CN 14 B
Đức Giêsu
trở về thăm quê nhà. Ngày Sabat, ngày lễ nghỉ hàng tuần, dân làng đến
hội đường nghe đọc sách thánh và hát thánh ca từ 9 giờ đến 12 giờ trưa.
Đức Giêsu và
các môn đệ cùng tiến vào hội đường cầu nguyện. Đọc sách luật và thánh
vịnh xong, Đức Giêsu đăng đàn giảng thuyết như một giáo dân tham dự vào
chức tư tế. Vẻ uy nghi trang trọng của Ngài khác thường. Gương mặt Ngài
luôn tỏa ra nét dịu hiền, mến yêu, đầy thiện cảm. Giọng điệu tự nhiên
của Ngài càng hấp dẫn dân chúng hơn. Ý tứ Ngài trình bày đơn sơ trong
sáng hợp với tâm trí mọi người. Họ cảm thấy thấm thía sự kỳ diệu của
nước Thiên Chúa. Họ cảm nhận lòng nhân ái Chúa Cha trên trời. Họ cảm
phục về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Đức Giêsu đòi hỏi mọi người phải
sống thương yêu nhau như anh em ruột thịt. Họ ngạc nhiên thì thầm với
nhau: “Bởi đâu ông ta được như thế ? Sao ông ta được khôn ngoan như vậy ? Ông ta làm được nhiều phép lạ như thế nghĩa là gì ?”.
Họ chẳng biết sự khôn ngoan và quyền phép của Đức Giêsu bởi đâu ? Họ tìm về nguồn gốc chỉ thấy: “Mẹ ông là bà Maria, anh em họ hàng là Giacôbê, Giosê, Giuđa và Simon”.
Tất cả bà con lối xóm đều coi ông như bạn bè từ gần 30 năm nay ở
Nagiarét này, một thôn ấp nhỏ bé chỉ có độ 150 gia đình nghèo nàn, tối
tăm, mấy ai quan tâm đâu. Ông lại là anh thợ mộc, con nhà lao động, làm
thuê làm mướn, lang thang từ nhà này sang nhà khác, đóng bàn sửa ghế,
ráp giường ghép tủ, đục đẽo cầy bừa, thành phần địa vị thấp kém trong xã
hội. Có bao giờ thấy ông nói năng, làm được gì hay lạ đâu ? Ông bỏ quê
nhà đi lang thang mấy tháng, nay trở về, sao thay đổi nhanh như thế !
Một quá khứ và hiện tại như thế đã khiến họ vấp phạm. Họ không tin Ngài
là một Ngôn Sứ, lại càng không thể tin Ngài là Mêsia, và chắc chắn họ
chẳng bao giờ dám nghĩ rằng mình là người đồng hương với Ngôi Hai Con
Thiên Chúa.
Còn Đức Giêsu, ai đã huấn luyện Ngài ? Ai đã ban quyền phép làm những việc kỳ diệu như thế ? Thân nhân bảo Ngài “mất trí”. Kinh sư chụp mũ Ngài “nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ”. Dân chúng chỉ biết ngạc nhiên: chưa từng thấy ai ăn nói, hành động có uy quyền lạ lùng như vậy. Môn đệ đi theo sát Ngài cũng chỉ biết hỏi: “Ngài là ai mà bão biển phải tuân lệnh”.
Chẳng thấy ai huấn luyện Ngài, chẳng thấy Ngài học tập kinh sư nào. Chỉ
thấy Ngài vào nơi thanh vắng, ngước mắt lên trời cầu nguyện. Trong âm
thầm Ngài cầu nguyện cùng Chúa Cha trên trời. Đó chính là bí quyết làm
cho Ngài khôn ngoan và đầy quyền phép để trừ hàng ngàn quỷ dữ, chữa hàng
trăm bệnh nhân mà loài người phải bó tay, cho kẻ chết sống lại, bắt
cuồng phong lặng yên…
Dân làng
biết Ngài khôn ngoan. Kinh sư thấy Ngài trừ quỷ. Môn đệ được Ngài cứu
khỏi chết giữa biển cuồng phong. Nhưng họ chẳng biết Ngài là Con Một
Thiên Chúa, chẳng biết Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa; vì thương yêu loài
người, đã xuống thế làm người sống với họ như anh em, như bạn bè, để cứu
họ khỏi chết đời đời.
Dân làng
Nazarét quá biết về gốc gác, gia cảnh, biết rõ ràng lý lịch của Đức
Giêsu. Với đầu óc thủ cựu, lại nặng thành kiến nên họ không thể nhận ra
thiên tính nơi con người của Ngài. Đức Giêsu trở thành nạn nhân của “chủ
nghĩa lý lịch”. Mc. Kenzie nói : Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng
kính, còn người định kiến hẹp hòi nhìn bằng kính hiển vi.
Còn Đức Giêsu thì luôn âm thầm, kiên nhẫn, nhỏ nhẹ nói với họ bằng câu ngạn ngữ: “Không ai là tiên tri cho xứ sở mình”. Một câu chuyện quen thuộc nhưng đáng buồn “Ngôn sứ không được quê hương mình chấp nhận”.
Đức Giêsu thật ngạc nhiên vì thấy họ không tin. Ngài rất muốn giúp đỡ
họ nhưng cũng đành phải bó tay. Họ chỉ biết nhìn Ngài theo lối nhìn bên
ngoài đầy thành kiến, chẳng thấy được những điều sâu lắng bên trong,
những cái tinh thần cao thượng, những mầu nhiệm thiêng liêng chân thật.
Chính những
điều sâu xa bí ẩn mới làm ích rất lớn cho con người. Chính những chất
màu mỡ nằm ẩn trong đất mới làm cho cây trái, hoa mầu trổ sinh tươi tốt,
đâm chồi nẩy lộc, nuôi sống muôn người, muôn vật. Chính những kho tàng
nằm sâu trong lòng đất, như mỏ dầu, mỏ vàng, mỏ bạc, đồng, sắt, kim
cương, đá quý mới là nguồn tài nguyên phong phú giúp phát triển nền văn
minh nhân loại. Chính những tài năng thượng đẳng, thiêng liêng trong con
người như: tinh thần tự do, trí khôn sáng suốt, ý chí mạnh mẽ, tình cảm
nhân từ mới có sức thăng tiến con người hơn chân tay, mắt mũi. Thế
nhưng loài người vẫn thích thờ bò vàng óng ánh hơn thờ Thiên Chúa siêu
việt.
Chuyện ngày
xưa cũng như chuyện ngày nay. Rất nhiều khi chúng ta phán đoán giá trị
lời nói của một người dựa trên bằng cấp, sự giàu có, uy tín của họ,
nhiều hơn là dựa vào sự hợp lý, tính chính xác của câu nói ấy. Hễ ai có
chức có quyền, có địa vị, có của cải, có học vấn mà nói thì chúng ta
tiên thiên cho rằng họ nói đúng. Còn ai nghèo nàn, rách rưới, thấp cổ bé
miệng, ít học mà nói thì ta tiên thiên cho rằng họ nói sai hoặc chẳng
có giá trị gì. Chính vì tâm lý sai lạc này mà các ngôn sứ giả thường
được người đời ưu đãi, còn ngôn sứ thật thì thường bị bạc đãi (x. Lc
6,23.26). Lối hành xử như vậy là coi trọng của cải, tiền bạc, chức
quyền, địa vị chứ không phải là người coi trọng chân lý, công lý và tình
thương. Thực ra, một điều sai trái, dù kẻ nói ra có quyền thế, học vấn
hay giàu sang tới đâu thì cũng vẫn là sai trái. Còn một điều đúng, thì
dù người nói ra một đứa trẻ, một người nghèo thì cũng vẫn là đúng. Lời
nói sai đâu thể biến thành đúng, hay lời nói đúng đâu thể biến thành sai
vì thế giá hay trình độ học vấn của người nói ra câu nói đó.
Đức Giêsu
buồn nhưng không cay cú, không tức giận. Ngài quyết định đem ánh sáng và
quà tặng thần linh đi đến nơi khác.Những người ở làng quê Nagiarét đã
để lỡ cơ hội đón tiếp Đấng Cứu Thế. Con Thiên Chúa làm một thường dân
đến sống giữa họ mà họ không biết. Họ chỉ biết đó là con ông thợ mộc
Giuse. Họ chỉ biết gia đình Ngài rất nghèo, chẳng có danh giá gì trong
làng. Họ coi thường Ngài. Họ không tin Ngài. Họ hất hủi Ngài. Họ đã để
lỡ cơ hội nghìn năm một thuở. Đức Giêsu không làm một phép lạ nào ở đó.
Ngài bỏ Nagiarét đi đến các làng chung quanh. Và Ngài sẽ chẳng bao giờ
trở lại Nagiarét nữa. Đó là cơ hội cuối cùng cho họ.
Hằng ngày
chúng ta cũng đã bỏ lỡ biết bao nhiêu cơ hội như thế. Ta đã bỏ lỡ không
tiếp đón Chúa đến thăm khi ta bịt mắt không nhìn thấy những cảnh khổ
chung quanh; khi ta bưng tai không nghe những tiếng kêu than khóc lóc;
khi ta làm ngơ trước những cảnh ngộ nghiệt ngã, khi ta ngoảnh mặt quay
lưng trước những nạn nhân của thiên tai hoạn nạn. Nhất là ta bỏ lỡ không
nghe thấy tiếng Chúa cảnh báo để ăn năn sám hối. Chúa đã nhắc nhở ta
nhiều lần nhiều cách: qua các vị bề trên; qua các tai nạn; qua lời
khuyên của những người thân; qua lời phê phán của những người thù ghét
ta. Hôm nay, Chúa còn tiếp tục nhắc nhở. Nếu ta không nghe, biết đâu hôm
nay sẽ là lần cuối cùng. Chúa sẽ không bao giờ nhắc nhở nữa. Chúa sẽ bỏ
ta mà đi như đã bỏ làng Nagiarét và không bao giờ trở lại. Như thế thì
thật nguy hiểm cho linh hồn ta. Để nhận biết Chúa, ta phải rèn luyện cho
mình một đức tin mạnh mẽ. Ánh mắt đức tin giống như ngọn đèn soi chiếu
vào đêm đen giúp ta nhận ra Chúa trong anh em, trong những biến cố Chúa
gửi đến.
Để đón tiếp
Chúa, ta phải rèn luyện cho mình một trái tim luôn luôn rộng mở yêu
thương. Một trái tim yêu thương sẽ rất bén nhạy để nghe được tiếng nói
của Chúa, dù tiếng nói ấy chỉ thì thầm trong sâu thẳm lòng mình; hiểu
được những dấu chỉ của Chúa, dù những dấu chỉ ấy chỉ mơ hồ thoáng qua;
nhận được khuôn mặt của Chúa, dù khuôn mặt ấy đã bị biến dạng qua những
đau thương của cuộc đời.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con tỉnh thức để nhận ra và đón nhận Chúa mỗi lần Chúa đến với con.
Lạy Chúa
Giêsu, xin mở con mắt đức tin cho mọi người được thấy những sự khôn
ngoan, quyền phép lạ lùng của Thiên Chúa đang âm thầm hoạt động trong
Giáo Hội, trong thế giới và cả trong vũ trụ, mà con mắt phàm trần không
thể thấy được, để họ biết ca ngợi Chúa muôn đời. Amen.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
No comments:
Post a Comment