh đạo hay giáo dục, nhưng phải biết tích luỹ
chúng qua quá trình rèn luyện học hỏi, qua việc tham gia các tổ chức và
nhất là phải rút kinh nghiệm từ những gì mình nghe và thấy trong cuộc
sống, để làm hành trang cho cuộc đời của mình.
Để có thể trở thành một người BT hay Chị giáo tốt thì
ngoài tất cả những năng lực cần thiết, chúng ta còn phải nhìn vào mẫu
gương của Chúa Giêsu là vị BT, nhà Giáo dục tuyệt vời. Vì khi Nhập thể
Đức Giêsu đã tỏ cho ta thấy đường hướng của Người là không tìm nơi phú
quý giàu sang, nhưng nghèo hèn thiếu thốn; không uy quyền hưởng thụ,
nhưng phục vụ yêu thương, vì "Con Người đến không phải để được phục vụ,
nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống cho người khác" (Mc 10,45).
Chúa đã khẳng định điều này khi dạy dỗ các môn đệ "Kẻ làm đầu phải là
người phục vụ anh em" (Mt 20,18).
Là những người bước theo sát Đức Giêsu-Kitô, chúng ta
phải mặc lấy tinh thần khiêm hạ của Người, để sẵn sàng phục vụ với tinh
thần khiêm hạ, yêu thương, đồng cảm và trao ban với tất cả tấm lòng và
con tim của Chúa. Chỉ như thế chúng ta mới có thể trở nên một vị BT hay
Chị giáo lý tưởng, góp phần xây dựng Cộng đoàn, Hội dòng gồm những con
người trưởng thành, luôn có tấm lòng bao dung rộng mở, biết chung chia
với mọi người trong niềm vui cũng như nỗi buồn để cùng nhau xây dựng một
thế giới mới trong tình yêu và sự thật. Điều không thể quên được là hãy
nhìn mọi sự dưới cái nhìn của Chúa thì tất cả đều trở nên tốt đẹp…
Trên đây là những khát vọng và ưu tư của chúng con
khi đặt mình trong cương vị là BT hay Chị giáo tương lai. Trong phần
trình bày chắc chắn còn có phần thiếu sót hoặc chưa thực tế… Chúng con
cũng xin Cha và Quý chị cầu nguyện cho chúng con sống và thực hiện được
những thao thức mà chúng con đã trình bày.
[5]
Nhập đề
Mỗi người chúng ta chỉ là người thực sự khi chúng ta
biết tìm niềm vui, hạnh phúc cho mình và cho người khác, vì Lời Chúa dạy
ta trong bài Tin Mừng Matthêu: “Điều gì anh em muốn người khác làm cho mình thì cũng hãy làm cho người ta như vậy”.
Chính vì thế, dù làm gì, ở đâu chúng ta luôn cần có những mối quan hệ
tốt. Cách riêng trong cộng đoàn tu trì, mối tương quan giữa các thành
viên là rất quan trọng và cần thiết, vì những mối tương quan này làm nên
cộng đoàn.
Nhưng để có những mối tương quan tốt đẹp, chúng ta
phải làm gì? Trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ chia sẻ với nhau khía
cạnh: làm một chị Giáo và Bề Trên tương lai, chúng ta sẽ làm gì và không
làm gì cho bề dưới và các ứng sinh của mình, đồng thời mong muốn và
không mong muốn điều gì nơi họ xét trong hai lãnh vực: ĐỜI SỐNG THIÊNG
LIÊNG VÀ ĐỜI SỐNG SINH HOẠT.
I- VỚI CƯƠNG VỊ MỘT BỀ TRÊN TƯƠNG LAI.
1. Những điều chúng ta sẽ làm:
a/ Trong đời sống sinh hoạt.
“Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.” Một
người không thể làm nên cộng đoàn nhưng là nhiều người kết hợp, cộng
tác với nhau. Nhưng để có được nó thì chúng ta với tư cách một người làm
đầu, chúng ta phải có tư cách của một người làm Mẹ.
Một người Mẹ biết làm gương sáng và phục vụ con em
mình. Vì trong cuộc sống các em gặp rất nhiều khó khăn trong mọi lãnh
vực. Do đó, nếu không có tâm tình của một người Mẹ, chúng ta sẽ không
tạo được sự tin tưởng cho các em, các em sẽ khó gặp gỡ để chia sẻ.
Và cũng chính ở cương vị của một người Mẹ, nên chắc
chắn chúng ta sẽ yêu thương và quan tâm đến nhu cầu tinh thần cũng như
vật chất theo khả năng của chúng ta, vì người làm cha mẹ thì luôn mong
muốn điều tốt cho con cái mình.
Nhưng để có được điều tốt đó, chúng ta phải biết lắng nghe và đối thoại: “Lắng nghe”
để đón nhận ý kiến, lắng nghe để hiểu, chia sẻ và cảm thông với các em;
“Đối thoại” để các em có cơ hội đóng góp ý kiến, cũng như bày tỏ những
mong ước nhằm xây dựng Hội Dòng phát triển hơn.
Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng ngồi trầm
tư để lắng nghe, mà chúng ta sẽ cố gắng tạo bầu khí vui tươi nhẹ nhàng
khi sinh hoạt với chị em, để chị em có được sự gần gũi, không cảm thấy
ngại hay sợ hãi khi gặp chị Giáo và Bề Trên.
b/ Đời sống thiêng liêng.
“Lời nói lung lay, gương lành lôi cuốn” Khi đã
tạo được sự tin tưởng, dễ gần, dễ tiếp xúc với các em… Các em sẽ nhận
ra chúng ta là người có Chúa Kitô, vì chỉ khi có Chúa chúng ta mới trở
nên đáng yêu và đáng kính trọng. Các em dễ bộc lộ những tâm tư, những
khó khăn trong đời sống thiêng liêng, để từ đó chúng chúng ta có thể
cùng giúp nhau tìm gặp Chúa, nhận ra Chúa trong mọi biến cố, đặc biệt
trong đời sống cầu nguyện.
Tuy lời nói và làm gương sáng là vũ khí sắc bén để
lôi kéo các em đến với Chúa, nhưng chưa đủ, chúng ta cần phải là người
có bổn phận cầu nguyện. Cầu nguyện để phó thác trong tay Chúa, trong tay
Mẹ cả Hội Dòng mình, để lấy tinh thần cầu nguyện ban đầu, cũng như sự
đoàn kết giúp các thành viên phát huy được tình yêu Chúa và lòng nhiệt
thành tông đồ, vì “không có Thầy, các con không làm gì được” (Ga 15,5).
Một điều nữa không thể thiếu là chúng ta sẽ không bao
giờ quên cầu nguyện cho những người chị em bị cám dỗ, bị thất vọng, ngã
lòng hay thậm chí là cầu nguyện cho những người chống đối, kiêu ngạo để
phó thác họ trong tay Chúa và xin Chúa biến đổi họ.
2. Những điều chúng ta sẽ không làm.
Thánh Phaolô nói: “Ai cứu chúng ta, vì những điều chúng ta muốn chúng ta không làm, còn những điều chúng ta không muốn chúng ta lại làm”.
Nhưng dù thế nào chúng ta cũng phải có cho mình một định hướng, đặc
biệt với tư cách là một Bề Trên tương lai, chúng ta cần có sự chuẩn bị
ngay bây giờ. Vậy bên cạnh những điều chúng ta muốn làm thì chúng ta
cũng sẽ mong muốn mình không mắc phải những điều sau:
a/ Về đời sống thiêng liêng.
Chúng ta sẽ giúp các em sống đời sống cầu nguyện,
nhưng chúng ta sẽ không đòi hỏi các em phải cầu nguyện sốt sắng như
chúng ta… vì là người có kinh nghiệm về đời sống cầu nguyện, đời tu,
tuổi tác… hơn các em, để các em dễ dàng bày tỏ tâm tình với Chúa mà
không nhất thiết phải theo khuôn mẫu một cách vô thức, ép buộc mà không
có tâm tình.
Điều thứ hai chúng ta sẽ không làm đó là áp dụng luật quá khắt khe, cứng ngắc… “luật vì con người”
luật nhằm đem lại hạnh phúc cho con người, nhưng làm sao để các em ý
thức được khi giữ luật, có như thế các em mới không bị gò bó, cảm thấy
khó chịu trong việc sống trung thành với ơn gọi hay đúng hơn là chạy đến
với Chúa.
b/ Về đời sống sinh hoạt.
Điều đầu tiên chúng ta muốn là mình không đánh mất “chữ tín”,
một chữ rất quan trọng đối với một Bề Trên trong đời sống cộng đoàn, vì
khi mất thì chẳng làm gì được, mất sự tin tưởng của bề dưới thì còn ai
chạy đến để chia sẻ với mình hay giúp mình chu toàn bổn phận.
Một điều tối kỵ nữa đó là chúng ta sẽ không dùng
quyền để ép người khác phải theo ý mình, cho ý mình là ý Chúa mà không
quan tâm đến khả năng, hoàn cảnh, tâm lý của bề dưới lúc đó thế nào. Vì
nếu dùng quyền ép họ làm thì chỉ “bằng mặt mà không bằng lòng”, kết quả chẳng được bao nhiêu mà sinh ra bực tức với nhau.
Đồng thời, chúng ta cũng sẽ hạn chế tính nòng nảy, la
rầy các em, nhất là trước mặt người ngoài. Vì điều này dễ làm tổn
thương và mất danh dự các em, khiến các em khó làm việc trước mặt người
khác.
II- NHỮNG ĐIỀU MONG MUỐN VÀ KHÔNG MONG MUỐN NƠI CÁC ỨNG SINH VÀ BỀ DƯỚI.
1. Những điều mong muốn ứng sinh thực hiện
a/ Về đời sống thiêng liêng.
Mong các em có tinh thần lắng nghe và ham học hỏi về
Kinh Thánh, Giáo Lý cũng như kinh nghiệm của những người đi trước về đời
sống kết hiệp với Chúa. Đồng thời mong các em có một thiện chí theo
Chúa bằng thái độ luôn luôn cố gắng để cầu nguyện, gặp gỡ Chúa, để kín
múc ân sủng và tình yêu nơi Ngài, nhất là với thời đại ngày càng có
nhiều hấp dẫn thu hút các em bỏ cuộc.
Một điều nữa mong các em ý thức địa vị của mình để
trong lời nói, hành động, cư xử cũng như ăn mặc sao cho phù hợp, toát
lên được vẻ đẹp của sự thánh thiện là người có Chúa Kitô trong lòng.
b/ Về đời sống sinh hoạt.
Mong các em có một sức khoẻ tốt để làm việc, học hành
cũng như tham dự các giờ chung của cộng đoàn. Và mong các em là những
con người vui vẻ, hoạt bát, sống hoà đồng với mọi người. Đồng thời biết
lắng nghe và cởi mở chia sẻ với chị em những vấn đề trong đời sống
thiêng liêng cũng như trong cuộc sống hàng ngày.
Kế đến, mong các em là những con người trung thực
thẳng thắn, dám làm dám chịu; là một con người biết cảm thông chia sẻ
trách nhiệm với Bề Trên bằng thái độ vâng phục để cùng nhau phát triển
Hội Dòng; biết tôn trọng mình cũng như người khác để rồi dám quên mình
vì ích chung; là một con người có lý trí, ý chí để thích nghi với hoàn
cảnh, nhất là biết tự rèn luyện mình không ỉ vào người khác.
Và một điều nữa không thể thiếu nơi các em, đó là
thái độ khiêm tốn đón nhận những giới hạn của mình cũng như của chị em,
hầu đón nhận và giúp nhau sống hạnh phúc trong ơn gọi thánh hiến.
2) Những điều các em cần tránh
a/ Về mặt thiêng liêng.
Các em không nản chí, thất vọng khi cầu nguyện, gặp
gỡ Chúa hay tập luyện nhân đức cho dù khô khan hay tưởng chừng như không
thể vượt qua.
b/ Về mặt sinh hoạt.
Các em không tỏ ra kiêu căng tự mãn vì dễ dẫn đến coi
thường chị em khác, hay thậm chí coi thường cả Bề Trên khiến ta khó hoà
đồng với chị em.
Đàng khác, các em cũng không nên quá tự ti, mặc cảm
làm ta nhút nhát, không dám làm gì, trở nên sống cô lập, cũng khó hoà
đồng với chị em.
Một mặt cũng không nên cho mình cái gì cũng đúng, cho
dù mình có hơn tuổi hay hơn chị em về mọi mặt, nhưng hãy tập lắng nghe,
hãy dành cho người chị em đôi phút để nghe ý kiến của họ, tạo nên sự
thân thiện giữa chị em với nhau.
Các em cần tránh thái độ sống gian trá, nịnh hót Bề
Trên để trục lợi cho mình hay tố cáo chị em. Bởi điều đó gây ra hậu quả
khôn lường là chị em nghi ngờ và không tin tưởng nhau. Sống mà không yêu
thương, không tin tưởng thì chỉ như “sống bên nhau mà như nước mây hững
hờ”.
Tóm lại, qua hai khía cạnh đời sống thiêng liêng và
đời sống sinh hoạt của một Dòng tu, chúng ta thấy được những mong muốn
Bề Trên sẽ làm và không nên làm cho các bề dưới của mình. Đồng thời Bề
Trên cũng mong muốn nơi các em mình những việc họ nên làm và không nên
làm cho Bề Trên và cho nhau. Tuy nhiên, vì là con người nên những điều
chúng ta nói và làm đôi khi không được như ý muốn, nên dù ở cương vị
nào, tất cả chúng ta đều mong muốn nhận được sự cảm thông, nâng đỡ của
người khác. Đặc biệt là người Bề Trên mong nhận được sự đóng góp của các
thành viên trong cộng đoàn, là động lực giúp chị chu toàn bổn phận và
nói lên tinh thần hiệp thông trong cộng đoàn, để cùng chung tay xây dựng
và phát triển Hội Dòng, cũng như giúp nhau thăng tiến hơn trong đời
sống Dâng Hiến.
[6]
A. DẪN NHẬP
Khi nói về gương mặt chị giáo và Bề trên, người ta
thường nghĩ ngay đến đời sống mực thước, cách điều hành công việc của
chị. Như một nghệ sĩ, Bề trên và chị giáo tương lai phải biết dùng tình
thương với sự hiểu biết về tâm lý và biết tận dụng khả năng khôn khéo
của mình để rút ra những điều mà các ứng sinh còn giấu kín trong lòng,
hoặc có khi chính chúng cũng chưa biết những đức tính cao đẹp, những khả
năng còn tiềm ẩn. Đó là những hạt giống tốt, có thể mọc thành cây, trổ
hoa, kết trái, làm nên một cuộc sống hoàn hảo, chỉ với điều kiện là được
vun với, chăm sóc kỹ lưỡng. Vậy đâu là những điều chị giáo sẽ làm cho
các ứng sinh? Những điều Chị giáo không làm? Những điều Chị trông đợi?
Điều Chị không trông đợi?
B. TƯ CÁCH CHỊ GIÁO và BỀ TRÊN TƯƠNG LAI
1. Những điều Chị sẽ làm.
a. Đời sống thiêng liêng.
- Chị có bổn phận và trách nhiệm hướng dẫn và làm
gương cho các em trong việc cầu nguyện: Cầu nguyện cho cộng đoàn, cho
gia đình huyết tộc, ân nhân, cho bản thân và cho cả kẻ thù nghịch của
chị em.
- Chị là người có niềm tin sâu sắc phát sinh từ cảm
nghiệm sống động về tình yêu Chúa. Cảm nghiệm này càng sâu xa và mạnh mẽ
thì niềm tin càng kiên cường.
- Chị là người có đời sống tâm linh phong phú, có khả
năng đối thoại với Thiên Chúa, nghe tiếng Ngài và quảng đại đáp lại lời
Ngài. Chính trong cuộc đối thoại độc đáo với Thiên Chúa, chị khám phá
ra những sự thật về thân phận yếu đuối của mình để dễ dàng cảm thông với
các ứng sinh.
- Chị có cái nhìn siêu nhiên không đánh giá mọi việc
theo cái lô-gích nhân loại, mà theo lô-gích của Tin Mừng, theo ánh sáng
của Bát phúc, theo tiêu chuẩn của lòng từ bi nhân hậu, theo sức mạnh của
tha thứ, theo sự điên rồ của Thập giá. Tuy nhiên Chị không phủ nhận giá
trị của thực tại trần thế và sự cần thiết của lô-gích tự nhiên, nhưng
xác tín rằng tất cả nhưng cái đó không hoàn toàn đủ để đánh giá một ứng
sinh.
- Theo quan điểm của thánh Phaolô, Chị là người phải
“mặc lấy tâm tình của Đức kitô”, bước đi trên con đường cứu độ của Ngài,
đi vào kinh nghiệm của Ngài, chia sẻ những thao thức của Ngài, hăm hở
vì sứ vụ như Ngài và sẵn sàmg vác thập giá với Ngài.
Để nuôi dưỡng và phát triển đời sống cầu nguyện, dĩ
nhiên Chị phải chuyên cần đọc lời Chúa và cầu nguyện. Chính trong cầu
nguyện, Chị tìm lại khát vọng về Thiên Chúa, và khám phá tương quan mật
thiết với Ngài và sự hiện diện của Ngài. Chị khám phá ra chính mình và
nhìn rõ các ứng sinh.
b. Đời sống nhân bản.
Không thể có mặt sự trưởng thành nào mà lại vắng bóng
một nhân cách tự lập, phát xuất từ một ý thức và một khả năng nhận thức
về chính mình. Dưới đây là một số biểu hiện của một người trưởng thành
về nhân bản mà Chị giáo phải có:
- Chị có khả năng thương yêu, không phải thứ tình yêu
khép kín và quy ngã, mà là thứ tình yêu mở rộng. Từ kinh nghiệm yêu
thương và trách nhiệm với mình, Chị mở rộng tới các ứng sinh và cộng
đoàn.
- Chị ý thức về chính mình, về vai trò, sứ vụ của
mình, có khả năng trả lời những câu hỏi căn bản: Tôi là gì? Tôi là ai?
Và biết tự vấn trước mọi sự kiện, hành vi, cảm xúc, trước những gì mình
đã làm… “Tự ý thức” là “con mắt nội tâm” chiếu dọi vào sâu thẳm tâm hồn
mọi người giúp Chị khám phá và nhận diện chính mình với những nét riêng
tư, độc đáo, tế nhị. Chính nhờ nó Chị có khả năng lượng giá về những
hành vi, chọn lựa, quyết định, vai trò, sứ vụ của mình.
- Thái độ cởi mở: sau khi đã nhận diện và đầu tư cho
chính mình, Chị phải mở rộng ra cho Thiên Chúa và cho các ứng sinh.
Chính qua sự đối thoại cởi mở, Chị sẽ lớn lên và được phong phú hóa dưới
nhiều góc độ. Mức độ trưởng thành biểu lộ qua những tương quan đích
thực và lành mạnh với tha nhân.
- Chấp nhận thực tế: Chị là người có cái nhìn đúng
đắn và thực tế về bản thân: không tự cao tự đại, mà cũng chẳng giả bộ hạ
mình một cánh kệch cỡm. Chị phải biết chấp nhận hoàn cảnh, môi trường,
cuộc sống, người khác và chính bản thân trong thực tại khách quan của
chúng. Không đeo mặt nạ và cũng chẳng che khiên thuẫn, đóng kịch để che
giấu con người thật của mình với ưu điểm và khyết điểm, ánh sáng cũng
như bóng tối. Thái độ chấp nhận thực tại này sẽ giải thoát Chị khỏi nỗi
lo sợ vô ích, nhưng tìm gặp bình an và là gương mẫu tiến thân cho các
ứng sinh.
- Chị phải có trách nhiệm về những gì mình đã làm, về cuộc sống và ưu tư của các ứng sinh mà Hội Dòng trao cho Chị coi sóc.
- Thích nghi: cổ nhiên thường nói “ở bầu thì tròn, ở
ống thì dài’’ hay “đáo giang tùy khúc nhập gia tùy tục”. Thích nghi là
một tiến trình tiệm tiến, gian lao, trắc trở. Có lúc cần phải đoạn tuyệt
với con đường cũ để vào giai đoạn trưởng thành. Chị phải là người thích
ghi với cá tính, văn hóa, sở thích,… của các ứng sinh, tuy không là
tuyệt đối, nhưng để thích nghi, Chị luôn phải bỏ ý riêng và đôi khi chấp
nhận những điều xem ra nghịch lý với suy nghĩ của chị.
- Quân bình và trung dung: Chị phải giữ được mức quân
bình cần thiết: quân bình giữa tâm và thể; giữa tình và lý; giữa bổn
phận và quyền lợi; giữa làm việc và nghỉ ngơi; giữa dấn thân mục vụ và
đời sống cộng đoàn.
c. Đời sống cộng đoàn.
+ Quý trọng sự khác biệt của ứng sinh và tin tưởng
Chúa luôn yêu thương các em như các em ‘’là.’’ Mỗi người là một huyền
nhiệm chứa đựng những nét độc đáo, không ai là một bản sao của người
khác.
+ Một cộng đoàn là tập thể một tổ hợp những con người
đầy khác biệt, khác biệt về quan điểm sống, lối tư duy, tâm tư, tình
cảm… có nghìn lẻ các khác biệt và gây ra mâu thuẫn. Chị em có thể đi bên
nhau như những bức tường câm nín. Với thực trạng trên đòi hỏi Chị giáo
phải quý trọng sẽ khác biệt của ứng sinh và biết xây dựng sự hiệp nhất
trong khác biệt.
+ Khi các em mới Nhập dòng và đã sống ơn gọi Chị phải
là người có ‘’tính hỗ tương’’ Đối với các em, Chị luôn gần gũi để tạo
cho các em có cái nhìn và cảm nhận Chị như người Chị gái và người mẹ của
chúng. Từ đó Chị có cơ hội hiểu rõ hoàn cảnh, diều kiện của từng em để
giúp Chị hướng dẫn các em tiến hoặc lùi trong ơn gọi.
+ Chị là người khiêm nhường. Người ta phải vun trồng
nhân đức nền tảng khiêm nhường. Chị giáo không thể hiểu thấu toàn diện
tâm hồn của từng ứng sinh vì “ mỗi ứng sinh là một mầu nhiệm’’. Do đó,
muốn giải thích hành động của ai chị cần phải đặt mình vào địa vị, môi
trường hoàn cảnh, những suy nghĩ của người đó. Có như thế Chị mới phần
nào hiểu về các em mà thông cảm, yêu thương nâng đỡ vun trồng ơn gọi của
các em.
+ Tính Bình Đẳng. Chị là người phải công bằng không
thiên tư tay vị, trọng dụng chị em giỏi, khinh dể chị em kém cỏi; yêu
riêng kẻ thuộc thành phần con nhà gầu có, ân nhân của Hội dòng; hay vì
kẻ đó luôn nhất mực đứng về ý kiến của Chị dù đúng sai bất kể…
+ Tính cảm thông vô điều kiện. “Nhân vô thập toàn,’’
đã là người thì không ai là không có lỗi, chị phải cảm thông vô điều
kiện cho các em vì “chỉ Thiên Chúa mới có quyền xét xử – tha tội.’’ Chị
chỉ là dụng cụ mà Chúa dùng để giúp các em thăng tiến trong ơn gọi mà
thôi: hơn nữa, nếu bóc trần trước “mặt Chúa’’ biết đâu Chị cũng có những
lỗi phạm còn nặng nề hơn các em.
+ Tính kiên nhẫn, tốt lành, lương thiện. Kiên nhẫn là
đặc điểm đầu tiên của lòng mến. Như một người mẹ luôn vui vẻ nhẫn nhục
khi đứa con quấy phá vì người mẹ ấy yêu đứa con cuả mình. Cũng vậy, khi
chị giáo kiên nhẫn chịu đựng và rộng lòng tha thứ các lầm lỗi của cách
ứng sinh là chị yêu các em như Chúa Giêsu đã yêu: “Anh em hãy đón nhận
nhau như Đức Kitô đã đón nhận anh em để làm rạng danh Thiên Chúa” (Rm
15,7). Lòng mến không dưới hạn trong sự chịu đựng, nhưng nó đưa đẩy chị
đem lại sự tốt lành cho các ứng sinh.
+ Chính trực, hiền lành, tiết độ. Chị giáo luôn phải
thống nhất lời nói và việc làm của chị. Chị không thể giáo dục các em
phát triển nhân phẩm làm con người, làm con Chúa, trong khi đời sống của
chị có dư luận không tốt. Chị phải là người hiền từ, diễn tả bằng lời
nói nhẹ nhàng thân mật… nét mặt vui tươi: “Lời nói không mất tiêng mua,
lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau’’. Hiền từ không phải là thái độ xã
giao, nhưng nó chứng tỏ chị là người biết tự chủ. Tính tự chủ làm cho
chị biết tế nhị, dè dặt và biết quý trọng các em.
Tóm lại, chị giáo nào lại chẳng mong muốn các ứng
sinh của mình sống vui tươi, an bình, hạnh phúc trong đời dâng hiến.
Nhưng cũng như một bản nhạc được người sáng tác phải tốn công thai ghén
thể hiện, một nhà giáo dục tương lai cũng phải khổ công đào luyện cho
mình cái tâm đào tạo vì tương lai của đời dâng hiến.
d. Chiều kích chuyên môn.
Chị phải là người có một chuyên môn làm phương tiện
để phục vụ sứ vụ Tông đồ rất cần với thời đại ngày nay. Bên cạnh đó chị
phải là người hiểu biết tâm lý lứa tuổi và một chút kiến thức văn hóa
địa phương của ứng sinh, từ đó giúp chị dễ dàng trong việc huấn luyện.
2. Những điều Chị sẽ không làm.
-
Đừng cho mìng là khuôn mẫu để bắt các em làm theo ý mình, nhưng phải có sự dung hòa giữa “ luật chung – ý riêng”.
-
Không kết án vội vàng khi các em mắc lỗi, vì như thế là đốt giai đoạn, và đốt giai đoạn là đốt cháy một đời người.
-
Không nhắc lại lầm lỗi cũ, tránh gây tổn thương cho các em, vì mọi vết thương thể xác có thể lành lại, nhưng vết thương tâm hồn khó có thể lành.
-
Không giữ thái độ cay nghiệt (thù oán riêng tư) và đôi khi dùng lời dọa nạt.
-
Không để tình trạng “nói thì hay vỗ tay thì lổi” (nghĩa là lời nói hay không đi đôi với thực hành tốt.).
-
Không đánh giá các em cách độc đoán, không có sự đối thoại và coi mình là “ vái rốn’’ của vũ trụ.
-
Không bao che, thiên vị, không công bằng (cháu sơ này, con cha kia…).
-
Thiếu kiên nhẫn, bao dung, hiền hòa, tôn trọng, tin tưởng và tế nhị khi sử dụng ứng sinh.
-
Không nói ra công khai lỗi của ứng sinh.
-
Không nói ra những điều mà nhờ đồng hành thiêng liêng chị biết được của từng ứng sinh.
-
Không bắt ứng sinh viết ra bản tố cáo về các ứng sinh khác, khiến ứng sinh mâu thuẫn, hằn thù nhau.
-
Không đặt ăn-teng, “công an” hay “thám tử’’ trong cộng đoàn gây rối loạn giữa ứng sinh và cộng đoàn.
-
Không lạm dụng sự thánh thiêng để điều tra rõ sự thật như bắt ứng sinh đặt tay lên Phúc âm mà thề, hay qùy trước Thánh Thể mà nói sự thật, và hễ không nói thì buộc lương tâm không cho rước lễ.
3. Những điều Chị trông đợi nơi ứng sinh.
Trước thực trạng toàn cầu hóa như ngày hôm nay, người
trẻ nghĩ gì về đời tu, hay đâu là mô hình của người tu sĩ thời @? Đâu
là điều Chị giáo mong đợi nơi các ứng sinh mà mình đã bỏ tâm huyết để
vun trồng?
Ai trồng cây cũng mong ngày hái quả. Chị mong ứơc các
ứng sinh nhạy cảm trước nhu cầu của Giáo Hội và của Xã hội, hiểu biết
chuyển biến của thế giới hầu làm việc tông đồ có phương pháp để đạt kết
quả hơn… Do đó phải giúp các em đào sâu đời sống tâm linh, thấm nhuần
tinh thần tu trì, trung thành tuân giữ hiến pháp, chỉ nam, luật Dòng và
đường hướng huấn luyện của Dòng, đồng thời phát triển lên mỗi ngày trong
ân sủng Chúa.
Kính trọng kinh nghiệm của cha ông và các chị cao
niên để lại, biết tự kiểm để nhận ra khuyết điểm của mình, biết làm chủ
tinh thần; sống hòa hợp với mọi người; chu toàn bổn phận; sống bác ái;
biết lắng nghe người thổ lộ tâm tình, kiên nhẫn tới cùng, khoan dung bỏ
qua chuyện lặt vặt, không buồn về sự bạc bẽo ở đời, biết khích lệ người
khác, thành thật với bản thân và tha nhân… tránh nịnh hót, rèn luyện chí
khí, không phê phán nghĩ xấu cho người khác…
Tóm lại, trong công tác đào tạo, Chị luôn mong muốn
xây dựng nơi các ứng sinh một “tình yêu” hay “một tấm lòng’’để yêu
thương, chia sẻ và cảm thông, có khả năng chấp nhận bản thân, chấp nhận
cuộc đời và chấp nhận tha nhân. Chị mong ước các ứng sinh trưởng thành
đời sống nhân bản, trưởng thành đời sống tâm linh, có một nghề nghiệp
chuyên môn thích hợp, sãn sàng phục vụ mục vụ và trưởng thành trong đời
sống huynh đệ cộng đoàn.
4. Những điều Chị không mong đợi nơi các ứng sinh.
Giới trẻ hôm nay thích độc lập, khao khát tự do và
đòi được tôn trọng, lắng nghe. Họ rất dị ứng với những cấm đoán, nguyên
tắc sẵn có và tất cả những gì đi ngược lại quyền tự quyết định, nhân
phẩm, tự do; chú trọng nhiều đến việc thăng tiến bản thân bằng việc học
hành, phát triển tài năng và trau dồi nghề nghiệp. Nhưng đối với vấn đề
đạo đức, nói chung hình như họ để thả trôi theo nhịp sống, theo kiểu
“văn hóa quần chúng:” người ta sao tôi vậy, không có sự dấn thân và nỗ
lực phát huy bản thân trong tinh thần hy sinh hãm mình.
Vì thế Chị giáo không mong đợi nơi các em một đời
sống vô kỷ luật, đặt mối lợi riêng tư của mình lên trên lợi ích của Hội
Dòng, sống hời hợt, sống không có trách nhiệm, coi nhà dòng như “quán
trọ”, sống đua đòi, cư sử thiếu mặn mà về tình người, sống hướng ngoại
và lãng quên truyền thống.
C. KẾT LUẬN
Có người ví giáo dục như là việc nấu cơm, cơm phải
chín mới ăn được, nếu cơm sống thì không ăn nổi và cũng chẳng nấu lại
được. Công tác đào tạo cũng thế, người thụ huấn phải được đào tạo đúng
mức mới trở thàng hữu dụng cho Hội Dòng, cho Giáo Hội và cho đất nước.
Một thỉnh sinh tốt, ham học và có chí tu, nếu gặp được một nền giáo dục
tốt, có chất lượng và nhà giáo lành nghề, thì triển vọng ngày mai đương
nhiên tươi sáng hơn. Trái lại, nếu không may gặp phải người phụ trách
yếu tay nghề, thiếu khả năng và một chương trình đào tạo khập khiễng,
chắp vá, trì trệ… thì ít hy vọng khai triển hết khả năng của mình. Do
đó, không những họ sẽ đóng góp ít hơn cho Hội Dòng, Giáo Hội và Xã Hội,
mà tai hại là họ sẽ trở thành người bất mãn thường xuyên, ù lỳ, yếm thế
hay những bà già độc thân khó nết.
Trong viến tượng đó, các thụ huấn sinh có vai trò và
trách nhiệm bất khả thay thế trong tiến trình đào tạo. Chính mỗi thụ
huấn sinh đã nhận lãnh lời mời gọi riêng biệt của Thánh Linh và mỗi
người phải đích thân đáp trả lời mời gọi đó bằng những cách thế riêng.
Việc chân thành cộng tác của các thụ huấn sinh với Thánh Linh và với
những người phụ trách đào tạo là điều kiện cần thiết cho sự thành công
của những chương trình đào tạo.
Nói cho cùng, điều quan trọng nhất là ứng sinh phải
“tự đào tạo”, bởi vì không ai có thể thay thế ứng sinh được trong việc
đáp trả tự do và trách nhiệm về đời mình. Tự đào tạo là một tiến trình
dài của sự biến đổi từ “con người cũ’’ sang “con người mới”, nghĩa là
phải một hành trình giải phóng nội tâm đích thực.
Trên đây là bài chia sẻ của chị em nhóm chúng con,
kính mong cha giáo và quý chị đóng góp ý kiến để bài chia sẻ của chúng
con thêm hoàn thiện. Xin thêm lời cầu nguyện để mỗi ngày chúng ta sống
xứng đáng hơn và chuẩn bị cho tư cách chị giáo tương lai.
[7]
Dẫn Nhập
Trong những năm trở lại đây, điều làm chúng ta mừng
là số ơn gọi tăng lên đáng kể. Nhưng chúng ta cần phải chú trọng đến vấn
đề “phẩm” hơn là “lượng”, nghĩa là phải nhằm ưu tiên đào tạo các nhà
đào tạo. Ngoài vai trò của Chúa Thánh Thần, của môi trường, của chính
ứng sinh… một yếu tố rất quan trọng là nhà đào tạo. Tục ngữ Việt Nam có
câu: “Không thầy đố mày làm nên” là thế.
Các tu sĩ phải trải qua rất nhiều những giai đoạn
huấn luyện: đệ tử, tiền tập, tập viện rồi giai đoạn học viện và giai
đoạn thường huấn. Mỗi giai đoạn lại có những đòi hỏi huấn luyện khác
nhau, nhưng mục tiêu chung là đạt tới người nữ tu trưởng thành toàn
diện. Giai đoạn nào cũng cần những nhà huấn luyện có tâm huyết, năng
lực, tài đức. Các học viên chúng ta hôm nay, mai sau cũng phải góp phần
vào công cuộc huấn luyện ứng sinh cho cộng đoàn. Tổ chúng tôi xin phép
được trình bày ý tưởng: “Nếu trong tương lai tôi là một Chị Giáo học
viện, tôi sẽ làm những gì và nên tránh những gì trong quá trình đồng
hành với các em. Đồng thời tôi có những thao thức gì đối với các em?”
A. NỘI DUNG:
1. Những việc tôi sẽ làm
Học viện là một giai đoạn phức tạp. Đây là thời kỳ
đào tạo giữa thời gian tiên khấn và vĩnh khấn. Làm sao để các em đào sâu
sự cam kết với Chúa Kitô qua việc sống lời khấn, đồng thời trung thành
với Giáo Hội, với Hội Dòng, với ơn gọi và Đặc Sủng Dòng…? Vai trò của
Chị giáo giai đoạn này càng quan trọng hơn. Vì thế tôi sẽ cố gắng để trở
thành Chị giáo đầy tâm huyết, thực sự trưởng thành trong đời sống nhân
bản, đời sống thiêng liêng, đặc biệt trong đời sống tu trì.
Chắc chắn không phải ai sinh ra cũng đã có ơn gọi làm
Dì giáo hay làm Bề trên. Trong đời sống tu trì, những chức vụ đó không
nhằm địa vị danh dự cho bằng việc được chia sẻ quyền bính để phục vụ như
Chúa Giêsu – Đấng đến để phục vụ (Mc 10, 45; Mt 28,19). Một người tu sĩ
bình thường đã phải có những đức tính, những phẩm chất đặc biệt, huống
hồ tư cách một chị giáo. Không thể cho cái mình không có, chị giáo không
thể nhắc nhở các em sống nhân bản trong khi mình lại có những ứng xử ấu
trĩ, vụng về.
Trước tiên, chị giáo phải là một người có tình thương
và tâm huyết thực sự trong công cuộc đồng hành với các em. Ngoài những
đức tính cần, kiệm, liêm, chính…tôi phải cố gắng tập luyện để trưởng
thành trong các lãnh vực tình cảm, trí tuệ.
· Lãnh vực tình cảm:
Tình cảm là thái độ cảm xúc ổn định của con người đối
với những sự vật, sự kiện, bản thân, tha nhân. Cảm xúc là biểu hiện tốt
nếu ta thể hiện đúng lúc, đúng chỗ phù hợp với hoàn cảnh. Tôi phải tỏ
ra thực sự trưởng thành về mặt tình cảm, biết làm chủ cảm xúc của mình
khi gặp phải những chuyện vui buồn, cả khi tiếp xúc với những người khác
giới. Nếu tôi quân bình tình cảm tôi sẽ không thiên vị em nào, yêu
thương các em một cách chân thành, công bằng, không phải vì em kia cùng
quê hay khéo léo, dễ thương, giỏi mọi thứ mà lúc nào cũng quý em ấy hơn
các em khác. Đi đâu cũng cho đi, làm gì cũng nhờ, khi đau ốm thì chỉ có
em ấy chăm sóc… Nếu em ấy có lỗi rõ ràng, công khai thì vẫn tìm mọi cách
bênh vực… Hành động như thế, sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực cho tâm lý các
em khác, trong khi đó, có em lỗi nhẹ thì cũng đưa ra cả cộng đoàn học
viện. Rất có thể sẽ gây ra bè phái, phe nhóm trong cộng đoàn học viện.
· Lãnh vực trí tuệ:
Chị giáo phải có đủ sự hiểu biết cần thiết. Thật ra
Hội Dòng không bắt là phải có bằng nọ cấp kia mới được làm Dì giáo.
Nhưng trong một xã hội phát triển không ngừng thế này, tôi không được tự
mãn với những gì đã có. Trái lại, tôi phải cố gắng học hỏi, trau dồi
kiến thức cho mình qua sách vở, qua việc học hỏi kinh nghiệm người đi
trước, và tham gia các khóa bồi dưỡng dành cho Bề trên, nêu gương cho
các em về một tinh thần học hỏi không ngừng. Đồng thời học hỏi về Kinh
Thánh, kiến thức Thần Học, các Giáo Huấn của Giáo Hội… Cố gắng tìm hiểu
căn bản các phương tiện hiện đại như sử dụng vi tính, nối mạng, lấy
thông tin. Nhiều trường hợp nghịch lý đã xảy ra: Bề Trên là người lớn
tuổi, chưa biết gì về việc nối mạng, chỉ được nghe những khía cạnh tiêu
cực của máy tính nên khi thấy con em mình vào mạng thì cho rằng các em
làm việc xấu; trái lại lắm khi vì không biết gì nên rất dễ bị các em qua
mặt.
Nếu là Chị giáo, tôi sẽ lên một chương trình rõ ràng
cho các em. Ngoài chương trình chung của lớp liên tu sĩ, phải có một
chương trình riêng cho đoàn học viện riêng của mình nữa. Chương trình
hàng tháng có thể đưa ra các đề tài cho các nhóm thảo luận. Đặc biệt
thành lập một ban cán sự của học viện để các em được thực tập các công
việc của đoàn học viện.
Trong việc sử dụng người, tôi cố gắng khám phá năng
khiếu của từng em để khi trao phó một nhiệm vụ gì thì các em sẽ phát huy
được ân ban tài năng của mình. Hoặc khi các em hoàn thành chương trình
thần học cơ bản sẽ đề cử các em đi học chuyên sâu.
Tôi phải làm gương cho các em trong mọi vấn đề: “Lời
nói lung lay, gương bày lôi kéo”. Tôi không để có tình trạng mâu thuẫn:
nhắc nhở các em giữ kỷ luật, còn tôi thì lơ là; nhắc nhở các em yêu mến
Chúa, còn tôi thì không thể hiện tình yêu đó bằng hành động… Như thế,
các em chỉ “phục diện mà không phục tâm”. Khôn ngoan của người xưa đã
nói: “Không có gì tệ hại hơn là một lời khuyên tốt kèm theo một gương
xấu”.
Tôi sẵn sàng là người “đứng mũi chịu sào”, nghĩa là
trong mọi việc, dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, không thoái thác
hay đổ lỗi cho người khác hoặc đừa trách nhiệm cho người khác khi gặp
khó khăn xảy ra cho mình. Ví dụ: Khi một em xin phép đi đâu, tôi xét
thấy là chính đáng, tôi đồng ý cho đi nhưng khi Bề trên biết, khiển
trách em đó thì tôi sẵn sàng đứng ra hoàn toàn chịu trách nhiệm vì xét
tôi cũng có quyền và đã suy nghĩ khi quyết định cho em ấy đi. Hay khi cả
nhóm học viện có lỗi gì, tôi sẵn sàng đứng ra chịu trách nhiệm sau đó
mới sửa lỗi cho các em cách tế nhị với tình yêu thương. Tôi sẽ dùng
quyền bính cách hợp lý, nhất là để bảo vệ, bênh vực các quyền lợi cho
các em mình.
Có lẽ điều tôi phải đặc biệt chú trọng đó là thái độ
đối xử với các em: Đã là con người thì ai cũng muốn được coi trọng nhân
phẩm, danh dự; học viện là giai đoạn khó khăn của người tu sĩ vì một
đàng phải học tập, nhưng cũng phải tiếp xúc với môi trường truyền giáo,
làm sao vừa trung thành với lời khấn, lại vừa chu toàn bổn phận tông đồ.
Vai trò Chị giáo phải làm sao trở thành chỗ dựa cho các em. Ở ngoài sở
vất vả, gặp nhiều khó khăn, về cộng đoàn lại bị hiểu lầm thì càng làm
cho các em buồn nản. Tôi không chỉ nhắc nhở các em giữ luật, nhưng phải
chú trọng bảo ban các em về ba lời khấn để các em hiểu biết, hâm nóng
lại lời hứa mặn nồng của ngày tuyên khấn. Đồng thời, nhắc nhở các em
luôn thể hiện tư cách một nữ tu khi tiếp xúc với môi trường xã hội.
Quảng đại phục vụ nhưng không quên nhiệm vụ một tu sĩ.
Tôi sẽ dành thời gian để gặp các em. Khiêm tốn chia
sẻ về kinh nghiệm kết hợp với Chúa, về những mối tương quan trong cộng
đoàn, nhắc nhở về trách nhiệm xây dựng Hội Dòng… Tôi cũng cố gắng tìm
hiểu hoàn cảnh từng em, em nào cần giúp đỡ về vật chất, em nào cần giúp
đỡ về tinh thần. Tôi sẽ tập lắng nghe những điều các em tâm sự, thao
thức. Đồng thời cố gắng giữ kín những điều các em chia sẻ. Nếu nghe được
điều gì sai lỗi của các em tôi phải để các em trình bày hoàn cảnh, lý
do… Tôi sẽ tạo điều kiện để nếu có thể sẽ đồng hành với các em cả trong
khi đi lao động chung. Nếu đi đâu mà gần gia đình các em tôi sẽ cố gắng
vào thăm gia đình các em đó.
Là một Chị giáo, không những tôi quan tâm, chăm sóc
các em khi khỏe mạnh mà cả khi các em ốm đau hay bệnh tật. Bởi vì ai đi
tu cũng muốn một sức khỏe tốt để sống đời tu. Nhưng đôi khi Chúa gửi
bệnh đến thì các em rất buồn. Vì thế tôi sẽ cố gắng tạo cho các em một
cảm giác an tâm khi trình bày với mình về hiện tình sức khỏe. Đồng thời
nâng đỡ, an ủi các em hầu có tinh thần tốt để chữa bệnh. Tôi cũng cố
gắng tạo điều kiện vật chất hay tìm thầy thuốc cho các em.
Tôi tôn trọng ý kiến, tự do của các em vì các em là
một nhân vị. Ví dụ: Khi Bề Trên muốn thuyên chuyển công tác một em nào
trong đoàn học viện, tôi sẽ tạo điều kiện gặp riêng em ấy để tham khảo
và lắng nghe nguyện vọng của em. Nếu em ấy có những khúc mắc gì tôi sẽ
trình lên Ban Cố Vấn để định liệu cho các em.
Chắc chắn còn rất nhiều điều tôi phải làm trong tư
cách là một Chị giáo, một người đồng hành, huấn luyện các em, không chỉ
xét theo bổn phận nhưng còn do chính lương tâm trách nhiệm đối với Hội
Dòng và trong việc sống đức ái. Có những việc không dễ gì mà vạch ra
trước, phải tùy cơ ứng biến. Tôi không quên phó thác các em cho sự hướng
dẫn của Chúa Thánh Thần để Ngài soi sáng, hướng dẫn các em cộng tác với
tôi trong công cuộc đào tạo.
2. Những điều tôi nên tránh
Bên cạnh những việc tôi phải làm cho các em, tôi cũng nên lưu ý một số điều nên tránh như:
Khi lên chương trình cho các em, thấy những gì có thể
làm được thì mới làm, còn những kế hoạch khó có khả năng thi hành thì
tốt nhất là không nói ra.
Không bao giờ thất hứa: Ví dụ thông báo với các em là
nếu muốn đi học nghành gì thì cứ đăng ký, nhưng sau đó không giải quyết
cho một trường hợp nào với lý do “Bề trên chấp thuận”. Lần sau có hỏi,
chắc chắn các em sẽ nhìn nhau càm ràm: ‘ước mơ làm gì cho mệt xác…’
Không trao trách nhiệm quá khả năng. Ví dụ: Một em có
tính nhút nhát, đứng trước đám đông hay run mà cắt cho dẫn chương trình
thì sẽ không đạt được hiệu quả như mong muốn.
Không vội vàng kết luận điều gì mà thiếu thông tin.
Khi sửa lỗi không dùng những từ ngữ để trì chiết, chỉ trích quá đáng.
Không yên trí về một em nào quá, kể cả khi em ấy đã từng bị mang tiếng.
Không chê trách hay khen em nào đó về hết mọi mặt.
Không kể nết xấu của em này với em khác. Không sửa
lỗi các em trước mặt Bề trên, đặc biệt với người ngoài học viện. Khi hội
họp, huấn đức, không nói quá dài kẻo hết giờ mà vẫn chưa hết những vấn
đề cần nhắc bảo.
3. Những điều tôi trông đợi nơi các em
Ai trồng cây cũng mong đến ngày hái quả. Tham gia vào
công cuộc đào tạo, tất cả các nhà huấn luyện cũng như chính ứng sinh
đều mong một kết quả tốt đẹp. Một Chị giáo không đời nào lại mong các em
bỏ tu, trái lại Chị luôn mong các em sẽ trở thành một tu sĩ chính danh,
thực sự tìm thấy hạnh phúc trên con đường dâng hiến, thể hiện lòng khao
khát, lựa chọn, tìm kiếm Thiên Chúa.
Với tư cách một chị giáo, tôi mong muốn các em của
mình là những người trưởng thành về đời sống nhân bản cũng như đời sống
tâm linh trong ơn gọi tu trì. Thật vậy, không thể là một Kitô hữu hay
một nữ tu tốt nếu người đó chưa thực sự là “người” với tất cả những đức
tính nhân bản cần thiết như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, qua đó con người
dễ sống hiệp thông, đối thoại, khiêm tốn, luyện lương tâm ngay thẳng,
sống cách trung thực, có tinh thần trách nhiệm, trật tự, sạch sẽ và có
khả năng thích nghi với mọi môi trường sống. Rất mong các em tự huấn
luyện và tập tành các đức tính đó cách kỹ càng. Một người có nhân bản
tốt sẽ khai mở và hỗ trợ cho việc thiêng liêng. Đời sống thiêng liêng
phải được đặt lên hàng đầu.
Trong việc huấn luyện đời sống thiêng liêng, tôi chú
trọng việc tôn thờ Chúa Thánh Thần, cho chúng ta nghe được lời mời gọi
đi theo Đức Kitô và kết hiệp chúng ta trong Người.
Xuất phát lại từ Đức Kitô: Tìm lại lần nữa tình yêu
ban đầu của ta, tia sáng lôi cuốn làm ta đứng lên theo Ngài. Bước đầu là
tình yêu Thiên Chúa, bước tiếp là sự đáp trả đầy lòng yêu mến đối với
tình yêu ấy. Nhìn nhận Người yêu ta với ý thức sâu đậm để cũng thốt lên
như thánh Phaolô: Đức Kitô đã yêu tôi và hiến mạng cho tôi. Muốn thế, tu
sĩ phải tiếp xúc sống động với Lời Chúa, đón nhận, suy niệm cùng sống
Lời Chúa, thông truyền những kinh nghiệm trổ sinh từ đó. Thường xuyên
quy chiếu về luật Dòng và hiến pháp, sống đặc sủng của Hội Dòng cách
triệt để.
Mỗi cá nhân phải ý thức xây dựng một cộng đoàn chứng
tá. Nói cách khác, Chị giáo luôn mong ước các em chú trọng đến các yếu
tố định hình nên một tu sĩ, dựa vào Giáo luật, Lời khấn và Hiến pháp, là
những phương tiện hữu hiệu hình thành người tu sĩ lớn mạnh trong đời
sống dâng hiến. Có những người cho rằng chỉ cần Tin Mừng là đủ. Nhưng
Tin Mừng thể hiện qua những gì các vị sáng lập viết ra cho các môn sinh
noi theo. Sống không cần luật Dòng là điều nghịch lý. Vì thế việc tuân
thủ luật là điều rất quan trọng. Nó sẽ định hình lương tâm và hạnh kiểm
người tu sĩ. Giáo luật có nhiều khoản liên quan đến tu sĩ, quy định tính
pháp lý cho họ vì họ là một thành phần đặc biệt của đời sống và sự
thánh thiện của Hội Thánh. Họ cần ý thức chỗ đứng của mình để không
thiếu sót bổn phận. Các ứng sinh phải luôn xác tín ơn gọi tu sĩ là món
quà quý giá Thiên Chúa ban tặng.
Khi tuân giữ ba lời khấn, người tu sĩ sẽ bước lên bậc
trọn lành. Cộng đoàn tạo điều kiện để mỗi cá nhân yên tâm sống các lời
khấn, còn mỗi cá nhân thể hiện nếp sống tu trì của cộng đoàn. Việc hiểu
Hiến Pháp, tuân giữ Hiến Pháp làm nên một tu sĩ chính danh. Hiến pháp
tạo nên một tu sĩ theo truyền thống Dòng, đồng thời cũng am hợp với hoàn
cảnh thời đại. Hiến pháp được canh tân theo sự biến chuyển của thời
gian. Hiến pháp như lời giải thích Phúc âm theo tinh thần của Dòng đúng
với ý của Hội Thánh.
Tuy là một Chị giáo đồng hành với các em, tôi không
thể quyết định thành công nếu thiếu sự của cộng tác các em với tôi trong
chương trình huấn luyện.
4. Những điều không mong đợi
Không ai mong đợi một tu sĩ mà không sống đúng với
căn tính của mình, làm gương mù, gương xấu, gây cớ vấp phạm cho người
khác, nhất là người giáo dân… Là một Chị giáo, tôi sẽ rất buồn khi nghe
người khác phản ánh về con em mình: “không thể tưởng tượng được ngày nay
lại có những nữ tu kiểu như thế”. Đáng buồn là chính những người thánh
hiến đã làm cho mình bị tục hóa bằng chính lời nói, hành động, cử chỉ,
mối quan hệ mà họ có…
Là Chị giáo, tôi không bao giờ mong con mình học có
bằng nọ cấp kia nhưng thiếu đức. Đức bao gồm cả lòng đạo đức tu trì, là
sự chăm chỉ, siêng năng cầu nguyện để kéo ơn Chúa xuống cho bản thân và
cộng đoàn. Vẫn biết học hỏi tri thức khoa học là rất cần thiết trong xã
hội ngày nay, nhưng nếu vì vậy mà quên việc trau dồi đạo đức, đời sống
tâm linh, nếp sống tu trì thì đó là một điều khó chấp nhận với một tu
sĩ.
Là một Chị giáo, tôi không muốn các em của mình sống
trong cộng đoàn một cách hời hợt, người ta sao mình vậy, coi Hội Dòng
như là một nhà trọ miễn phí muốn đi, về, ra, vào tùy thích. Dễ dàng du
nhập các sự thế gian vào nhà Dòng cách tùy tiện, không hăng hái dấn thân
trong bất cứ việc gì. Còn chị em sống với nhau không tạo được sự hiệp
thông, đoàn kết như chị em trong một nhà. Bên cạnh đó trong việc giữ kỷ
luật hay làm việc gì thì chỉ làm vì sợ luật, sợ Bề trên, không có một
tâm tình yêu mến gì cả.
KẾT LUẬN
Như vậy, với tư cách là một Chị giáo học viện, tôi ý
thức rõ ràng mình đang tham gia công cuộc đào tạo những tu sĩ trưởng
thành. Công cuộc ấy sẽ vô cùng quan trọng, vì đào tạo một con người đã
khó huống chi đây là đào tạo một tu sĩ. Mỗi người một hoàn cảnh, một
tính nết…phải rất khôn ngoan và tế nhị. Đào tạo là để xây dựng một con
người, một nhân cách. Đối với tu sĩ, đào tạo hay huấn luyện thì thời
gian vô hạn định.
Việc vạch ra các định hướng như trên cũng chỉ là giả
thiết vì rất có thể khi đó sẽ có những biến chuyển và những thứ đòi hỏi
sẽ khác hơn. Nếu thực sự những điều chia sẻ trên đã phần nào làm nên
chân dung một mẫu Chị giáo lý tưởng, thiết nghĩ phải đối chiếu nhiều hơn
nữa gương của Đức Giêsu, Đấng là Thầy, là Thủ Lãnh. Và bước tiếp theo
sẽ là làm sao để thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành.
[8]
Dẫn nhập
Sống trên đời, ai cũng mang trong mình một lý tưởng,
một ước mơ, một hoài bão. Sống có lý tưởng thì mới có động lực để vươn
tới. Vì thế, mỗi chặng đường, mỗi bước của cuộc sống phải được uốn nắn,
phải được huấn luyện thì mới đạt được kết quả như mong chờ. Nhất là về
công tác giáo dục và lãnh đạo trong đời sống tu trì thì việc huấn luyện
và gọt dũa lại càng trở nên quan trọng hơn. Nhóm chúng con muốn hướng
tới trách nhiệm giáo dục và lãnh đạo trong tương lai của chúng con, vận
dụng trí năng và ơn Thánh để trồng người, trong yêu thương khiêm nhường
phục vụ. Trồng lúa sẽ hẹn mùa gặt, nhưng trồng người không hẹn ngày đơm
bông kết trái; trồng cây còn có thời gian ngơi nghỉ, còn trồng người
phải lo lắng không ngơi. Tạo ra hạt lúa đã khó, nhưng huấn luyện một
người thành tu sĩ thánh thiện, thành người thợ gặt trong cánh đồng
truyền giáo lại càng khó hơn. Trồng cây chỉ cần chăm chỉ, trồng người
cần kiên nhẫn khôn ngoan và ơn ban của Thần Khí. Trồng cây chỉ lo dọn
đất, trồng người phải lo huấn luyện làm sao để có thể thích nghi với mọi
hoàn cảnh, môi trường, có khả năng chống đỡ trước những mưa sa bão táp
của Sa tan và thế tục.
I. Sứ mệnh của Chị Giáo tương lai
Để trở thành chị giáo và bề trên tương lai, chúng con
hôm nay ước muốn trau dồi cho mình có những hành trang để có thể tự tin
và vững bước với chức vụ mà tương lai Hội dòng trao phó nơi chúng con:
chứng tá của của một đời sống tu trì đích thực, chứng nhân của sự thật,
sự thiện và là gương sáng trong yêu thương phục vụ. Là người đồng hành,
người bạn gần gũi cảm thông, yêu thương, nâng đỡ để các em luôn cảm thấy
được niềm tin chia sẻ và quyền bính tạo cho họ một cảm giác bình an,
tôn trọng và tín nhiệm. Trong lãnh vực đào tạo này, chúng con cũng luôn ý
thức đào tạo và tự đào tạo mình kỹ lưỡng để trở nên dụng cụ của Chúa
Thánh Thần dùng cho lợi ích mai sau của Hội Dòng.
Chúng con được học hỏi, được tiếp thu những kiến
thức, những kinh nghiệm và đặc biệt được hưởng những thành quả của thế
hệ đi trước, trách nhiệm cuả chúng con phải là người kế thừa và phát
huy, nghĩa là chúng con phải giúp đỡ các em, chia sẻ những thao thức ưu
tư hầu thăng tiến các em trong đời sống ơn gọi tu trì.
Trước tiên, tấm lòng của chị giáo và bề trên phải là
tấm lòng của người mẹ hiền luôn yêu thương chăm sóc và nâng đỡ các em.
Điều đó rất cần thiết trong cuộc sống tu trì, vì sự có mặt của Dì giáo
hay bề trên ở bên các em như một động lực thúc đẩy lớn lao, để từ đó các
em cảm nghiệm được tình mẫu tử hiền hòa mà sống vui tươi hạnh phúc
trong cuộc sống dâng hiến.
Đời sống tu trì nhằm trở nên giống Chúa Giêsu. Vậy chị giáo và bề trên tốt phải theo sát mẫu gương của Chúa Giêsu,
suy nghĩ với đầu óc của Chúa Giêsu, nhìn với cái nhìn của Chúa, làm
việc và hành động như Chúa Giêsu, có tấm lòng và con tim yêu thương của
Ngài, có như vậy công viêc giáo dục và lãnh đạo mới mong đạt kết quả là
cho ra đời những người nữ tu có phẩm chất như lòng Chúa mong muốn. Tương
lai của Hội dòng tùy thuộc vào các nhà đào tạo và khả năng bền vững
trong đời tu phụ thuộc rất nhiều công cuộc đào tạo này.
Vì thế, chị giáo và bề trên luôn sống đồng hành với
các em trên hành trình trưởng thành đức tin và thiêng liêng, bằng yêu
thương nhẫn nại, tận tâm chăm sóc đến từng em, biết rõ họ từ tính tình,
phẩm chất, những điểm mạnh điểm yếu để hướng dẫn, để cảm thông và để yêu
thương các em. Biết nhẫn nại và cậy dựa trong ơn Chúa, là nhà đào tạo
cố gắng làm biến đổi và thay thế cái xấu thành cái tốt, làm cho người
chưa tốt thành người tốt, tin tưởng vào sự thay đổi trong tương lai của
ứng sinh, đặt niềm hy vọng vào Thiên Chúa, Đấng biết rõ và có thể biến
đổi triệt để từng con người.
Chị giáo luôn tỏ ra gần gũi và tín nhiệm các em, xuất
phát từ tình thương, trao hiến cho họ những điều tốt nhất từ bản thân
mình, giúp họ khắc phục những ích kỷ để trở thành những người có khả
năng yêu thương và trao ban yêu thương. Phải gầy dựng sự quân bình giữa
kỷ luật và tự do, giúp các em biết sử dụng tự do một cách đúng đắn và có
trách nhiệm. Chị giáo các em phát hiện và nhận diện cái tôi sâu thẳm và
phân mảnh của mình để biến đổi, đồng thời khuyến khích, động viên các
em tiến bộ; cảm thông thấu hiểu những ước muốn tốt cũng như những tổn
thương sâu xa của các em, đặc biệt trong lãnh vực tình cảm, hầu nâng đỡ,
nhờ đó các em tin tưởng để ân sủng của Chúa tác động và biến đổi tận
căn.
Chị giáo nỗ lực hướng dẫn các em bằng đời sống cầu
nguyện, bằng gương sáng, bằng các việc đạo đức, để đời sống thiêng liêng
của các em ngày càng triển nở, thâm sâu và tròn đầy. Về đời sống vật
chất, luôn bao dung, và rộng rãi cung cấp cho các em những điều cần
thiết theo đúng nội quy luật dòng, để chăm sóc sức khỏe và tinh thần của
các em, vì các em là tài sản, là kho báu của cộng đoàn và Hội dòng.
Chị giáo phải là cột trụ vững chắc trước những khó
khăn thử thách nơi cộng đoàn, hay những thách đố của thời đại, là chỗ
dựa tin tưởng cho các em khắc phục và thăng tiến. Chị giáo luôn mực
thước và ngay thẳng, khôn ngoan làm theo ý Chúa, công bằng trong dối xử,
không yêu quý riêng hay coi người này hơn người khác để tránh sự ganh
tị và nghi ngờ trong cộng đoàn. Luôn biết lắng nghe và chắt lọc các ý
kiến và nhận xét, đích thân tìm hiểu, kiểm tra bằng cách gần gũi, chăm
sóc phục vụ và trực tiếp đối thoại, nhờ đó mà kiến tạo bầu khí an bình
và huynh đệ cho cộng đoàn thăng tiến.
Chị giáo luôn tìm khám phá điều Chúa Thánh thần muốn
nói với các em qua mình và khiêm tốn tìm biết điều Chúa thánh thần muốn
nhắc nhở mình qua các em; đồng thời khiêm tốn chấp nhận những thất bại
và nghịch cảnh, hay trái ý có thể xảy đến, bởi vì không phải lúc nào
cũng có thể “thuận buồm xuôi gió” được.
II. Những gì chị giáo trông đợi nơi các em.
Hội Dòng đặt hy vọng nơi các em rằng các em sẽ là
những người tiếp nối truyền thống, Đặc sủng và Linh đạo của Hội Dòng, và
là những tông đồ đắc lực của Chúa và Giáo hội mở ra trong tương lai với
sự phát triển toàn diện của người nữ tu hôm nay, và nên dấu chỉ hoàn
thiện của nước trời mai sau.
Mong các em sẽ là những người nữ tu có phẩm chất, đặc
biệt trong sự dấn thân với tinh thần hăng say phục vụ và sống lý tưởng
đời dâng hiến một cách hạnh phúc. Nhiệt thành quảng đại, năng động sáng
tạo cùng thăng tiến về bản thân; vâng phục và tin tưởng bề trên, có nền
tảng vững chắc về đời tu, trung thành với lý tưởng ơn gọi
III. Những gì chị giáo không trông đợi nơi các em
Sống vụ hình thức, giả dối, đề cao vật chất, hay tìm
bù trừ, sống thụ động, lại hay cố chấp, nhỏ nhen, ích kỷ, thiếu trách
nhiệm và không có tinh thần sống cộng đoàn; xem đời tu như một đảm bảo
về đời sống vật chất và an toàn nhất cho đời sống hiện tại để gầy dựng
cho tương lai; giữ kỷ luật đời tu như một cách đối phó “nín thở qua cầu”
nhằm che mắt người trên, coi thường chị em.
Mang não trạng của người thế tục, tìm cách cho mình
được người khác trọng vọng, quý nể, và cơ hội phát triển tài năng cá
nhân nổi trội trước mặt mọi người. Hoặc vào dòng với mục đích tiến thân
hơn là dấn thân, là để có điều kiện học hành có bằng cấp và khi đã đạt
được mục đích rồi thì lại tìm cách rút lui khỏi dòng một cách hợp lí.
Kết luận
Sự tồn vong của Giáo Hội và sự hưng thịnh về mặt đạo
đức lệ thuộc vào việc huấn luyện. Được sống trong ơn gọi dâng hiến,
chúng con thấy mình như được sống trong sự thân thương của một gia đình
có tình mẫu tử và tỉ muội thực sự. Chính sự nâng đỡ, liên đới, tinh thần
chia sẻ và cảm thông tạo nên những niềm vui và nụ cười cho đời sống
dâng hiến hạnh phúc. Nghĩ rằng trong tương lai có thể sẽ là chị giáo và
bề trên, chúng con lại càng phải có trách nhiệm và bổn phận để được đào
tạo và tự đào tạo không ngừng, trang bị cho mình hành trang đi tới, bởi
vì những nỗ lực và cố gắng của hôm nay sẽ là đà bẩy và bệ phóng về tương
lai.
Chúng con cám ơn Cha Giáo đã nâng đỡ và dạy dỗ, lại
cho chúng con có một cơ hội để chia sẻ, tìm ra những phương pháp và
những đường hướng huấn luyện cụ thể, chắp cánh cho những ước mơ, và làm
cho mơ ước hôm nay có thể phát triển thành hiện thực mai ngày. Cảm ơn
quý chị em đã cùng chúng em học hỏi giao lưu, và chia sẻ để cùng thao
thức nhóm lên ngọn lửa chiếu sáng tương lai của ngày mai.
[9]
I. Nhập đề
Sống là có dự phóng tương lai. Và biết đâu mai kia
chúng ta sẽ là những chị giáo hay bề trên. Vậy mỗi chúng ta sẽ làm gì
hay không làm gì cho các ứng sinh của mình. Bài thuyết trình sau đây xin
đóng góp đôi chút ý tưởng trong định hướng này.
II. NỘI DUNG
1 . Những điều sẽ làm và không làm
Khi bước vào đời tu trong một Hội Dòng hay Tu Hội,
mỗi chúng ta đã hơn một lần được đón nhận và chứng kiến "cuộc lên ngôi "
của Bề Trên hay Chị Giáo qua những lần Tổng Tu Nghị. Đó là biến cố quan
trọng đối với Hội Dòng cũng như mỗi thành viên. Sự kiện này bầy ra
trong tâm trí chúng ta bao câu hỏi chưa lời giải đáp. Với tư cách và tâm
huyết của người lãnh đạo và giáo dục, Bề Trên hay Chị Giáo mong muốn
giúp ứng sinh trở thành Chị Dòng tốt: thuộc về Chúa, về Giáo Hội và mọi
người. Để được như vậy, Chị Giáo và Bề Trên phải là tấm gương soi phản
chiếu đặc sủng và linh đạo Dòng cho ứng sinh noi theo.
a .Về ơn gọi.
Nhân ngày cầu nguyện cho ơn gọi Thiên Triệu, Đức
Thánh Cha nhắn nhủ rằng Ơn gọi thánh hiến là một hồng ân đặc biệt. Ơn
gọi đó được khởi nguồn từ vị Thiên Chúa mang tên Tình Yêu – "Không phải
anh em đã chọn Thầy nhưng chính Thầy đã chọn anh em" (Ga15,16) và
Giêrêmia xác tín “Ngài đã chiếm đoạt tôi.” Hiểu để sống đúng ơn gọi là
niềm thao thức và lẽ sống của người Tu sĩ. Do đó, chị Giáo và Bề Trên
tương lai cần giúp ứng sinh hiểu sâu và sống ơn gọi, đồng thời phát
triển nét đẹp của tinh thần Dòng.
b .Về Đời Sống Cộng Đoàn.
Khi đề cập về mối quan hệ trong đời thường, người ta
thường nói ”tư tưởng không thông bình không cũng nặng.” Đời sống cộng
đoàn vừa là một hy sinh lớn, vừa là phương tiện giúp ta nên thánh. Đó là
tư tưởng và kinh nghiệm của các thánh, vì mỗi người một tính, nên trăm
người trăm tính, có chung thì có đụng. Vậy làm sao có được sự dung hòa,
một bầu khí an vui? Thưa "đồng hành" là điều cần thiết và lý tưởng giúp
trên và dưới hiểu nhau hơn, cảm thông với những thăng trầm trong đời tu.
Để được vậy, Chị Giáo và Bề Trên cần biết lắng nghe
và chắt lọc để hiểu rõ tâm nguyện của ứng sinh, mối riêng tư, thầm kín
mà họ không dễ nói ra. Chị Giáo và Bề trên cố gắng tỏ ra sẵn sàng, vui
vẻ và niềm nở mỗi khi chị em muốn gặp gỡ, trao đổi, hãy giúp đỡ họ bằng
trái tim của một người chị, người mẹ, tỏ rõ thiện chí muốn đón nhận ý
kiến của bề dưới trong việc điều hành của mình, cũng như can đảm sửa sai
các em để họ mỗi ngày nên tốt hơn.
c . Đời sống tông đồ
Chị giáo và Bề trên phải thao thức tạo điều kiện trau
dồi khả năng tri thức cho các em, sẵn sàng đầu tư thời gian, tinh thần
lẫn vật chất giúp các em phát huy năng khiếu và khích lệ tinh thần hăng
say học tập nơi các em: "Cần quan tâm đến việc học hành để họ sống ơn
gọi cách sung mãn và chu toàn sứ mạng Dòng cách tốt đẹp". Chị Giáo và Bề
trên sẵn lòng cho các em tham gia vào các lãnh vực hoạt động của Dòng
theo khả năng của các em, không bắt các em làm những việc ngược với khả
năng của mình. Đồng thời khơi dậy tinh thần nhiệt thành, hăng say truyền
giáo nơi các em theo lối sư phạm của Chúa.
Chị giáo cũng như Bề trên cần quan tâm đặc biệt đến
đời sống tâm linh của từng chị em, giúp chị em tìm xác định mục đích
quan trọng của đời tu là yêu Chúa và phục vụ Chúa trong mọi người, với
tâm niệm "yêu Chúa chứ không yêu công việc của Chúa," tránh cho chị em
tình trạng quá say mê công việc vì thấy hợp sở thích, được mọi người tán
thưởng.
2 . Những điều trông đợi
Qua nhiều kinh nghiệm cuộc sống, người ta kết luận
rằng niềm tin là yếu tố tạo nên mọi mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống.
Đây cũng là ước mong mà các Bề trên tương lai muốn nơi ứng sinh và bề
dưới :
a . Tin vào quyền bính của Chúa nơi Bề trên
Bề trên vẫn là con người trong tiến trình sinh – lão –
bệnh – tử. Nơi họ vẫn còn đó những yếu đuối, sa ngã và kém cỏi, nhưng
Chúa tín nhiệm sử dụng họ. Người trao quyền bính vào tay họ: “ai nghe
các con là nghe Ta.” Quả thế, dù họ yếu đuối nhưng Chúa ban đủ ơn cho
họ: “Ơn Ta đủ cho con”. Vậy dù bề dưới có nhiều khả năng và thông thái
hơn Bề trên, thì cũng hãy tôn trọng quyền bính của Chúa trong họ: “Ai
nấy hãy tùng phục quyền bính trên, vì mọi quyền bính đều do Thiên Chúa,
và những quyền hiện có đều do Thiên Chúa an bài”.
Song các Bề trên cũng cần theo gương sử dụng quyền
bính cách dịu dàng nhưng cương quyết của Chúa Giêsu: Ngài đã vâng lời
Chúa Cha trước khi truyền lệnh, đã muốn để Chúa Thánh Thần hướng dẫn
trước khi hướng dẫn, đã không ở xa mà truyền lệnh nhưng Ngài đến và ở
gần kề ("Chúa Giê su đi khắp các làng mạc để giảng dậy” Mt 9, 13). Để
tránh hiểu lầm, hiểu sai, Bề trên ban lệnh truyền cách rõ ràng qua đối
thoại, trao đổi với Bề dưới theo nguyên tắc tín nhiệm – cởi mở – tôn
trọng, đồng thời nâng đỡ chị em chu toàn lệnh truyền đó. Các Bề trên
mang trọng trách là cánh buồm, là bánh lái của Hội Dòng, nên cần nhiều
ơn Chúa qua lời cầu nguyện của chị em, để với ân sủng của Chúa mà Bề
trên chu toàn phận vụ, mỗi ngày trở nên người của Chúa và của mọi người.
b . Song Hành Với Thế Giới
Đứng trước đà tiến không ngừng của nền khoa học kỹ
thuật, với hệ thống truyền thông tối tân giúp con người dễ mở rộng việc
giao lưu, kết bạn bốn phương của người trẻ. Đây là thách đố cho các nhà
đào tạo. Bộ mặt Dòng tu cũng như mỗi cá nhân có sự đổi thay rõ rệt: giữa
hai thế hệ trong cùng Dòng có quan điểm, cái nhìn theo những chiều
hướng khác nhau. Chị Giáo và Bề trên hướng nhìn về tương lai để giúp mỗi
cá nhân được thăng tiến và đem lại sự phát triển cho Dòng; đồng thời
giúp các em khỏi rơi vào việc chạy theo trào lưu xã hội, làm mất đi nét
đẹp và bản chất của người Nữ Tu. Đức Thánh Cha nhắn nhủ rằng “để sống ơn
gọi cách sung mãn và chu toan sứ mạng của Dòng, chúng ta cần học biết
cách thinh lặng và chiêm niệm để lắng nghe chân lý là chính Lời Đức Kitô
giữa thế giới ồn ào, náo động ngày nay".
III . KẾT LUẬN
Đó là đôi nét định hướng của nhóm chúng con. Chúng
con cám ơn cha Giáo và qúy chị đã quan tâm theo dõi. Xin Cha Giáo và quý
chị thêm lời cầu nguyện cho chúng con, để mỗi ngày chúng con biết không
ngừng tìm hiểu, đồng thời đào sâu hơn nữa về định hướng này.
[10]
A. DẪN NHẬP
Đề tài này nằm ngoài khả năng của chúng con, vì chúng
con còn nhỏ chưa có kinh nghiệm làm Bề Trên hay chị Giáo, có chăng chỉ
là kinh nghiệm làm bề dưới mà thôi. Nhưng vì bổn phận và vâng lời, chúng
con xin chia sẻ những kinh nghiệm có được sau những dịp tiếp xúc và
đồng hành với các Bề Trên, cũng là những kinh nghiệm rút ra khi giao
tiếp với các chị em tu sĩ Dòng khác. Vì thế có thể ít nhiều mang tính
chủ quan, phiến diện, nhưng hy vọng có thể là những gợi ý để các Bề Trên
tương lai tham khảo và nhờ đó tìm ra bài học cho mình.
Với thời gian ngắn ngủi 10 năm sống trong nhà Dòng
qua kinh nghiệm là bề dưới con thấy là Bề Trên phải làm nhiều điều cho
chị em trong Dòng mình, cũng như nhiều điều các Ngài muốn nơi bề dưới
của mình. Nhưng con xin gom lại trong những điểm sau:
I . NHỮNG ĐIỂM BỀ TRÊN CẦN LÀM CHO BỀ DƯỚI.
1 . Công bằng với chị em, không thiên vị.
Được Chúa đặt lên coi sóc mọi chị em hay ít là một
nhóm các chị em, chị phải đối xử công bằng với họ. Việc trước tiên chị
phải làm để thực thi công bằng với chị em là lo cho phần rỗi linh hồn
của chị em. Chị sẽ sử dụng hết những phương tiện có thể như lời cầu
nguyện, gương sáng, nước mắt, những hy sinh mệt nhọc… để chu toàn bổn
phận lớn lao đó. Những việc đạo đức mà chị em cần có và thời gian để họ
thực hiện những việc ấy chị phải cung cấp đầy đủ theo đúng như luật Dòng
ban cho họ. Nhiều lúc có thể vì thế mà phải hy sinh lợi ích vật chất
của Dòng thì Chị đừng do dự, thà Hội Dòng chịu túng thiếu còn hơn một
chị em trong Dòng phải hư mất đời đời vì không có của ăn thiêng liêng.
Là Bề Trên, chị có bổn phận phải lo cho sức khỏe của
chị em, vốn là tài sản và kho báu của Dòng. Sự an hòa của Dòng cũng tùy
thuộc vào yếu tố này, vì thế chị phải bồi bổ sức khỏe cho chị em khỏi
đau yếu, qua bữa ăn chung hay riêng cho chị em nào, tùy hoàn cảnh và sự
cần của mỗi người. Thật là sỉ nhục và bất công khi tiết kiệm mấy đồng
bạc mà Bề Trên từ chối không cung cấp cho chị em những sự cần, khiến chị
em thay nhau “nâng cao tay nghề cho bác sĩ.” Hay vì kiếm thêm mấy đồng
bạc mà Bề Trên để cho chị em chết gục trong công việc.
Ngoài ra, theo lẽ công bằng, chị phải đối xử với ai
cũng như nhau, đừng vì thấy chị em nào dễ thương, dễ bảo, ăn nói ngon
ngọt, hay giúp đỡ mà Chị dành cho một tình cảm riêng, sâu sắc hơn những
người khác. Đừng để thứ tình cảm mờ tối đó đi sâu vào chị đến đỗi chị đi
đâu cũng chỉ có chị em đó được đi, chị ốm chỉ người chị em đó được chăm
sóc, và nếu có ai thấy như thế không tốt và góp ý thì bị chị coi là
ganh tỵ. Thật đáng sợ và đáng trách khi chị đối xử như thế và hậu quả bi
đát xảy ra là sự ấm ức, ganh tỵ, bất hòa trong gia đình Dòng, khi đó
Dòng sẽ chết dần và người phải chịu trách nhiệm đầu tiên là chị.
2. Cầu nguyện cho chị em.
Trong gia đình Dòng, Bề Trên là người mẹ của gia
đình, là mẹ của các linh hồn mà Chúa ủy thác cho. Vì thế chị phải hành
động như một người mẹ. Phương tiện hữu hiệu để giáo dục con cái mà bà mẹ
nắm trong tay là cầu nguyện. Do đó, chị nhớ tới từng chị em của mình
khi ở trước Chúa Giêsu Thánh Thể; chị hãy xướng lên từng tên của họ,
nhất là những chị em đang làm chị bận tâm. Chị phó thác và trao dâng cho
Chúa Giêsu, Ngài sẽ huấn luyện và sửa dạy các chị em cho Chị.
3. Không quá cứng nhắc trong vấn đề kỷ luật.
Kỷ luật đối với đời sống tu trì chỉ như thân xác đối
với linh hồn mà thôi. Nó cần thiết nhưng không phải là điều chủ yếu. Vì
thế, khi lợi ích của cộng đoàn đòi hỏi, cũng như những lúc cá nhân chị
em đó cần thiết, chị sẽ uyển chuyển cho họ. Khi uyển chuyển trong những
trường hợp cần thiết, chị không làm cho luật lỏng lẻo nhưng đề cao luật.
Lacordaire nói: “luật là hải đăng chứ không phải cái ụ.” Nếu cứng nhắc
quá theo mặt chữ sẽ dẫn tới những phản kháng phá luật, giữ luật cách
hình thức, vô tâm. Vì vậy khi Chị uyển chuyển luật cách khôn ngoan, chị
sẽ giúp chị em giữ luật ở mức độ cao. Điều này cần và rất cần đối với
các em mới vào tu, chúng cần được uốn nắn từ từ. Vì thế Chị hãy ôn tồn
chấp nhận những sai lỗi ban đầu của họ và dần dần đưa họ vào kỷ luật
cách khôn ngoan. Chị hãy mềm mại dịu hiền khi quở trách và tha thứ lỗi
lầm của họ. Như thế Chị sẽ chiếm được lòng họ, gây cho họ những thiện
cảm, nhờ đó việc huấn luyện sẽ thành công.
4. Bác ái với chị em.
Người mẹ nào mà chẳng yêu con. Là mẹ trong gia đình
Dòng, Chị hãy đối xử yêu thương bác ái với mọi chị em. Chị hãy nhắm mắt
bỏ qua nhiều chuyện của con cái mình, bỏ qua cách dễ dàng những lỗi lầm
của những em mới vào Dòng. Chị hãy thực thi tình khoan nhân và lòng
thương xót cách rộng rãi. Đặc biệt Chị hãy tha thứ tất cả những gì xúc
phạm đến riêng cá nhân Chị, hãy nhẫn nhục chịu đựng nết xấu của chị em.
Hãy kiên trì chờ đợi từng bước chậm chạp của chị em trên con đường biến
đổi, đừng bực bội oán thù hay nổi giận, càu nhàu khi chị em lỗi lầm. Chị
hãy niềm nở tỏ ra sẵn sàng đón tiếp họ trong bất cứ giờ nào, về bất kỳ
việc gì. Làm như thế họ mới dám đến để tỏ lộ tâm can cùng chị và như thế
chị sẽ thành công trong việc huấn luyện.
Ngoài ra, Chị hãy cảm thương với chị em trong Dòng,
bày tỏ lòng cảm thương bằng những lần viếng thăm, an ủi khi họ đau ốm.
Cảm thương với những chị em đi phục vụ ở xa nhà. Khi họ về, Chị hãy hỏi
han tỉ mỉ, lên tinh thần cho họ, khuyến khích khen tặng họ khi họ thành
công và an ủi họ khi họ thất bại. Chị hãy hòa mình với chị em, khiêm tốn
nghe họ góp ý, nghe họ trình bày những khăn khăn trong cuộc sống với sự
cảm thông giúp đỡ. Đặc biệt Chị hãy nghe họ đối thoại trước một mệnh
lệnh họ không thể thi hành. Chị đừng áp đặt, nhưng hãy giải thích để có
được sự vâng lời tự nguyện từ nơi họ. Khi bác ái và thông cảm như thế,
Chị sẽ được chị em yêu mến, kính trọng và hiệu quả lớn hơn là họ sẽ yêu
mến Dòng, đồng thời ý thức hơn việc giữ kỷ luật, đi vào tinh thần Dòng.
5 . Phục vụ chị em.
“Ta đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ.”
Chị hãy nên giống Đức Giêsu, – nhà đào tạo các nhà đào tạo, khiêm tốn
phục vụ chị em: Những việc hèn mọn trong cuộc sống Chị làm, những lời
xin lỗi Chị nói, những trách nhiệm Chị phải chịu do sai lỗi của chị em…
Có phục vụ như thế Chị mới hy vọng đào tạo chị em thành những người phục
vụ.
Đó là những điều các Bề Trên tương lai cần làm và
không nên làm cho chị em của mình. Còn sau đây là những điều các Bề Trên
mong muốn có nơi các ứng sinh và bề dưới của mình.
II. NHỮNG ĐIỀU CẦN CÓ NƠI BỀ DƯỚI.
1. Biết quý trọng ơn gọi.
Ơn gọi là quà tặng Thiên Chúa ban cho kẻ Người chọn.
Vì thế em hãy quý trọng, đừng thờ ơ lãnh đạm trong việc duy trì và phát
triển ơn gọi Chúa ban cho em. Trái lại phải tích cực làm lớn mạnh ơn gọi
bằng cách nỗ lực sống tinh thần đặc sủng và linh đạo của Dòng. Kẻ không
quý trọng ơn gọi hễ gặp trái ý là đòi về.
2. Sống đúng ơn gọi.
Là nữ tu, em phải sống đúng ơn gọi là một tu sĩ theo
Hiến Chương và qui luật Hội Dòng đòi hỏi. Nếu không, em đã tự khinh miệt
mình, vì chỉ có bề ngoài là tu sĩ hay chỉ là tu sĩ trên văn bản giấy tờ
mà thôi, còn tư cách sống và cuộc sống của em không phải là một tu sĩ.
Em hãy suy xét và nhìn lại sự lựa chọn của mình và sống đúng với bản
chất của sự lựa chọn đó để tránh lâm vào tình trạng biến chất và tránh
những cái bỉu môi, những câu nói mai mỉa của người đời: “dì Dòng mà
vậy!” Biết rằng để sống đúng với bản chất tu sĩ của mình, em phải hy
sinh bỏ mình rất nhiều và nó càng khó khăn hơn khi sống giữa thế giới
văn minh phát triển và tục hóa này: khó khăn chứ không phải là không
thể, cùng với ơn Chúa.
3. Vâng lời.
Bước vào Dòng là em chấp nhận Hội Dòng cùng mọi kỷ
luật và mọi chị em trong Hội Dòng. Chính em tự nguyện xin khấn và trong
ngày tuyên khấn, em hãnh diện và trịnh trọng lớn tiếng tuyên bố cho lòng
mình và mọi người biết từ nay em sẽ vâng phục và tình nguyện vâng phục
những gì mà Hiến Chương và Quy Luật của Hội Dòng quy định. Vì thế mong
rằng trong cuộc sống, vâng phục phải là nền tảng của đời em. Để vâng
phục bề trên cách mau mắn, em đừng nhìn vào những khuyết điểm của ngài,
nhưng hãy đeo cặp kính đức tin để nhìn thấy căn nguyên sâu xa của lệnh
truyền mà Bề Trên dành cho em là chính ý Thiên Chúa, Người đã gọi em và
là Bề Trên duy nhất của em. Còn Bề Trên chỉ là dụng cụ Thiên Chúa dùng
để đưa lệnh truyền đến cho em mà thôi. Với cặp kính đức tin đó em mới
vâng phục trong tình yêu và vui vẻ mà không nghĩ Bề Trên có hợp với mình
hay không, Bề Trên có đủ tư cách hay không, Bề Trên có giỏi hay không…
Hãy cố gắng mua cho mình cặp kính đức tin quý giá ấy qua cầu nguyện.
4. Có tinh thần kỷ luật
Theo quan niệm chung đời sống tu trì có giá trị cao
hơn đời sống giáo dân bình thường. Vì cuộc sống tu trì phải hy sinh hơn,
sống kỷ luật hơn. Đúng như thế, khi chưa sống đời tu trì thì đời sống
thỏai mái không bị ràng buộc, không bị o ép bởi kỷ luật: thích ăn là ăn,
thích ngủ là ngủ; thích nhảy đầm nhảy hồ gì tùy ý; thích mốt quần này
áo nọ không ai cấm, tóc quăn duỗi cho thẳng càng đẹp. Nhưng khi bước vào
nhà Dòng, em sẽ dần dần được các Bề Trên đưa vào khuôn khổ, kỷ luật sẽ
dần huấn luyện em nên con người mới. Chắc lúc đầu em khó chịu vì phải
giữ kỷ luật: đang ngủ em phải dậy, đi đâu phải có phép tắc, mọi thứ đều
cứng nhắc theo một khuôn mẫu theo mặt chữ, kỷ luật làm mất tự do, nhưng
chịu làm quen với nó, em sẽ thành người tri âm tri kỷ với kỷ luật. Vì
chỉ có kỷ luật mới dám trách mắng và tố cáo em khi em phản bội nó, chỉ
kỷ luật mới bác ái chỉ cho em những hố sâu em sẽ rơi vào khi không có nó
ở bên. Như vậy “ai giữ luật thì luật sẽ giữ mình”, em nhớ và hãy sống
điều này.
5. Yêu Dòng và xây dựng Dòng.
Ngày em bước vào Dòng là ngày em tình nguyện bỏ gia
đình tự nhiên để nhận lấy cho mình gia đình thiêng liêng là Hội Dòng. Vì
thế em phải tận tâm tận lực xây dựng và phát triển Dòng. Trước hết
người yêu Dòng là người "tàn nhẫn" với mình. Điều này có lẽ xa lạ với
em, có thể là vô lý nữa. Nhưng không, nó không vô lý chút nào, trái lại
hoàn toàn chính xác. Bởi vì sống trong gia đình Dòng nếu em không dần bỏ
đi những tính riêng, những thói quen xấu, cắt tỉa những ích kỷ ươn hèn
thì em không thể sống hòa hợp với chị em trong Hội Dòng. Khi hy sinh
chịu cắt tỉa những điều xưa nay gắn bó với mình làm mình phải tê tái, đó
chẳng phải là tàn nhẫn với mình sao?
Tiếp đến yêu Dòng và xây dựng Dòng là cầu nguyện cho
các Bề Trên. Vì con thuyền Hội Dòng có tiến mạnh, tiến nhanh trên con
đường thánh thiện cần phải có các Bề Trên là những bánh lái tốt. Ngoài
ra, yêu Dòng là khiêm tốn góp ý với các Bề Trên về tình trạng những gì
mình cảm thấy không được nơi chị em, những điều không đúng tinh thần
Dòng có nơi chị em. Hãy trình bày cho Bề Trên biết để Hội Dòng trở nên
gia đình yêu thương như Chúa và Giáo Hội mong muốn, chứ đừng vì kiếm
chuyện để lấy điểm hay nịnh hót. Yêu Dòng là đứng về phía các Bề Trên,
em đừng vì xích mích với chị em hay không ưa Bề Trên mà về phe với người
khác để chống Bề Trên, chống nhà Dòng. Vì khi em làm như thế hậu quả bi
đát sẽ xảy ra là Hội Dòng bất an và dẫn đến tan rã.
Cuối cùng yêu Dòng và xây dựng Dòng là tận tụy hy
sinh phục vụ Dòng. Em hãy sẵn sàng cho đi sức lực, dâng hiến trí tuệ và
khả năng để phục vụ Dòng như Chúa muốn qua mệnh lệnh của Bề Trên. Đừng
cậy tài hát hay, vũ đẹp hoặc tài nọ cán kia mà bắt Bề Trên theo ý mình.
Những người như thế có trong Dòng thêm tai hại và là ung nhọt trong thân
thể Hội Dòng. Để xây dựng Dòng, em còn phải rất khiêm tốn và biết ơn
Dòng vì Hội Dòng là nơi nuôi ta lớn lên về thể xác, học hành, tri thức
và dẫn dắt ta lớn lên trong con đường nhân đức, chỉ có thái độ biết ơn
mới biến em nên người nữ tu đích thực.
C. KẾT LUẬN
Đó là phần chia sẻ của nhóm con về những điều cần có
nơi các Bề Trên tương lai và những điều mà các ứng sinh và bề dưới cần
luyên tập. Ước mong chia sẻ này góp phần vào công tác huấn luyện Bề Trên
tương lai và hy vọng nhờ đó đời sống thánh hiến thăng tiến và có chất
lượng hơn trong thời đại hôm nay.
[11]
Dẫn Nhập
Để đến một nơi nào đó, ta có rất nhiều con đường và
nhiều phương tiện: chúng ta có thể đi tầu, đi máy bay hay đi ôtô và thậm
chí chúng ta có thể đi bộ. Mỗi người đều có một chọn lựa với sự tự do
của mình, nhưng khi đã bước lên xe là chúng ta sẽ phải phụ thuộc vào
người lái xe. Chúng ta có thể đến đích an toàn hay chúng ta sẽ bị say
xe, chúng ta sẽ đến đích bình an hay chúng ta phải trầy da tróc vảy vì
đụng xe, vì lạc đường. Tất cả là phụ thuộc phần lớn vào sự khéo léo,
hiểu biết và phẩm chất của người lái xe.
Ta cũng có thể nhìn thấy hình ảnh chiếc xe chở khách
nơi cộng đoàn Dòng tu của chúng ta, trong đó người lãnh đạo là những bác
tài xế. Như vậy, có thể nói người lãnh đạo có vai trò hết sức quan
trọng trong việc dìu dắt, lèo lái và vun trồng các ơn gọi tiến bước
trong cuộc sống tu trì. Các ứng sinh có an toàn tiến bước trong niềm vui
và sự phấn khởi cũng là phụ thuộc vào sự dẫn đường của người lãnh đạo.
Các ứng sinh có phải trầy da tróc vẩy với những hy sinh, những nước mắt
cũng phụ thuộc nhiều vào người lãnh đạo. Thậm chí các ứng sinh có phải
xuống xe giữa đường, bỏ cuộc giữa chừng cũng phụ thuộc nhiều vào người
lãnh đạo.
Nếu người tài xế cầm trong tay vận mệnh của những
hành khách, thì người lãnh đạo cũng nắm trong tay sức sống và ý chí của
các ơn gọi. Và nếu như đòi hỏi người tài xế phải có những phẩm chất,
những điều kiện và giấy phép hành nghề, thì người lãnh đạo cũng cần phải
có những tiêu chuẩn nhất định và phải có giấy phép hành nghề – đó là
lương tâm và tình yêu. Vậy để có một hành trình tu trì đẹp, người lãnh
đạo nên làm gì và không nên làm gì cho các ứng sinh của mình? Và họ mong
ước gì hay không trông đợi gì nơi các ứng sinh của mình?
I. NhỮng điỀu BỀ TRÊN nên và không nên làm
1) Gặp gỡ và đối thoại:
Là người đồng hành cùng các ứng sinh, hướng dẫn các
ứng sinh thì trước hết, người lãnh đạo chúng ta phải hiểu các ứng sinh:
họ đang cần gì? Đang thiếu gì? Và đang muốn gì?
Chúng ta sẽ không có thể hiểu được nếu người lãnh đạo
và các ứng sinh đứng ở hai bên bờ khác biệt. Để có thể tiếp cận được và
để có thể hiểu được các ứng sinh, người lãnh đạo cần chủ động bắc lên
nhịp cầu gặp gỡ. Có gặp gỡ chúng ta mới hiểu nhau, có gặp gỡ ta mới biết
người cần gì, người có gì?
Gặp gỡ trước hết sẽ giúp ta hiểu người và người hiểu
ta. Và có gặp gỡ mới giúp hai bên khám phá ra sự khác biệt. Theo G.
Marcel: “Gặp gỡ là sự cảm thông giữa hai nhân vị”. Trong đời sống cộng
đoàn, nguyên nhân của phần lớn các cuộc hiểu lầm, xung đột giữa người
lãnh đạo với các ứng sinh là do thiếu gặp gỡ. Thiếu gặp gỡ, sẽ làm cho
người trên không hiểu người dưới, người dưới không hiểu người trên, tạo
nên hố cách biệt sâu thẳm giữa ta với người, dẫn đến sự khó cảm thông.
Gặp gỡ không chỉ giúp người lãnh đạo tạo ra mối thân
tình hơn với các ứng sinh, giúp truy tìm chân lý mà còn giúp người lãnh
đạo loại bỏ được những nghi ngờ, những thắc mắc và loại bỏ được những
thành kiến. Khai trừ những khác biệt giữa người lãnh đạo với bề dưới có
thể dẫn đến thái độ áp đặt, độc quyền và độc tôn, mà hậu quả tai hại là
có thể khai trừ chính các ứng sinh. Nhiều nghi ngờ không được giải toả
dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng, là do thiếu gặp gỡ, thiếu hiểu biết
dẫn đến ngờ vực hiểu lầm.
Mỗi con người là một huyền nhiệm và trong mỗi người
luôn hiện diện một cái gì linh thiêng, bất khả xâm phạm. Chẳng ai có thể
hiểu được thế giới bí ẩn này nếu chỉ dừng lại nơi những quan sát, phân
tích bên ngoài. Huyền nhiệm chỉ vén mở cho ta khi tha nhân tự nguyện mở
cánh cửa và cho phép bắc nhịp cầu tương giao. Đối thoại là một trong
những chìa khoá thích hợp để mở cánh cửa huyền nhiệm đó, để đi vào thế
giới xa lạ này, để hiểu và cảm thông với nhau.
Theo Socrate, sứ mệnh của giáo dục là soi sáng và
hướng dẫn, chứ không phải truyền đạt kiến thức một cách máy móc cho
người khác. Nhiệm vụ của giáo dục cũng không phải là chụp lên đầu ứng
sinh những quan niệm tiền chế, nhét vào óc họ những tri thức khách quan,
nhưng là khai mở, soi sáng, hướng dẫn, giúp đỡ hầu làm triển nở chân lý
tiềm ẩn nơi mỗi người. Điều này chỉ có được khi có sự đối thoại giữa
người lãnh đạo với các thụ huấn sinh.
Cám dỗ thường xuyên của các nhà đào tạo là muốn nhanh
chóng loại trừ mọi khác biệt, muốn đúc nặn ứng sinh theo quan niệm và
hình ảnh của riêng mình. Sợ đứa con tinh thần của ta không giống ta. Thế
nên ta cố sức nhào nặn, bắt chúng phải vào một khuôn nhất định, phải
cảm nghĩ, tư tưởng, hành động y hệt như ta. Tệ hơn nữa nhiều khi còn lấy
tiêu chuẩn chủ quan của ta để đánh giá, phê phán và xếp loại ứng sinh:
ai phù hợp với tiêu chuẩn của ta sẽ được liệt vào hạng gương mẫu, còn ai
có lối sống, nếp nghĩ, tâm thức khác ta sẽ bị nghi ngờ hay đánh giá
thấp.
Vì không chấp nhận tính đa nguyên đa diện của ứng
sinh, rất nhiều lần sự khác biệt đã gây nên nỗi bất an, lo sợ phiền
muộn. Nhiều khi ta đau khổ vì không chịu nổi sự khác biệt của ứng sinh
mà quên rằng ứng sinh là nhân vị khác ta, và nhìn từ góc độ khác thì
chính những khác biệt đó có thể làm phong phú và triển nở đời sống tu
trì. Thế nên mục đích của đối thoại đòi hỏi hai yếu tố: giữ quan điểm
của mình và tôn trọng quan điểm của ứng sinh, trân trọng những nét riêng
biệt của họ.
Gặp gỡ đối thoại cũng là phương thế để người lãnh đạo
thấy mình là người như thế nào? Đường hướng mình đang đi có gì phù hợp
hay chưa phù hợp và có gì cần phải điều chỉnh, củng cố. Đối thoại luôn
bao hàm thái độ dấn thân và chấp nhận thách đố. Nó đòi hỏi người đối
thoại phải ra khỏi tháp ngà định kiến và can đảm sửa đổi chính quan điểm
và cuộc sống của mình. Người đối thoại chân thành là người dám chấp
nhận đặt lại ngay cả những xác tín của riêng mình, dám biến đổi chính
cuộc sống hay cách thế sống của mình. Vì vậy, người lãnh đạo nên gần gũi
tiếp xúc, gặp gỡ các ứng sinh một cách thường xuyên. Chúng ta không nên
viện cớ bận nhiều việc, tránh né hoặc gây khó dễ, tạo khoảng cách làm
các ứng sinh ngại gặp gỡ tiếp xúc, khiến các ứng sinh lại né tránh ta
khi có cơ hội gặp gỡ.
2) Lắng nghe:
Nhưng, gặp gỡ sẽ thực sự thất bại nếu người lãnh đạo
không tôn trọng thái độ của ứng sinh trong gặp gỡ, hay không có tinh
thần đối thoại cởi mở trong tình huynh đệ. Đối thoại là chia sẻ, trao
đổi thông tin, quan điểm, kinh nghiệm. Một cuộc đối thoại đích thực bao
hàm hai chiều hỗ tương giữa nói và nghe, cũng như vừa cho vừa nhận.
Thiếu vắng thái độ lắng nghe sẽ không còn là đối thoại, mà là độc thoại.
Khi thực sự biết lắng nghe, chúng ta biểu lộ thái độ trân trọng những
gì người nói muốn thổ lộ và cảm thông với những âu lo, căng thẳng, thất
vọng hay hy vọng của họ. Chân thành lắng nghe sẽ đem đến cho người nói
lòng tự tin và mối thiện cảm.
Là người lãnh đạo, ta không nên chỉ gặp gỡ các em mà
lại không có đối thoại – tức là chỉ nhắc nhở, sửa sai hay liệt kê khuyết
điểm này nọ của người dưới mà không cho người dưới có được sự đối
thoại, bày tỏ nỗi lòng. Vì thực tế, nhiều việc xảy ra như ta thấy nhưng
sâu xa lại không phải như ta nghĩ. Vì vậy, người lãnh đạo hãy đối thoại
trong tình cảm thông, tức là phải có sự qua lại trong sự tôn trọng chân
thành, phải nói với ứng sinh nhưng cũng phải nghe ứng sinh nói.
Nghe ở đây không phải là nghe qua loa nhưng phải là
lắng nghe, nghe hết, nghe rõ, không cướp lời hay cắt lời người đối
thoại… nghe không hết, nghe không rõ là nguyên nhân cho các cuộc gặp gỡ
đi đến thất bại, thay vì gặp để gỡ thì nó lại càng làm cho rối, thậm chí
lại còm thêm trầm trọng hơn.
Vì vậy, lắng nghe là một điều không thể thiếu trong
các mối quan hệ, nhất là mối quan hệ giữa người lãnh đạo và người bề
dưới, đặc biệt lại là các ơn gọi mới. Nhưng vấn đề đặt ra là chúng ta
phải lắng nghe với thái độ như thế nào?
Mỗi người là một cá vị, một hành tinh với muôn vàn
những bí mật, những điều thần bí cần được khám phá, ngay bản thân con
người là chủ của hành tinh cá vị mình mà cũng chưa hiểu hết được những
bất thường, như thánh Phaolô nói: “Những việc tốt tôi muốn làm thì tôi
không làm”. Chủ thể nhiều khi còn không hiểu được chủ thể cá vị, huống
chi người ngoài cuộc. Đúng là người đời nói chí phải “Ngố như người
ngoài hành tinh”.
Những người lãnh đạo là người đứng bên ngoài cá vị
ứng sinh, nếu người lãnh đạo không tìm cách khám phá, không lắng nghe âm
thanh phát ra từ con tim, từ tâm hồn của người ứng sinh thì người lãnh
đạo sẽ chẳng có thể hiểu được gì ngoài những gì chúng ta thấy ở bên
ngoài… Do đó, ta cần phải lắng nghe để thấy, để hiểu và để cảm thông …
Nhưng trước hết, để có thể lắng nghe người khác,
chúng ta cũng phải tập lắng nghe được chính mình, tiếng nói của con tim
mình, tiếng nói của những hành động của mình, tiếng nói của những cách
ứng nhân xử thế của mình. Có lắng nghe được mình ta mới thấy được mình
đã sống thế nào và phải sống ra sao, phải cư xử thế nào, phải hướng dẫn
các ứng sinh làm sao? Từ việc biết lắng nghe mình, ta mới nghe được
người khác nghĩ gì, nói gì, muốn gì và cần gì?
Với cặp mắt tinh tế và tấm lòng yêu thương, người ta
sẽ nắm bắt không phải những lời đã được nói ra, mà ngay cả những gì chưa
được phát ra thành lời. Phải đọc cho ra cái “ý tại ngôn ngoại” như cổ
nhân từng nói. Ngay cả âm điệu, cử chỉ, gương mặt, ánh mắt và toàn thể
dáng vẻ của người nói cũng mang một ý nghĩa độc đáo. Cần lắng nghe qua
cách sống của mỗi ứng sinh. Không phải lắng nghe để xét nét, theo dõi,
để phán xét nhưng phải lắng nghe với thái độ chân thành, tinh thần học
hỏi, rộng mở. Nghe với tinh thần cởi mở là nghe với sự khách quan và đón
nhận với một tình yêu chân thành vô điều kiện. Để nghe với tinh thần
học hỏi và cởi mở ta cần phải loại bỏ thành kiến, loại bỏ tính chủ quan
để có thể nhận biết và tôn trọng sự thật. Vì thực tế, có tâm hồn lắng
nghe sẽ giúp ta tránh được những phán đoán lệch lạc, những quyết định
vội vàng, những xử trí vô lý làm cho các ứng sinh phải hứng chịu những
khó khăn, thậm chí những đau khổ.
Là ứng sinh ai cũng mong muốn nơi Bề trên mình có
những quyết định đúng đắn, những cư xử công minh, hợp tình hợp lý, không
lệch lạc thiên tư tây vị. Họ luôn muốn tìm nơi chị giáo một điểm tựa
trong ơn gọi khi gặp khó khăn, trắc trở. Nhưng nếu chúng ta- những chị
giáo lại thiếu lắng nghe thì hậu quả mang lại thật đáng tiếc cho chúng
ta và nhất là cho các ứng sinh. Bên cạnh đó, người lãnh đạo cũng cần
phải qua cuộc sống của mình phát ra cho các ứng sinh của mình một tín
hiệu: “Các em đang được tôn trọng, đang được lắng nghe”. Bởi tín hiệu
này rất cần thiết cho các ứng sinh, giúp các em thêm tự tin trong gặp
gỡ, thêm cởi mở trong quan hệ với người lãnh đạo.
3) Chia sẻ với các ứng sinh
Một yếu tố khác hết sức cần thiết trong các mối quan
hệ giữa Bề trên và bề dưới đó là tinh thần chia sẻ. Là chị giáo, chúng
ta hãy chia sẻ cùng các em những nỗi ưu tư, những trăn trở trong đời tu.
Là người trên, người hướng dẫn đồng hành cùng các ứng sinh, chúng ta
cần phải chủ động trong chia sẻ, phải đi bước trước, và phải trao cho
các em cảm giác, cảm nghiệm mình được tôn trọng, được cảm thông khi được
chia sẻ… Người lãnh đạo sẽ rất khó hướng dẫn, đào tạo các ứng sinh, nếu
không chia sẻ và không được các ứng sinh chia sẻ. Nhưng chúng ta chia
sẻ cái gì đây? Cộng đoàn tu trì, nhất là cộng đoàn huấn luyện là cộng
đoàn của những con người cần được chia sẻ, và được mời gọi chia sẻ cùng
một tầm nhìn và cố gắng hết sức để cho tầm nhìn đó được thực hiện.
Nếu như ở gia đình, cha mẹ thường chia sẻ cùng con
cái những vui buồn của cuộc sống, những thành công hay thất bại, lúc khó
khăn cũng như trong lúc thịnh vượng, thì cộng đoàn Dòng tu cũng vậy,
người lãnh đạo là người cha người mẹ của các ứng sinh, chúng ta cũng cần
phải chia sẻ với các ứng sinh những vui buồn, những khó khăn trong đời
tu. Chia sẻ như vậy là một cuộc gặp gỡ, là mối dây thân tình gắn kết ta
với các ứng sinh trong tình yêu của Chúa.
4) Tình yêu trao ban:
Tình yêu thương là yếu tố bao trùm và quyết định tất cả mà người lãnh đạo chúng ta cần phải có. Tình
yêu cũng như sự cảm thông, chính là nguồn phát sinh ra sự sống, mọi khả
năng, mọi cái tốt đẹp. Tình yêu được ví như dòng nước chảy tưới mát cho
cánh đồng lúa mùa hè, tình yêu có sức phục hồi những gì đã tàn úa, khôi
phục những gì đã khô khan, hàn gắn những gì đã nứt nẻ, xoa dịu những gì
đã tê tái, phục hồi những gì đã chai đá và tái sinh những gì đã tàn
lụi. Thánh Augustinô đã nói: “Hãy yêu đi rồi làm gì thì làm”. Quả thật,
với tình yêu chúng ta có thể làm được tất cả. Với tình yêu, chúng ta sẽ
biết phải làm gì, cư xử ra sao và quyết định thế nào. Là người Bề trên
mà không có tình yêu chẳng khác gì đầu nguồn không có nước; đầu nguồn
không có nước thì dòng sông lấy đâu nước chảy.
Một cộng đoàn không có tình yêu thật buồn tẻ, không
sức sống, thiếu động lực. Bề trên mà thiếu tình yêu sẽ có những việc
làm, những quyết định vô ích, thậm chí gây ra những hậu quả nghiêm trọng
phản tác dụng, phản giáo dục. Là Bề trên, ta cần có một trái tim yêu
thương vô vị lợi; có tình yêu trong mình, chúng ta mới có thể trao ban
tình yêu cho người khác. Vì thế, trước khi trao phó Giáo Hội cho thánh
Phêrô, Chúa Giêsu đã 3 lần hỏi: “Phêrô con có yêu mến Thầy hơn những
người này không?” Tình yêu quả là con đường tuyệt vời nhất để nối kết
con tim mọi người với Thiên Chúa và với nhau.
Đời sống tu trì là một đời sống chứa chan tình yêu,
yêu Chúa và yêu nhau. Các ơn gọi mới (thanh tuyển, Tiền tập, Tập sinh)
là những tâm hồn quảng đại, trong trắng đang khao khát tình yêu Thiên
Chúa, sự cảm thông trong cộng đoàn và nhất là tình thương nơi chị giáo
và Bề trên. Vì vậy, người lãnh đạo hãy dành cho các em một tình yêu chân
thành của người chị, người mẹ trong gia đình qua cách sống, qua việc
làm, qua ánh nhìn, qua lời nói và cử chỉ. Chúng ta không thể nói về tình
yêu và đức ái đối với các em, trong khi chúng ta lại hành động thiếu
yêu thương, thiếu bác ái, ích kỷ và bảo thủ.
Gabriel Mercel nói: “Cần tạo cho cộng đoàn bầu khí
gia đình thực sự, để nhờ môi trường này, mỗi người được tự do thể hiện
kinh nghiệm sống bản thân và sống cái huyền nhiệm của mình một cách đậm
nét hơn”. Cộng đoàn cũng là gia đình, người lãnh đạo là chính cha mẹ.
Hãy đón nhận các ứng sinh và dành cho họ tất cả tình yêu của mình trong
tình yêu của Chúa Giêsu Mục Tử nhân lành, Người đã đi tìm kiếm con chiên
lạc đã hy sinh tính mạng vì đàn chiên.
5) Khiêm tốn học hỏi để có quyết định sáng suốt
Nhà đào tạo cần có sự khiêm tốn”, vì nếu không khiêm
tốn, chúng ta sẽ chẳng nhận ra được những tín hiệu phản hồi từ những
hành động mình đang làm, không có khiêm tốn chúng ta chẳng có thể nhận
ra được những điều không đúng, những thiếu xót hay những cư sử không phù
hợp của mình. Ly nước đã đầy thì không thể chứa thêm được, càng rót
thêm nó lại càng trào ra. Người không khiêm tốn sẽ không thể nhận thêm
được gì từ khách quan bên ngoài. Không có khiêm tốn dễ đưa chúng ta đến
với sự bảo thủ, tự phụ cho rằng mọi quyết định của mình luôn đúng, không
sai lầm.
Ngày nay, nhiều ứng sinh có trình độ văn hoá, khoa
học kỹ thuật cao hơn chúng ta, tân tiến hơn chúng ta, các em cũng có
những nhận định, những đòi hỏi nơi chúng ta. Nhưng nếu thiếu khiêm tốn,
chúng ta sẽ chẳng nhận ra được nơi các em những tín hiệu nào khác ngoài
những gì chúng ta đang ép, đang gò các em vào một khuôn mẫu theo tiêu
chuẩn của cá nhân với những hiểu biết giới hạn của ta.
Tinh thần khiêm tốn sẽ giúp chúng ta nhận ra những
bất toàn của mình về hiểu biết tri thức, về tầm nhìn xã hội và những
tiến bộ của khoa học công nghệ. Khiêm tốn sẽ giúp chúng ta có những cách
cư xử ôn hoà, cảm thông và khích lệ ứng sinh. Hãy cho các em cơ hội thể
hiện con người, cá tính và cả khả năng của các em. Và từ đó chúng ta sẽ
uốn nắn các em với những nét rất riêng của các em, để các em ngày một
thăng tiến và không ngừng phát triển trong đời sống ơn gọi tu trì.
II. Những kỳ vọng nơi ứng sinh
Cha mẹ khi vừa sinh con ra đời đã bắt đầu đặt nơi con
mình rất nhiều kỳ vọng: mong cho con mạnh khoẻ, mong cho con thành
danh, mong cho con hạnh phúc… Bề trên và Chị giáo cũng đặt rất nhiều hy
vọng nơi các con em mình, bởi thế hệ trẻ là tương lai của Hội Dòng. Vậy
người đào tạo trông mong điều gì và không mong gì nơi các thụ huấn sinh
của mình?
Mục đích của đào tạo là giúp các Ứng sinh trở thành
môn đệ của Đức Kitô mỗi ngày một hơn, bằng sự kết hợp với Người và trở
nên đồng hình đồng dạng với Người. Các ứng sinh phải làm sao để ngày
càng thấm nhuần tâm tình của Đức Kitô, mỗi ngày tham dự sâu hơn vào hoạt
động hiến dâng của Người cho Chúa Cha và phục vụ Người trong gia đình
nhân loại hơn. Các ứng sinh thực hiện việc tăng trưởng này theo đặc sủng
và linh đạo của Hội Dòng.
1. Về nhân bản:
Các nhà đào tạo mong cho con em mình có đời sống nhân
bản trưởng thành, với những đức tính căn bản mà một con người cần phải
có. Phải làm một con người tốt mới làm một kitô hữu tốt, và rồi mới sống
tốt đời tu trì được. Người trưởng thành khám phá và nhận diện chính
mình, biết yêu quí và trách nhiệm về chính bản thân, để rồi mở ra và đi
tới tha nhân.
Nhà đào tạo luôn mong các ứng sinh có thái độ cởi mở,
cái nhìn đúng đắn và thực tế về bản thân, không tự cao tự đại mà cũng
chẳng giả bộ hạ mình cách kệch cỡm. Nhưng biết chấp nhận con người thật
với ưu và khuyết điểm để tìm đường hướng vươn lên và phát huy. Thái độ
chấp nhận thực tại này sẽ giải thoát các ứng sinh khỏi những nỗi lo sợ
vô ích và có được bình an nội tâm. Nhờ đó, làm chủ cảm xúc, biết sống
yêu thương chan hoà, có khả năng mở rộng tâm hồn cho người khác và đón
nhận người khác đến với mình.
Người trưởng thành can đảm bước vào cuộc sống mới,
đoạn tuyệt với lối sống cũ, đương đầu với khó khăn, thách đố, với những
chọn lựa và quyết định phức tạp, mâu thuẫn. Không có chọn lựa nào mà
không có mất mát và trả giá. Điều quan trọng là làm sao thực hiện được
chính mình và giữ được mức quân bình cần thiết giữa những căng thẳng,
mâu thuẫn, không thái quá cũng chẳng bất cập.
2. Trưởng thành tâm linh:
Không chỉ trưởng thành về nhân bản, mà cần nhấn mạnh hơn về trưởng thành tâm linh:
chú trọng việc tu thân, luyện tính, cải hoá, thanh luyện nhằm hướng đến
một mô hình nhân cách, hình thành một thái độ và một cách thế sống. Các
nhà đào tạo mong các ứng sinh biến đổi nếp sống, lối nghĩ, giảm thiểu tham, sân, si, và kiểm soát tốt hơn những xung lực tự nhiên;
đòi hỏi một sự lột xác đích thực, một phương pháp trị liệu những khuyết
điểm và thói hư tật xấu. Học vấn có thể cho ta một số vốn kiến thức,
nhưng chưa làm cho ta trở thành người tu sĩ biết nhìn, biết phán đoán,
đánh giá sự đời và người thế một cách đúng đắn dưới ánh sáng Tin Mừng.
Các ứng sinh hãy mặc lấy những tâm tình của Đức Kitô, can đảm để Thần Khí đổi mới tâm trí và mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện.
Điều cần thiết nơi ứng sinh là phải có một lý tưởng tu trì đúng đắn, thực sự muốn theo Chúa Kitô.
Chính ứng sinh là người trách nhiệm trước tiên của lời thưa “xin vâng”,
đáp lại lời mời gọi tình yêu của Thiên Chúa. Xác định đúng mục đích của
đời tu, ứng sinh mới sống hết mình, phát huy hết khả năng, vượt
qua mọi gian khổ, không ngừng phấn đấu vươn lên và sẽ sẵn sàng cho việc
rèn luyện, chỉnh sửa để thích ứng với lối sống của Dòng. Đồng
thời bộc lộ một tâm huyết, một nhiệt tình đối với Hội Dòng, với lý tưởng
đời tu, trung thành với đời tu, với đặc sủng và linh đạo của Dòng,
trung thành với Chúa Kitô và Phúc âm, trung thành với Giáo Hội và sứ
mệnh của Giáo Hội, và trung thành với thời triệu của Chúa Thánh Thần.
Người tu sĩ trẻ ngày nay rất năng động, khôn ngoan, nhạy bén. Điều đó rất tốt. Nhưng các nhà đào tạo không
muốn thấy một lớp người sống xa rời căn tính của đời tu, quá chú trọng
đến những đòi hòi của xã hội mà làm lu mờ đi đời sống nội tâm. Hăng say
làm việc, hoạt đồng tông đồ là tốt, nhưng đừng vì thế mà đời sống huynh
đệ, đời sống chung trong cộng đoàn bị tổn thương hoặc mai một đi.
Nhà đào tạo rất mong các ứng sinh không ngừng hướng
tới việc trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, bước đi trên con
đường cứu độ, vào sâu trong kinh nghiệm và chia sẻ những thao thức của
Người, hăm hở vì sứ vụ như Người và sẵn sàng vác thập giá với Người.
[12]
A. Dẫn Nhập
Con người mơ ước cuộc sống hạnh phúc là điều dĩ nhiên
với tất cả mọi người, nên cũng không loại trừ đời tu. Ứng sinh ươc mơ
những việc phù hợp với khả năng: Khấn xong sẽ đi xứ, tập hát, đánh đàn,
giúp hội nọ hội kia sao cho nên hoành tráng…, và toại nguyện vì đã làm
trọn bổn phận là môn đệ Chúa Giêsu. Nhưng ít ai dám hướng tới mơ ước làm
Bề Trên: Tại sao vậy? Vì mơ ước đó đó đòi con người phải hy sinh, phải
cho đi chính mình, là điều tự nhiên con người rất ái ngại.
Nhưng Cha Giáo lại nói “đó là một hồng ân Chúa ban
cho những ai Ngài yêu và tín nhiệm”, khiến chúng con bớt run và can đảm
hơn nếu sau này được Chúa tín nhiệm ân ban chức vụ Bề Trên – Chị Giáo.
Để chuẩn bị trước cho việc đón nhận hồng ân này Cha Giáo đã hết lòng
quan tâm, tạo cơ hội cho chúng con có dịp ngồi lại với nhau, cùng nhau
đưa ra những điều tích cực và loại trừ những điều tiêu cực, để mỗi người
chúng con khi được Chúa trao ban nhiệm vụ Bề Trên – Chị Giáo, chúng con
cũng biết nương theo đó sao cho hợp và đúng với tư cách người lãnh đạo
theo gương Chúa Giêsu.
b. NỘi Dung
1. Vươn Tới Ước Mơ
Khi được trao nhiệm vụ gì, chúng ta ai cũng muốn làm
thật tốt, trước hết cho Chúa, cho nhà Dòng và cho chính mình. Với tư
cách là Bề Trên – Chị Giáo tương lai, chúng ta có chung ước mơ lấy Chúa
Giêsu làm mẫu gương phục vụ. Chúa Giêsu đã làm gì cho các con dân của
Ngài thì chúng ta cũng ước ao theo gương Ngài mà làm những điều đó cho
các em của chúng ta.
v Mẫu gương Thầy Giêsu
a. Giêsu-Người tôi tớ.
Chúa Giêsu đã nói “Ai muốn làm lớn hãy là người phục
vụ và là đầy tớ mọi người.” Lời đó không chỉ để cho người khác phải thực
hành còn mình thì không, nhưng chính Ngài đã đi bước trước trong tinh
thần phục vụ như chúng ta đã thấy trong bữa tối cuối cùng: Ngài đã rửa
chân cho các môn đệ. Chúa Giêsu đã làm như thế là muốn gửi cho chúng ta
sứ điệp YÊU THƯƠNG và PHỤC VỤ. Như thế tinh thần của một Bề Trên – Chị
Giáo như Chúa Giêsu dạy là hoà mình, phục vụ và trở nên đầy tớ mọi
người.
Mỗi chị em chúng ta ngồi đây, nếu sau này được Chúa
yêu thương tuyển chọn cùng Ngài vác thập giá trong chức vị Bề Trên,
chúng ta sẽ làm gì với trách vụ mới này? Chắc chắn ai cũng lên rất nhiều
chương trình này kia cho các em của mình. Chị Giáo sẽ làm gì cho cá
nhân từng em dưới quyền của chị đây? Điều trước tiên chị phải làm cho
các em của chị là gương sáng, vì chị không thể chỉ dậy cho các em làm mà
chính chị lại không thực hành trước. Cuộc sống con người ngày nay rất
cần gương sáng như dân gian thường nói “Lời nói lung lay, gương bày lôi
cuốn”
Trước hết, chị giáo phải là một con người cầu nguyện,
coi sự thánh thiện của chính mình là công việc chủ yếu và đầu tiên
trong nhiệm vụ huấn luyện các em; chị phải là người trung thành trong
việc giữ các việc đạo đức mà Hiến Chương Dòng đã quy định. Nếu chị cẩu
thả và lơ là trong việc cầu nguyện thì sẽ không hi vọng các em của chị
sẽ trung thành với ơn gọi, vì một ơn gọi chỉ được phát triển và vươn lên
khi có đời sống tương quan mật thiết với Thiên Chúa.
Để các em có thể vươn lên cách mạnh mẽ trong ơn gọi,
chị sẽ phải hy sinh rất nhiều trong việc huấn luyện, vì các em ngày nay
nói chung rất năng động và nhiều sáng kiến, nên chúng cũng đòi hỏi nhiều
nơi chị giáo sự hoàn hảo về mọi phương diện. Vì thế để việc huấn luyện
của chị có hiệu quả nơi các em, chị phải là người có tự do nội tâm,
không bị những đam mê hay tình cảm lệch lạch, không bị chi phối bởi tình
cảm yêu hay ghét, thích hay không thích, chị cũng không nên quyết định
vì có ác cảm hay bởi thù oán, ghen tị với ai. Điều đó đòi chị phải
trưởng thành về tình cảm: chính sự trưởng thành này giúp chị không có
khuynh hướng lệch lạc với người dưới quyền, không lạm dụng nhưng luôn
giữ được sự chính trực và công bằng. Khi chị tập và thực hành được như
thế là chị đã phần nào giống Chúa Giêsu, người tôi tớ thánh thiện, khiêm
tốn phục vụ, không thiên tư tây vị.
b. Giêsu người bạn thân.
Trong tin mừng thánh Gioan, chúng ta gặp được mẫu
tình bạn thật tuyệt vời giữa Chúa Giêsu và anh Lazarô. Tuy tác giả không
diễn giải tỉ mỉ về đôi bạn này, nhưng chi tiết Chúa Giêsu đã khóc khi
Lazarô chết cũng đủ để chúng ta hiểu được đôi bạn họ đã sống với nhau
như thế nào? Trong sách I Samuel, chúng ta cũng tìm thấy một tình bạn
cao đẹp, bất hủ và hài hoà nơi Đavít và Gionathan.
Về phương diện xã hội học, người ta thường nói rằng
con người là động vật sợ cô độc, và sống ở trên đời không ai là một hòn
đảo. Đời sống cộng đồng làm cho con người có thể phát triển toàn diện và
hài hoà. Điều này lại càng đúng hơn khi nói về tình bạn, một tình bạn
chân thành: người ta có thể thiếu thốn về vật chất, nhưng không thể
thiếu vắng tình bạn, nhờ tình bạn mà con người có thể chia vui sẻ buồn,
có thể chia sẻ tiếng lòng với nhau. Đã là người hiện diện trên trần gian
này không ai dám tự phụ nói rằng tôi không cần đến bạn hữu. Nhiệm vụ
của người bạn thân khi bạn mình yếu đuối sa ngã là luôn ở bên cạnh, và
khi bạn sống an vui cũng vẫn có họ. Tình bạn thật như vậy không phải chỉ
hiện diện khi vui hay khi buồn trong chốc lát, nhưng luôn sẵn sàng nhẫn
nại và không nghi ngờ. Tình bạn không chỉ là nguồn động viên, khích lệ,
đỡ nâng và an ủi đắc lực khi hoạn nạn, mà còn phải can đảm uốn nắn sửa
daỵ, nhắc nhở nhau khi sai trái.
Phác hoạ về tình bạn như thế chắc có người sẽ cho
rằng chả ăn nhằm gì với trách vụ của Bề trên. Nhưng nó thật sự rất cần
cho vai trò của Bề Trên – Chị Giáo chúng ta mai sau. Nếu Bề Trên- Chị
Giáo không thể cúi xuống cùng đồng hành chia sẻ với các em của mình thì e
rằng nó chỉ giống như một cái khuôn ép buộc chứ không có sự tự do tự
nguyện trong đó. Vậy chúng ta phải làm gì cho các em theo mẫu gương
Giêsu, Người đã từng đóng vai là bạn của chúng ta. Để các em được sự tự
do thoải mái khi tiếp xúc, chia sẻ với Bề Trên –Chị Giáo, chúng ta phải
hạ mình để đồng hành với các em, đồng thời hãy quan tâm, hỏi han tới
hoàn cảnh cụ thể của từng em và khi có thể hãy đến thăm gia đình các em.
Khi các em cần thời gian, hãy sẵn sàng nhẫn nại, lắng nghe và giải đáp
những khúc mắc trong đường đời để giúp họ vươn lên. Điều đặc biệt nữa là
biết xin lỗi khi mình sai, để các em thấy được tinh thần khiêm tốn nơi
chị và đó cũng là tấm gương giúp các em biết nhận lỗi và dám chấp nhận
những yếu đuối của mình.
c. Giêsu – Người không kết án
Đứng trước người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội
ngoại tình mà các biệt phái Pharisêu kết án là phải chết, Chúa Giêsu chỉ
im lặng với ngón tay khẽ viết trên đất. Thái độ im lặng của Ngài không
phải là đồng tình với tội phạm của chị ta, nhưng là thái độ của lòng yêu
thương tha thứ, nhờ đó mà chị đã hoàn toàn biến đổi cuộc đời. Trong
việc huấn luyện, là những Bề Trên và chị giáo tương lai, chúng ta có suy
nghĩ gì trước một hành vi sai lỗi của các em? Chắc hẳn mỗi người chúng
ta có một phương thế khác nhau để sửa sai lỗi đó mong các con nên tốt.
Là người trực tiếp hướng dẫn, chúng ta phải biết cách làm sao cho các em
thấy được lỗi của họ, cho họ thấy chúng ta sửa sai với yêu thương vỗ về
chứ không phải như vị quan toà chỉ biết vạch tội và kết án.
Đã là con người, không ai lại muốn người ta làm cho
mình những điều mình không muốn. Vậy để đẹp cả đôi đàng, nếu chị không
muốn người ta làm điều gì cho mình thì chị cũng đừng làm điều đó cho các
em.
Về công việc: chắc chị rất buồn khi Bề Trên
không trao cho chị công việc gì, vì chị sẽ cảm thấy mình vô dụng và chán
nản. Khi có công việc để làm, ứng sinh sẽ rất chú tâm và phát triển khả
năng trong công việc đó, và như thế họ có thể sẽ trở thành nhà truyền
giáo tốt của Giáo Hội và nhà Dòng sau này. Nếu chỉ nhìn với vẻ bên ngoài
để chọn người làm việc thì chị thất bại to. Tài năng của mỗi người khi
chưa được khai thác còn nằm im một chỗ; khi biết tin tưởng gợi hứng, khả
năng tiềm ẩn nơi con người mới được cơ hội triển nở. Tóm lại, chị không
nên để các em quá rảnh rỗi, trong khi các em khác lại quá vất vả, hãy
tạo cho các em có cơ hội để tập việc, hãy khích lệ và an ủi các em khi
các em thất bại.
Về cách ứng xử: Đừng bao giờ chị dùng quyền
nóng nảy la rầy các em, làm như vậy sẽ không còn là giáo dục nữa. Cũng
không nên áp dụng trường hợp của em này với em kia, càng không nên đem
hai thế hệ lớn bé ra để so sánh vì mỗi thời mỗi khác. Đặc biệt hơn nữa
là, trong cách đối xử với các em, chị đừng tỏ ra yêu em này, không thích
em kia, không vội xét đoán và kết luận khi chưa có sự đối thoại của đôi
bên.
2. Khắc khoải chờ mong.
Khi quan sát tâm trạng của người trồng cây ăn quả,
hẳn chúng ta sẽ thấy được sự khao khát và thái độ vui sướng chừng nào
khi họ nhìn thấy vườn cây của họ đầy những trái to và đẹp. Đứng vào
cương vị của Bề Trên, Chị Giáo cũng thế, chúng ta hy sinh mọi phương
diện để nuôi dưỡng, huấn luyện các em và điều chúng ta mong ước nơi các
em không gì khác hơn là chỉ mong các em sống đúng với ơn gọi, tinh thần
và linh đạo riêng của Dòng. Nhưng để các em sống đúng là một “tu sĩ chất
lượng cao” thì chúng ta cần chờ đợi gì nơi các em? Có lẽ Bề Trên nào
cũng mong ước các em có:
a. Tinh thần cầu nguyện
Cầu nguyện là đỉnh cao của hành trình gặp gỡ Chúa và
sống thân mật với Ngài. Đó cũng là một thách đố đòi hy sinh, kiên trì và
phải cố gắng không ngừng. Vì thế để đứng vững và bền đỗ trong ơn gọi,
các em cần có một đời sống cầu nguyện sâu xa với Thiên Chúa. Cầu nguyện
rất quan trọng và cần thiết cho tất cả mọi người, không cầu nguyện đời
sống chỉ hời hợt bên ngoài, và rất dễ chán nản khi gặp thử thách, cách
riêng đối với các em đang trong bước đầu của cuộc dâng hiến, nếu các em
không đào sâu và tập cho mình thói quen cầu nguyện thì khi gặp những
khủng hoảng trong cuộc sống, e rằng rất khó vượt qua để tiến lên.
Trong lãnh vực hoạt động Tông đồ cũng thế, chúng ta
không thể làm được gì nếu thiếu lời cầu nguyện. Rồi trong cộng đoàn làm
sao chúng ta có thể bỏ qua được những xung đột khi thiếu cầu nguyện. Như
vậy cầu nguyện không thể thiếu với tất cả mọi người đặc biệt với các em
đang sống trong mùa xuân của đời dâng hiến.
b. Trung thành với đặc sủng, linh đạo và kỷ luật Dòng
Mỗi cha mẹ khi thấy con sinh ra giống mình thì rất
thích và hạnh phúc, thì các Bề Trên cũng rất vui khi thấy các em hăng
say đi trong linh đạo của Hội Dòng. Để trung thành với đặc sủng và linh
đạo, điều đòi hỏi trước tiên là các em phải mền mại để các Bề Trên đưa
vào kỷ luật Dòng, điều này không dễ chút nào đối với các em mới bước vào
ngưỡng cửa đời tu, vì trên thực tế ngày nay các em dễ nản chí, thoái
lui khi phải đối diện với khó khăn, đau khổ, không được dễ dàng và thoải
mái. Cần giúp các em có ý chí dấn thân phục Chúa trong con đường tu
trì, vì ở bậc sống nào cũng đòi hỏi nơi con người sự hy sinh. Nếu các em
không chấp nhận đi vào, Dòng không ép các em đi vào, còn nếu em đã
quyết tâm thì phải sống đúng linh đạo của Dòng, tránh tình trạng ở trong
Dòng mà không biết đến đặc sủng linh đạo của Dòng là gì, càng không
được ở trong Dòng mà tinh thần kỷ luật bừa bãi, đã tu ra tu, đừng đứng
nửa chừng, Chúa sẽ mửa ra.
c. Tinh thần trách nhiệm trong công việc
Trong đời sống cộng đoàn, tinh thần trách nhiệm trong
công việc rất cần thiết vì trong thực tế đời sống chung rất dễ có sự ỷ
lại, điều này đòi hỏi mỗi người phải sống trưởng thành, tự ý thức làm
tròn trách nhiệm. Nếu trong cộng đoàn có những người không có tinh thần
trách nhiệm sẽ rất khó cho Bề trên và chị em, vì mất cái này,vỡ cái kia
mà không ai biết… Người thiếu tinh thần trách nhiệm làm cho người khác
khi làm việc với mình rất bực và mình sẽ mất uy tín. Vì thế điều các Bề
Trên – Chị Giáo mong muốn nơi các em là ngay trong chính bản thân hãy có
tinh thần trách nhiệm với mình, sau đó mới hy vọng làm việc cho Giáo
Hội và Hội Dòng.
d. Thật thà và đoan trang trong cách ăn mặc
Để cuộc sống được bình an, con người phải có lương
tâm ngay thẳng thật thà. Ngày nay, sự quanh co dối trá dường như là cần
thiết để kiếm cớ sinh nhai! Ngay cả trong đời tu, sự dối trá cũng đang
dần len lỏi làm mất đi vẻ đẹp của đời tu. Tại sao vậy ? Chỉ vì con người
chưa dám chấp nhận sự thật về mình nên tìm mọi cách để khẳng định mình,
muốn nâng cao mình, nên đã lầm tưởng rằng mình phải là con người hoàn
hảo, chuẩn mực trong cách nói năng và hành xử, để người khác tín nhiệm.
Nhưng họ lại quên rằng, làm như vậy là đang làm mất đi chính mình. Nếu
trong cộng đoàn có những con người quanh co dối trá, thì cộng đoàn đó sẽ
rất bất an. Sự dối trá không thể chấp nhận với người bình thường, lại
càng không thể chấp nhận với một tu sĩ. Bề Trên cũng mong cuộc sống các
em được bình an, hạnh phúc và vui tươi. Nhờ đó, các em mới có thể an
tâm, hăng say trên con đường theo Chúa.
Điều các Bề Trên mong chờ nơi các em nữa là trong
cách ăn mặc, các em hãy tỏ ra đoan trang và lịch sự, không nên quá đời,
điều này rất khó, cần các em phải từ bỏ và hy sinh nhiều. Để có thể từ
bỏ được thì chính các em, nhìn lại xem mình đi tu để làm gì, để phục vụ
Chúa hay làm đẹp bản thân, khi ý thức như thế em sẽ rất dễ dàng từ bỏ,
nếu không các em sẽ tối ngày lo may mốt này, đổi mốt nọ thì việc phục vụ
Chúa sẽ không có kết quả.
Trên đây là tất cả những gì các Bề Trên tương lai
mong đợi nơi các em của mình. Những điều đó không dễ, vì thực tế nó đang
là một thách đố đối với thế hệ trẻ ngày nay. Để các em có được những gì
mà các Bề Trên mong đợi, thì Bề Trên phải là một tấm gương, đồng thời
là người biết cách huấn luyện các em, nhưng điều cần thiết hơn là phải
cầu nguyện nhiều cho các em.
Bề Trên mong muốn các em của mình chăm chỉ học hành
và trau dồi khả năng vì sứ vụ của Giáo Hội, của Hội Dòng; các em cũng
cần học tập để có thể sống cùng sống với anh chị em của mình. Nhưng cần ý
thức rằng tất cả chỉ là phương tiện, chính căn tính của đời tu và bản
chất của ơn gọi Thánh Hiến là được ở trong Đức Kitô và tham gia sứ vụ
mang ơn Cứu Độ của Người đến cho mọi người. Khi việc học hành có định
hướng như thế, các em sẽ tìm được động lực giúp sống sung mãn ơn gọi,
thinh lặng và cầu nguyện để nhận biết ý Chúa và dấn thân làm chứng cho
Chúa vượt qua mọi thách đố của thời đại. Việc học hành và trau dồi khả
năng của các em chỉ có lợi khi các em biết đặt vào đúng vị chí của nó.
Nếu các em học chỉ để hơn người khá, để phục vụ cho mình thì các em đã
làm mất đi mục đích đời tu. Vì thế, để việc học hành của các em được
dung hoà, đừng bao giờ để các em vì quá hăng say, mà bỏ bê việc cầu
nguyện. Các Bề Trên cũng không mong chờ nơi các em chỉ biết học hành mà
bỏ qua những gì một nữ tu phải trau dồi và tập luyện.
Những điều chúng em đưa ra trên đây chỉ là những mong
ước nho nhỏ được rút ra từ cuộc sống qua những mối tương quan với Bề
Trên mà chúng em thấy được nơi các ngài. Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng
quá đòi hỏi nơi các Bề Trên của mình sự hoàn hảo ,vì các ngài cũng chỉ
là con người như chúng ta, cũng có những khuyết điểm, yếu đuối. Nhưng
các Ngài đã được Chúa chọn để huấn luyện chúng ta. Vì thế, khi chúng ta
đến xin điều này điều kia mà các Ngài không cho, chúng ta lại cho là các
ngài khắt khe, không tâm lý, chúng ta chỉ nghĩ đến lợi ích trước mắt,
mà quên rằng các ngài phải thi hành thánh ý Chúa. Con người của chúng ta
là thế, chỉ thích theo những gì là tự nhiên, và hợp với sở thích của
mình, mà không nghĩ đến khó khăn trắc trở của Bề Trên khi thi hành nhiệm
vụ, nên đôi lúc chúng ta đánh gía các ngài quá tầm thường và tỏ ra
thiếu tôn trọng. Mỗi người chúng ta cần thông cảm và tỏ ra ngoan ngoãn
khi các ngài trao nhiệm vụ, như thế phần nào sẽ bớt cho các ngài gánh
nặng. Chỉ khi nào chúng ta đặt địa vị mình vào địa vị của Bê Trên, lúc
đó chúng ta mới thấy được sự khó khăn của các ngài khi thi hành nhiệm
vụ.
KẾt luẬn
Là Bề Trên và Chị Giáo tương lai, hay chỉ là bề dưới
đi nữa, chúng ta cần nung nấu trong trái tim mình hình ảnh phục vụ của
Chúa Giêsu, rũ bỏ đi những dính bén trần tục và đẩy lùi những bụi hồng
của địa vị, danh vọng để chỉ tìm kiếm và viên mãn chỗ đứng phục vụ của
mình như người “đầy tớ Giêsu”. Có như vậy, chúng ta mới có được sự tự do
và niềm vui đích thực trong khi xả thân phục vụ các em và những người
dưới quyền coi sóc của mình, niềm vui trong câu ca, trong nụ cười, niềm
vui trong công việc, trong những hy sinh vất vả, và nhất là niềm vui
trong những công việc nội tâm.
Kính thưa Cha Giáo, chúng con rất biết ơn và cám ơn
Cha Giáo để chúng con ngồi lại chia sẻ và cùng nhau đưa ra những định
hướng sẽ làm, không làm, trông chờ và không chờ điều gì nơi các em trong
chức vụ Bề Trên/Chị Giáo tương lai, nhờ đó và qua những tiếp xúc hằng
ngày với Bề Trên của chúng con, chúng con có thêm kinh nghiệm để thâu
nạp. Chúng con cũng ước mong được Cha Giáo tiếp tục hướng dẫn và trau
dồi cho chúng con những kinh nghiệm từ cuộc sống, để làm hành trang cho
chúng con, và sau này khi được Chúa yêu thương tín nhiệm trao ban chức
vụ Bề Trên/Chị Giáo, chúng con sẵn sàng đáp lại hai tiếng xin vâng.
[1] x. 2 Cr 1,3-5: Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an.4
Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để
sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những
ai lâm cảnh gian nan khốn khó.5 Vì cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Ki-tô, thì nhờ Người, chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi.
[2]
2 Cr 4,13: “Vì có được cùng một lòng tin, như đã chép: Tôi đã tin, nên
tôi mới nói, thì chúng tôi cũng tin, nên chúng tôi mới nói.”
2
2 Cr 4,7: “Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình
sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ
không phải từ chúng tôi.”
[4] Xem loạt bài về Giáo dục Kitô giáo của Lm Giuse Nguyễn Chấn Hưng sdb trong vài nét Chân dung Nhà đào tạo tr. 113-167.
[5] x. Tài liệu về Lãnh Đạo của sư huynh Nguyễn văn Phát.
[6]
Xem bài Một vài kinh nghiệm huấn luyện tu sĩ trẻ hôm nay của Lm Antôn
Nguyễn Cao Siêu SJ trong Vài nét Chân dung Nhà đào tạo tr. 101-112.
[7]
CAN July 29, 2009 ĐTC Biển Đức XVI nói về biến cố ngài ngã gãy khuỷu
tay phải rằng thiên thần giữ mình của ngài vâng lệnh trên không tránh
cho ngài tai nạn này. Có lẽ Chúa muốn dạy ngài nhẫn nại và khiêm tốn,
cho ngài có nhiều thời giờ hơn để cầu nguyện và suy niệm.
[8]
“Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang,
không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng
giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi
thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng
tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được” (1 Cor 13,4-7)
[9]
Archbishop Celestino Migliore, Vatican 6/2/2009: “Luận lý của tình liên
đới và nguyên lý bổ trợ là dụng cụ rất thích hợp để vượt lên mọi vấn đề
và bảo đảm sự tham gia của mọi người cho công cuộc phát triển chung của
cộng đồng”; JP II, Centesimus Annus, số 48 : «Nếu tôn trọng nguyên lý
bổ trợ, tổ chức cấp trên không được can thiệp vào cuộc sống nội bộ của
tổ chức cấp dưới bằng cách lấy đi những khả năng chuyên môn của nó, đúng
hơn phải nâng đỡ nó khi cần thiết»
[10] Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss, Bản thảo Người Nữ Tu Sống Tu Đức Toàn Diện, Học viện Liên Dòng, Bùi Chu 2009.
[11]
Cvtđ 25, 16: “Tôi đã trả lời họ rằng người Rô-ma không có lệ nộp bị cáo
nào, trước khi đương sự ra đối chất với nguyên cáo, và được cơ hội biện
hộ về lời tố cáo.”
[12]
Archbishop Celestino Migliore, Vatican 6/2/2009: “Luận lý của tình liên
đới và nguyên lý bổ trợ là dụng cụ rất thích hợp để vượt lên mọi vấn đề
và bảo đảm sự tham gia của mọi người cho công cuộc phát triển chung của
cộng đồng”; JP II, Centesimus Annus, số 48 : «Nếu tôn trọng nguyên lý
bổ trợ, tổ chức cấp trên không được can thiệp vào cuộc sống nội bộ của
tổ chức cấp dưới bằng cách lấy đi những khả năng chuyên môn của nó, đúng
hơn phải nâng đỡ nó khi cần thiết»
[13] x. Đào tạo các nhà đào tạo của lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss.
[14]
Rm 7, 14-20: Vẫn biết rằng Lề Luật là bởi Thần Khí, nhưng tôi thì lại
mang tính xác thịt, bị bán làm tôi cho tội lỗi. Thật vậy, tôi làm gì tôi
cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi
ghét, thì tôi lại cứ làm… Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn,
nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác
tôi không muốn, tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì
không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi.
[15] Vatican II, Optatam Totius, số 4.
[16] Mt 18, 15-17; Lc 17,3; Ga 8,17; 1 Tm 5,19; 2 Cr 13,1.
No comments:
Post a Comment