Thursday, July 19, 2012

NGÀY MAI E RẰNG QUÁ TRỄ

L.M  GIUSE TRẦN ĐÌNH LONG, SSS


chuyển ngữ

“Tôi có một điều gì đó giống như Giacop,
đó là luôn trên đường hành trình.”



Phêrô Giulianô Eymard

Rôma, ngày 5 tháng 2 năm 1865 



LỜI GIỚI THIỆU CỦA NGƯỜI DỊCH
Cùng với Giáo Hội toàn cầu, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã khởi đầu năm Thánh Thể ngày 10-10-2004 là ngày khai mạc Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế lần thứ 48 tại Guadalajara, Mêhicô; và sẽ kết thúc năm Thánh Thể ngày 29-10-2005 là ngày bế mạc Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới XI tại Vatican về mầu nhiệm Thánh Thể.
Hoà nhịp với sinh hoạt của Giáo Hội trong năm Thánh Thể, tôi chuẩn bị những bài chia sẻ Tĩnh Tâm Mùa Vọng năm nay trong các xứ đạo cũng như nơi các nhóm trẻ theo đề tài “Giáo Hội Sống Mầu Nhiệm Thánh Thể” trong thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ngày 1-10-2004. Trong lúc đang dọn bài giảng thì có một bạn trẻ gọi điện cho tôi hỏi về gương mặt của những vị thánh có lòng sùng kính Thánh Thể cách đặc biệt. Tôi giới thiệu Thánh Phêrô Giulianô Eymard, nhưng bạn nói thật là chưa được nghe biết về vị thánh ấy. Một ý định nảy sinh trong đầu tôi: phải giới thiệu vị Tông Đồ Thánh Thể này cho các bạn trẻ trong năm Thánh Thể. Trong sứ điệp của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 29-4-2004 nhân ngày Thế Giới Truyền Giáo với chủ đề “Thánh Thể và Truyền Giáo”, Ngài nhấn mạnh: “Để Phúc Âm hóa thế giới, cần phải có những tông đồ “chuyên gia” về việc cử hành, tôn thờ và chiêm ngắm Thánh Thể.” Thánh Eymard là một trong những “chuyên gia” trong lãnh vực này. Nhưng ông là ai?  
Một người đàn ông sắp bị nhóm người thuộc phe cách mạng ném xuống sông Rhôn, nhưng được tha khi họ nhận ra ông chính là vị linh mục được rất nhiều người nghèo quí mến, thế là họ khoác lên người ông lá cờ cách mạng, kiệu ông trên vai và rước về nhà dòng của ông, cho nên ông được xem như một nhân vật khá đặc biệt. Cuộc đời của một người đã được một băng đảng mệnh danh là “băng đỏ”, từng hùng cứ ở một vùng giữa thành phố Paris, nơi mà cả cảnh sát lẫn các linh mục không dám bước chân vào, tiếp đón cách nồng nhiệt như vậy thì quả thật ông đáng là một nhân vật nổi tiếng.
Tuy nhiên, một con người là “chuyên gia về Thánh Thể” như Eymard lại chưa được nhiều người biết đến. Tại sao? Dường như Eymard ít được chú ý trên sân khấu cuộc đời. Eymard chỉ là vị tông đồ nổi tiếng trong việc lôi kéo người Kitô hữu chú ý đến tầm mức quan trọng của Thánh Thể trong đời sống của họ.
Eymard là một con người năng động, không ngừng thăng tiến và biến đổi. Nhiều lần trong cuộc đời, Eymard đã phải chấp nhận trải qua những bước đột phá với quá khứ đầy đau đớn. Người đã tự nhận mình là kẻ lữ hành luôn trên đường hành trình như Giacóp trong thời cựu ước. Trong con người của Eymard tồn tại một cá tính thật khó hiểu và tương phản. Người được mệnh danh là “ngôi sao băng” tuy nhiên cũng lại rất hay mắc cỡ ; rất can đảm nhận trách nhiệm nhưng cũng hay do dự khi quyết định. Người mơ ước sống một cuộc đời ổn định nhưng cá tính lại hay thay đổi bởi ý muốn bướng bỉnh. Cuối cùng Eymard đã học được bài học biết chấp nhận chính con người của mình với những mâu thuẫn và giới hạn.
Cha Norman Pelletier, nguyên bề trên tổng quyền Dòng Thánh Thể, đã viết cuốn sách kể lại cuộc đời thánh Eymard để giới thiệu cho độc giả chân dung của một “chuyên gia Thánh Thể” thuộc thế kỷ 19. Cuộc đời của người Tông Đồ Thánh Thể này không chỉ là một sứ điệp mang tính lịch sử, mà còn có điều gì quan trọng hơn muốn nói với chúng ta trong thời đại hôm nay để Thánh Thể được Tin Yêu, được Cử Hành, và được Sống thật trong đời sống của tín hữu như viễn cảnh lý tưởng của năm Thánh Thể 2004-2005.
     Lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam, ngày  24-11-2004
  L.M. Giuse Trần Đình Long, SSS   
 
DẪN NHẬP
Tiểu thuyết gia Morris L. West tuyên bố rằng ông chẳng có hứng thú viết truyện các thánh, vì nó mang tính hư cấu nhiều hơn các tiểu thuyết của ông, và ông chẳng tin nổi những phép lạ được kể lại. Ông còn khẳng định thêm rằng, một đấng thánh là một người cố xoay xở để cuối cuộc đời làm cho cá tính của mình được phù hợp với tính cách của  Chúa Kitô. Ông ta tuyên bố rằng đúc khuôn mình cho phù hợp với khuôn mẫu Chúa Kitô thì không bao giờ trọn vẹn; vì chưa có ai đạt được mà không bị bầm dập và mang thẹo. Cuộc đời của các thánh là biểu tượng của sự mâu thuẫn.  
Những nhận định trên được xem như lời dẫn vào chuyện kể về cuộc đời thánh Phêrô Giulianô Eymard, một cuộc đời nếu không đầy những mâu thuẫn thì đôi khi cũng thật khó hiểu, một nhân cách bí ẩn mang bao vết thẹo của sự thất bại và thất vọng, tuy nhiên cũng đầy can  đảm dám nhiều lần làm lại từ đầu.  
Cuốn tiểu sử thánh Eymard này được viết cho mọi tầng lớp độc giả. Mục đích cung cấp cái nhìn tổng quát về cuộc đời và sứ vụ của một con người thường được mệnh danh là “Tông Đồ Thánh Thể”. Thánh Eymard đã thành lập Dòng Thánh Thể, một hội dòng của những nam tu sĩ với mục đích truyền bá tầm quan trọng của Thánh Thể cho đời sống người Kitô hữu; Người cũng sáng lập Dòng Nữ Tỳ Thánh Thể, cùng một mục đích trên. Trong thế kỷ XX, một tu hội đời có tên là Servitum Christi được thành lập để chia sẻ linh đạo Thánh Thể này.
Hy vọng cuốn sách này sẽ giúp cho độc giả hiểu rõ hơn cuộc đời và sứ vụ của cha Eymard; con người đã kiên trì chịu đựng biết bao, cho dù khó khăn, trở ngại, sức khỏe yếu kém, để đáp lại tiếng gọi nội tâm đã nhiều lần thôi thúc Người bỏ lại mọi thứ sau lưng để dấn thân vào dòng vô định phía trước. Thiên Chúa đã đồng hành với Người, đã dạy cho Người làm một cuộc hành trình từ đời sống thiêng liêng chỉ nhắm đến kỷ luật, hãm mình phạt xác, và nỗ lực cá nhân để vươn tới con đường không kém phần đòi hỏi nhưng hướng về Thiên Chúa hơn là hướng về bản thân. Đó là con đường của tình yêu. “Chúng ta phải bắt đầu bằng tình yêu và rồi đạt tới nhân đức bằng con đường của tình yêu Thiên Chúa, hơn là bám chặt vào những khía cạnh tiêu cực của những lầm lỗi để làm điểm khởi hành. Con đường này dễ dàng hơn, ngắn hơn và phấn khởi nồng nhiệt hơn”.
Đối với thánh Eymard, tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ và hiện thực nơi nhiệm tích Thánh Thể, chính nhận thức này làm nên nét căn bản linh đạo của Người. Eymard hiểu Thánh Thể cần thiết như thế nào để hình thành các cộng đoàn môn đệ Chúa Kitô. Thật vậy, công đồng Vatican II đã nhắc nhủ Giáo Hội rằng Thánh Thể làm nên cộng đoàn Kitô hữu, không chỉ là một cộng đồng thờ phượng mà còn là một Giáo Hội phục vụ nữa. Có lẽ bằng chính cuộc sống hơn là bằng những bút tích viết cho bạn bè, thân nhân hay những đồng nghiệp, Thánh Eymard đã công bố rằng Thánh Thể có sức mạnh đổi mới Giáo Hội và xã hội. Thực vậy, Người đã kêu mời giáo dân tham gia vào một cuộc cách mạng. Người nói: “Tôi muốn có một cuộc cách mạng về đời sống thiêng liêng... một cuộc cách mạng trong giới giáo sĩ. Chúng ta đã phạm một sai lầm nghiêm trọng trong đời sống thiêng liêng. Chúng ta quá nhấn mạnh đến những điểm tiêu cực. Đó chỉ là sự đối nghịch. Chúng ta gây đau khổ cho người ta như vậy là đủ rồi. Họ cần được nuôi dưỡng.”
Tôi cố gắng diễn tả hành trình của một người đã sống trong hoàn cảnh văn hóa, xã hội và chính trị hoàn toàn khác với chúng ta. Lịch sử chính trị ở Pháp trong thế kỷ XIX đôi khi biến động nhưng luôn luôn phức tạp. Thánh Eymard sống vào thời sau cuộc cách mạng Pháp. Trận chiến ở Waterloo năm 1814 chấm dứt giấc mơ bành trướng của Napoleon Bonaparte và đem gia đình hoàng tộc trở lại ngai vàng ở Pháp, nhưng hành động đó lại đẩy nhanh đến cuộc cách mạng tháng 7 năm 1830. Tiếp theo là cuộc cách mạng tháng 2 năm 1848 đem lại nền đệ nhị cộng hòa từ năm 1848 đến 1852, sau đó đế quốc thứ hai được hình thành với triều đại Napoleon đệ III từ năm 1852 đến 1870. Trong suốt thế kỷ 19, những xáo trộn chính trị và xã hội không giới hạn ở Pháp. Tại Ý, cuộc chiến đấu cho việc thống nhất quốc gia gặp phải những đối nghịch nghiêm trọng từ phía quốc gia Toà Thánh và từ những vương quốc khác trong đất nước. Cũng trong thời gian đó, tại Ái nhĩ Lan xảy ra nạn đói lớn, vô số gia đình Ái nhĩ Lan đã phải đi ty nạn ở Hoa Kỳ và Úc, trong khi hàng ngàn người ở lại quê nhà và nhiều người đã chết đói. Tại Anh quốc, phong trào Oxford đến lúc nhộn nhịp, John Henry Newman đã hoán cải và gia nhập Giáo Hội Công Giáo năm 1845. Tại Mỹ, vào năm 1815 sau cái chết của vị giám mục tiên khởi và duy nhất được bầu, đó là John Carroll của Baltimore, một đám người quá khích chống Công Giáo đốt những nhà thờ tại Boston và Philadelphia năm 1834 và 1844; sau đó Hoa kỳ lại rơi vào cuộc nội chiến kinh khủng từ năm 1861 đến 1865. Trong cùng thời gian đó, Ấn Độ chứng kiến sự tan rã của các công ty Đông Ấn và trở thành thuộc địa của Vương Quốc Anh.
Đó chính là thời kỳ chuyển tiếp trong lịch sử khi các quốc gia Châu Âu đang đấu tranh để hình thành các ranh giới chính trị và địa lý. Trong số các cuộc đấu tranh chỉ có một số ít diễn ra thành công trong bầu khí hoà bình. Thực ra, sự liên minh của thế quyền và thần quyền tan vỡ ra để lại những hậu quả tai hại.
Mỗi thời đại có những khủng hoảng riêng của nó, trong lãnh vực chính trị, xã hội, hay  tôn giáo, nhưng trong mỗi thơì kỳ cũng nảy sinh ra những con người nổi tiếng giữa những rối ren và chuyển tiếp. Giáo Hội Pháp vào thế kỷ XIX, dường như đầy tràn màu mỡ khi được chúc phúc cho có nhiều ngươì đáng ghi nhớ, trong số đó có những vị là đấng sáng lập dòng. Thế kỷ XIX chứng kiến sự hình thành của Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội do Đức Giám Mục Mazenod sáng lập. Dòng chị em Chúa Chiên Lành do Maria Euphrasia Pelletier sáng lập. Dòng Thánh Tâm Chúa Giêsu do Madeleine Sophie Barat sáng lập. Dòng Đức Bà do cha Jean Claude Marie Colin sáng lập. Dòng chị em người nghèo do Jeanne Jugan.
Thánh Eymard được kể trong số những vị thánh và đấng sáng lập dòng của “trưởng nữ Giáo Hội”, vì nước Pháp được gọi như vậy qua nhiều thế kỷ. Cuốn tiểu sử vắn gọn này là một tặng vật tỏ lòng tôn kính linh đạo của thánh Eymard, với hy vọng rằng Thánh Thể đã lôi cuốn và nên nguồn hứng khởi cho cuộc đời thánh Eymard, cũng sẽ khích lệ mỗi người chúng ta trung thành đáp lại lời mời gọi đầy quyền năng liên lỉ và dịu dàng của Chúa để yêu thương và phục vụ.
Cuốn trình thuật về hành trình thiêng liêng của thánh Eymard này không có ý nói rằng tác giả đã hiểu biết tất cả mọi điều. Công việc đó xin dành cho những người cầm bút chuyên nghiệp. Hầu hết những tư liệu trong sách này được rút ra từ hai bộ tiểu sử có trước được viết bằng tiếng Pháp, một của Cha George Troussier, SSS và một của Đức Ông Francis Trochu, và từ những thư từ thánh Eymard viết cho anh chị em thuộc hai hội dòng của Người, cho bạn bè và hai chị của Người.
Công việc nghiên cứu có tính cách chuyên môn về những năm đầu thành lập dòng của thánh Eymard do Cha Donald Cave, SSS thực hiện. Cha Herve Thibault, SSS đã dày công nghiên cứu về hành trình thiêng liêng của thánh Eymard. Cha Laureat Saint Pierre đẩy mạnh lãnh vực nghiên cứu về thánh Eymard. Cha Andre Guilton, SSS đã cho xuất bản cuốn sách về cuộc đời phục vụ đến hơi thở cuối cùng của thánh Eymard bằng tiếng Pháp. Mới đây ở Ý, Cha Manuel Barbiero, SSS đã viết một tiểu luận đặc biệt về thánh Eymard. Tôi xin chân thành cảm ơn những đóng góp lớn lao của tất cả các cha đã góp phần làm cho danh tánh cha thánh Eymard được biết đến nhiều hơn, đồng thời cũng giúp cho công việc của tôi được dễ dàng hơn.
Tôi cũng chân thành cảm ơn ông Robyn Johnson, R.S.M, với kỹ năng tinh tế đã giúp cho công việc phát hành cuốn sách này thật đẹp và rõ ràng. Cảm ơn Cha Donald Cave đã cẩn thận giúp cho những nghiên cứu của tôi có tính lịch sử chính xác. Cũng xin hết lòng biết ơn tất cả những ai đã khích lệ cho công việc này, đặc biệt là những người thấy được nhu cầu cần phải thuật lại cuộc đời cha Thánh Eymard bằng lối văn kể chuyện trực tiếp cho công chúng dễ thưởng thức và đón nhận.

L.M. Norman Pelletier, SSS


 
CHƯƠNG MỘT

LUÔN TRÊN ĐƯỜNG HÀNH TRÌNH
Viên đội trưởng cảnh sát đặc nhiệm ra lệnh cho những người đứng xem không được làm mất trật tự. Trong một khoảng thời gian ngắn, những người phản đối tạm lắng dịu, nhưng chẳng bao lâu, những tiếng la lại đồng thanh vang lên như một làn sóng từ từ dâng lên rồi đổ tung vào bờ thành một điệp khúc: “Không được cướp vị thánh của chúng tôi đi! Không được cướp vị thánh của chúng tôi đi!”
Làng La Mure nằm nép sát dưới chân núi Alpe thuộc nước Pháp, những người dân trong tỉnh lỵ và những tín hữu làng La Mure đang lớn tiếng phản đối việc chuyển hài cốt của thánh Eymard khỏi nghĩa trang của nhà thờ trong làng. Thực ra, vì có sự hiện diện của sĩ quan đội cảnh sát đặc nhiệm, nên cuộc biểu tình không biến thành cuộc bạo động. Viên thị trưởng đã ra lệnh cho viên chỉ huy cảnh sát bằng mọi giá phải duy trì trật tự công cộng. Chính vị tỉnh trưởng đã ra lệnh, nếu cần, sẽ dùng đến vệ binh vũ trang để can thiệp khi có xảy ra bạo động trong khi thi hành công tác di chuyển hài cốt của Thánh Eymard, đấng sáng lập Dòng Thánh Thể.
Sự phản đối việc di chuyển hài cốt thánh Eymard được cầm đầu bởi vị thư ký thị trưởng và do người chị nuôi là người thân duy nhất còn lại của thánh Eymard xúi giục. Bà đã rời khỏi La Mure để khỏi phải chứng kiến cảnh tượng đau lòng đó.
Nhân cái chết của Marianne, chị ruột của thánh Eymard, các môn đệ của thánh Eymard đã nộp đơn xin chính quyền cho phép di chuyển hài cốt của thánh Eymard về Paris, nơi mà nhà Dòng đã chuẩn bị một nơi đặc biệt để lưu giữ hài cốt trong ngôi nhà nguyện mới của nhà mẹ.
Khi dân làng nhận được thông báo về sự việc này, một cuộc phản đối bùng nổ khắp nơi. Mọi người hầu như dèm pha đó là vụ “đánh cắp“ vị thánh của họ. Bởi vì cha Eymard được sinh ra và lớn lên ở La Mure, và Người thường xuyên trở lại ngôi làng này để thăm gia đình và dâng lễ tại ngôi nhà thờ của làng, chính nơi đây Người đã được rửa tội. Dân chúng ở La Mure biết Người rất rõ. Nhiều người đã tham dự lễ an táng Người tại nghĩa trang nhà thờ, nơi mà hôm nay những người công nhân đang đào bới để đem đi cỗ quan tài bằng gỗ sồi, chứa hài cốt của vị “thánh của họ”. Họ đã cương quyết không cho đem hài cốt đi cho dù viên thị trưởng đã hứa với họ là sẽ di chuyển hài cốt cách êm ái nhẹ nhàng bao nhiêu có thể. Tiếng la ó của các phụ nữ, trẻ em, của những người dân lao động vang lên khi nhát cuốc đầu tiên chạm đất lúc 4 giờ chiều, và cứ tiếp tục như một bản đồng ca Hy Lạp, cho đến khi cỗ quan tài được hộ tống ra khỏi tỉnh lỵ ba giờ sau đó. Hôm đó là ngày 27 tháng 6 năm 1877, gần mười năm kể từ ngày cha Eymard qua đời.
Cha Eymard đã đi từ Paris về La Mure ngang qua Vichy và Lyons, không hay biết mình đang bị bệnh trầm trọng. Ơn gọi làm linh mục và tu sĩ của cha là kết quả của một cuộc hành trình thiêng liêng dài. Lòng nhiệt thành tông đồ đã thúc đẩy cha nhiều lần xuôi buồm đến tận Rôma để nhận quyết định phê chuẩn cho phép cha lập dòng. Cha thường lấy xe buýt hoặc xe lửa đi khắp đó đây để thành lập phòng tiệc ly và các trung tâm chầu Thánh Thể trên đất Pháp; tiếp tục ra đi để rao giảng về tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ trong Bí Tích Thánh Thể. Ngay cả khi đã qua đời, cha vẫn không nghỉ ngơi. Tuy nhiên điều quan trọng hơn là hành trình thiêng liêng của vị linh mục người Pháp này.
Hành Trình, chính là đề tài của cuốn sách này. Đó là di chúc của một con người đã để lại di sản đạo đức là những giá trị thiêng liêng đặt nền tảng trên lòng tín thác của ngươì đó vào ý muốn của Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn theo đuổi cha ngay cả khi đã yên vị trong sự dấn thân cho sứ vụ mục tử cách nhiệt thành, và cả khi đã yên ổn trong đời sống một tu sĩ Dòng Đức Mẹ.
Sự phản kháng của dân làng La Mure đã minh chứng tầm mức ảnh hưởng cũng như sự thánh thiện của cha Eymard đối với họ. Cũng chính sự mộ mến như vậy đối vơí Đấng sáng lập yêu quý, Dòng Thánh Thể đã di dời hài cốt Người Cha thiêng liêng của họ về Paris.
CHUƠNG HAI

CUỘC HÀNH TRÌNH ĐẦY MỘNG TƯỞNG

“Tôi đã phải trả giá thật đắt”


Lớn Lên Tại La Mure
Phêrô Giulianô Eymard chào đời năm 1811, tại làng La Mure, nước Pháp. Cậu là đứa con sống sót duy nhất trong cuộc hôn nhân thứ hai của cha cậu với bà Maria Madeleine Pelorce. Marianne là người chị cùng cha khác mẹ, đã sống với Eymard cho đến tuổi trưởng thành. Cha mẹ cậu còn có một người con nuôi, đó là chị Nanette.
Cha của Eymard là một người lao động chăm chỉ và là một tín hữu sùng đạo. Ngoài việc chu toàn các bổn phận đạo đức thông thường, ông còn tham gia vào hội Thánh Thể, hội này chuyên nhắm đến việc đền tạ cách khắc nghiệt. Thực ra, đời sống tôn giáo ở Pháp lúc đó vẫn còn bị ảnh hưởng bởi bầu khí ngột ngạt của phái Jansenism, là một phong trào chuyên trình bày thứ tôn giáo theo cách đền tội nhiệm nhặt, nhấn mạnh vai trò của tội và sự thống khổ, chịu đau đớn và hy sinh trong đời sống Kitô hữu.
Lối tiếp cận vơí thứ tôn giáo này đã ảnh hưởng mạnh mẽ trên những người tín hữu tốt lành nhưng quá đơn sơ. Cha của Eymard đã nuôi dưỡng lòng tin của cậu bằng chính tinh thần ấy. Bản thân ông đã chịu đựng nhiều nỗi mất mát: cái chết của người vợ thứ nhất và sáu đứa con, rồi đến ba người con của người vợ thứ hai cũng ra đi trước khi Eymard chào đời. Thực tại cay nghiệt đớn đau ấy đã để lại trong ông những vết thương lòng khó quên.
Cha của Eymard không bao giờ giàu có, nhưng luôn cố chắt chiu tằn tiện để tạo cho gia đình một cuộc sống căn cơ, lương thiện bằng chính sự khéo léo, chịu khó làm việc. Khi ông bắt đầu tạo dựng cuộc sống mới với Maria Madeleine Pelorce tại làng La Mure, ông đã cố bươn chải kiếm sống qua ngày bằng nghề mài dao kéo. Chẳng bao lâu, ông đã dành dụm được tiền đủ mướn một căn phòng nhỏ để làm việc tại một căn hộ ở phố Du Breuil. Sau đó ông đã mua được căn hộ kế bên, tuy nhỏ nhưng cũng đủ để làm xưởng ép dầu. Ông cố gắng làm việc và mướn thêm được vài người giúp việc. Chất dầu của cây cọ được xay ép bằng một chiếc cối đá lớn do sức kéo của một con lừa. Một cuộc sống khá tươm tất và ông đã có thể kiếm đủ tiền để lo cho gia đình mình gồm: vợ, một cô con gái, một cô con nuôi và cậu út Eymard. Ông và gia đình đặt hết niềm hy vọng vào cậu trai út này.
Cuộc sống lớn lên tại La Mure đối với Eymard là cuộc sống đầy hấp dẫn. La Mure từ đó cho đến nay vẫn là một nơi quan trọng nhất của khu vực xét về mặt địa thế và kinh tế. Thời mà cậu bé Eymard còn chạy rong chơi đó đây, làng La Mure là một ngôi làng bé nhỏ xinh xắn được bao bọc bởi rặng núi Alpe thật nguy nga tráng lệ, với con số khoảng 1500 cư dân sinh hoạt tấp nập.
Cha cậu nhờ có nghề kinh doanh nhỏ nên khá nhiều khách hàng biết đến. Từ khi bắt đầu phụ giúp cửa tiệm và đi phân phối dầu cho khách hàng, Eymard đã phát triển được những năng khiếu giao tiếp xã hội lành mạnh. Ngôi nhà của gia đình ông Eymard tọa lạc tại một phố chính của La Mure, trên lầu để ở và tầng trệt để làm việc. Không có điều gì xảy ra chung quanh khu phố đó mà không lọt qua cặp mắt của cậu bé hay tò mò này. Đường phố Du Breuil lúc nào cũng bận rộn vì là con đường chính nối liền thị trấn Gap ở phía Nam với thành phố lớn Grenoble ở phía Bắc.

Napoleon Diễu Hành Qua Đường Phố
Tháng 3 năm 1815, một biến cố quan trọng xảy ra làm cho làng La Mure bỗng trở nên náo nhiệt, đó là cuộc diễu binh qua đường phố Du Breuil đến Paris của Napoleon cùng với đoàn tuỳ tùng của ông khi ông vừa trốn thoát khỏi đảo Elba. Lúc đó cậu Eymard mới được 4 tuổi, đứng bên đường vẫy tay chào đoàn diễu hành của đại tướng đi ngang qua. Ấn tượng đã in sâu vào tâm trí khi cậu nhìn thấy những chiếc mũ lông gà sặc sỡ trên đầu các sĩ quan. Sau đó, cậu thích chơi trò làm lính với đám bạn bè và đòi chị gái làm một chiếc lông giả giống như vậy để gắn vào chiếc mũ của cậu.
Ngày kia, nhìn thấy một chiếc lông gà thật ở cửa hàng gần nhà, không thể cầm lòng được, cậu đã vào chộp lấy nó, chạy về nhà để gắn lên chiếc mũ của mình, cậu tưởng tượng chắc hẳn mình sẽ trông giống sĩ quan nhất trong đám trẻ ở La Mure, và điều đó đối với cậu hết sức quan trọng. Vì lâu nay  lũ trẻ này vẫn chọc ghẹo cậu là "thằng bị ám mùi dầu". Bây giờ cậu có thể hãnh diện về thành tích mới này để xem chúng còn dám cười cậu nữa không. Nhưng niềm vui đó chẳng kéo dài, nó đã biến thành nỗi sợ hãi khi cậu trở về nhà. Thậm chí cậu chưa kịp gắn chiếc lông lên mũ để ngắm xem nó đẹp như thế nào thì lòng tràn đầy hối hận, cậu chạy ào đến cửa tiệm để trả lại món hàng cậu đã lấy cắp. Cậu buồn giận chính mình vì đã quá bồng bột. Và trong một vài lãnh vực nào đó Eymard vẫn còn bị ảnh hưởng bởi tính bồng bột này cả cuộc đời.
Như bao trẻ em khác cùng lứa tuổi, Eymard đã từng là chú bé giúp lễ trong nhà thờ xứ. Ở La Mure có tục lệ là các chú giúp lễ thường hay đi khắp đường phố rung chuông để báo cho mọi người biết sắp đến giờ phụng vụ tại nhà thờ. Các chú tranh nhau làm công tác này, vì đó vừa là một đặc ân, vừa là một niềm vui; đặc biệt nhất, chú là người sẽ loan tin cho cả làng biết trong những trường hợp có việc quan trọng sắp xảy ra. Chẳng những không nhút nhát mà Eymard còn khôn khéo nghĩ ra cách làm thế nào để giành được rung chuông trong thánh lễ buổi sáng, và luôn tìm cách thắng những đứa trẻ khác nếu cậu có thể đến nhà thờ trước. Cậu nghĩ tại sao lại không đem chuông về nhà tối hôm trước thay vì để sáng sớm hôm sau phải dậy sớm và vội vã. Đó là điều cậu thường làm. Cậu thừa cơ lấy chuông đem về nhà và bằng cách đó cậu đỡ phải lo tranh giành phiền phức.

Giống như cha mẹ và các chị, Eymard rất sốt sáng và trung thành với việc bổn phận ở nhà thờ. Lúc còn bé, mẹ và chị thường dắt cậu đi nhà thờ. Khi lớn khôn đủ để có thể đi một mình, người ta thường bắt gặp cậu vào nhà thờ viếng Thánh Thể và cầu nguyện tắt với Đức Mẹ. Nhiều khi cậu ngưng việc nhà hay việc đi phân phối dầu để làm công việc đạo đức nhỏ bé của mình. Cậu đã tìm ra một chỗ đặc biệt kín đáo để cất dấu bình dầu của mình mỗi khi vào nhà thờ viếng Chúa. Cậu hay dấu nó sau cái lu đựng nước thánh. Làm như vậy, cậu có thể lấy nó một cách nhanh chóng khi đi ra, và mùi dầu không xông lên gây khó chịu cho bất kỳ ai vào nhà thờ cùng lúc với cậu. 

Những Hạt Giống Của Một Ơn Gọi
Đôi khi, cậu chơi trò làm linh mục. Khi có những bé gái hàng xóm đến cửa hàng chơi, cậu chỉ cho chúng được nếm mật dầu cọ với điều kiện chúng hứa phải tham gia vào trò chơi cầu nguyện với mình. Cậu tìm một miếng vải để làm áo lễ và lấy một cây thánh giá đeo vào cổ. Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng cậu thường thích giảng thuyết hơn là cầu nguyện mỗi khi có đám khán giả trẻ em tham dự. Eymard đã đang thực tập một kỹ năng mà sau này mang lại hiệu quả rất lớn cho việc rao giảng. Tất cả mọi người trong gia đình đều chú ý đến tính năng động ngay từ tuổi thơ của một ơn gọi linh mục đầy hứa hẹn này.
Lối nhìn khắt khe của phái Jansenist về các bí tích đã ngăn cản các trẻ em không được rước lễ trước tuổi ấn định. Cho nên, để chuẩn bị cho biến cố trọng đại này, một buổi sáng sớm mùa đông trời đầy tuyết, Eymard đã cùng một người bạn âm thầm trốn đi sang một nhà thờ ở làng bên cạnh để dự thánh lễ và xưng tội. Khi cha xứ đó thấy hai cậu bé nhiệt tình đến nhà thờ dự lễ sớm như vậy đã cảm động và chấp nhận nghe hai cậu xưng tội. Còn cha xứ  La Mure thì chưa bao giờ chấp nhận thỉnh nguyện của các cậu vì ngài cho rằng chúng còn quá nhỏ và chưa đủ ý thức để có thể lãnh bí tích sớm như vậy. Đây chính là tàn dư theo lối suy nghĩ của phái Jansenist. Chỉ có những dịp rất hiếm, và chỉ có những người thật sùng đạo mới được rước lễ. Nếu bạn không được phép mà cứ chuẩn bị để lãnh bí tích thì có ơn ích gì. Dầu sao đi nữa, hai cậu bé thông minh đã thắng được cha xứ và đã được xưng tội lần đầu, mặc dù tập tục địa phương không cho. Nhiều năm sau này khi đã trở thành vị linh mục nhiệt thành, và nhà giảng thuyết nổi tiếng, cha thánh Eymard thường nhấn mạnh: “Bạn rước Thánh Thể để trở nên thánh, chứ không phải vì bạn đã là thánh rồi mới rước Thánh Thể”.
Cuối cùng, vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh 16 tháng 3 năm 1823, sinh nhật thứ mười hai của Eymard cũng là ngày cậu được rước lễ lần đầu. Trong gia đình, Eymard nhìn thấy những người lớn làm các việc hy sinh hãm mình trong suốt mùa chay, và cậu coi xem họ giữ chay thế nào trước khi rước lễ. Nhờ những ảnh hưởng tốt lành ấy, trước ngày Rước Lễ Lần Đầu, cậu đã không làm bất cứ công việc thường nhật nào ngoài việc chuẩn bị cho ngày trọng đại đó. Một hôm, trời vẫn còn đầy tuyết, cậu đã đi bằng đôi chân trần lên ngọn đồi phía sau nhà để cầu nguyện. Nơi đó ngày nay vẫn được gọi là đồi Can-vê bởi vì có ba cây thánh giá được trồng trên một gò nhỏ nhìn xuống thị trấn.
Cuộc mạo hiểm hãm mình ép xác tiếp theo của cậu xem ra khó thành công. Cậu muốn ra khỏi nhà mỗi ngày mà không đem theo bất kỳ thứ lương thực nào như những người đạo đức nhất giữ chay mùa Thương Khó. Cậu dự định nhường phần ăn sáng của mình cho người nghèo. Một buổi sáng nọ, khi cậu định làm công việc bác ái bí mật này thì bị người chị bắt gặp quả tang. Khỏi cần phải nói, việc làm này đã bị nghiêm cấm ngay. Cuối cùng, ngày trọng đại đã đến và Eymard được rước lễ lần đầu. Đó là giây phút cậu không bao giờ quên được. Eymard đã chuẩn bị thật lâu và rất chu đáo cho biến cố này. Mãi ba mươi năm sau, Eymard kể lại cho một người bạn: “Chúa đã ban cho tôi biết bao ân sủng trong ngày đó.”
Cậu Phêrô Eymard đã nhập học ở trường tiểu học trong làng và học hành khá chăm chỉ. Tuy không là học sinh xuất sắc, nhưng cậu học rất chăm và đạt kết quả tốt. Chẳng bao lâu cậu đã được mười ba tuổi, cha cậu quyết định cho cậu thôi học, lấy lý do là cậu đã có đủ khả năng tính toán và ghi chép để trông coi tiếp công việc làm ăn của gia đình. Cậu đã bị đánh bại hoàn toàn. Thật đáng tiếc cho cậu bé trong bước đường học vấn. Ngay cả mẹ cậu lẫn cha sở cũng không dám can thiệp cho cậu trước thái độ cứng rắn và cương quyết của cha cậu. Còn cậu bé thì không thể hiểu được cách đối xử của cha mình. Cậu đã thổ lộ với cha cậu ý định muốn trở thành linh mục. Ngay lúc đó, cha cậu đã từ chối không muốn bàn về việc này. Bây giờ, cậu hy vọng sau khi được rước lễ lần đầu, cha cậu sẽ tán thành ý muốn trở thành linh mục của mình. Nhưng không, cậu hoang mang bối rối bởi sự từ chối của cha và quyết định cuối cùng của ông là không cho cậu được tiếp tục đi học. Cậu tự hỏi không biết có phải là do cậu đã phạm lỗi lầm gì? Hay là do cha cậu đã đặt kỳ vọng gì đó hơn là việc cho cậu tiếp tục đến trường? Phải chăng là cậu đã không chu toàn công việc nhà?

Đi Hành Hương
Thất vọng và chán nản vì thấy rằng ơn gọi mà mình hằng mơ tưởng theo đuổi đang bị dập tắt dần dần vì quyết định cuối cùng của người cha, Eymard dự định xin đi hành hương tới đền thờ Đức Mẹ Laus cách đó khoảng ba mươi dặm. May mắn cậu đã được phép đi. Cậu đã khởi hành về hướng Nam, theo dòng sông Drac băng ngang qua làng Corps; trước khi đến thành phố Gap, cậu đã rẽ sang hướng Đông Nam để đi đến đền thờ cách thành phố Gap khoảng mười cây số. Đến nơi, lập tức cậu vào trong nhà thờ để trút hết tâm sự dưới chân Đức Mẹ.
Sau lần Đức Mẹ hiện ra với một bé gái nhà quê, đền thờ Đức Mẹ Laus đã trở thành một nơi hành hương nổi tiếng vào cuối thế kỷ XVII. Trước đó không lâu, đền thờ đã được giao cho các tu sĩ Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm coi sóc. Vào ngày đáng nhớ này, cha Touche, một vị thừa sai giảng thuyết có tiếng ở vùng này, đã tình cờ có mặt trong lúc cậu bé hành hương trẻ đang tiến đến trước bàn thờ Đức Mẹ. Xúc động khi nghe cậu kể cho Đức Mẹ nghe hết tâm sự của cậu, vị linh mục đã đến gặp cậu. Vẫn còn mang tâm sự bối rối về thân phận của mình, vì cha cậu đã cấm không cho cậu tiếp tục theo ơn gọi tu trì, Eymard đã nài xin cha Touche nghe cậu xưng tội và cha đã chấp nhận. Thế là cậu kể hết mọi sự cho cha nghe. Cha Touche không phải là một người dễ bị xúc động, nhưng cha nhận thấy có điều khác thường nơi cậu bé này. Sự thành thật, ngây thơ, lòng hiếu thảo mà cha nhận ra nơi cậu đủ thuyết phục cha và cha đã chấp nhận thỉnh nguyện của cậu. Eymard nhấn mạnh: “Nhưng bố của con vẫn chưa cho phép.” Tuy nhiên, cha Touche đã trả lời: “Không có gì phải bối rối. Con phải bắt đầu học tiếng La Tinh ngay. Ngoài ra, cha nghĩ, con nên rước lễ mỗi ngày Chúa Nhật.” Từ đó khởi đầu một mối liên hệ thân hữu lâu dài. Đó cũng là ngày bắt đầu của một tình liên đới khác đã khởi sự ở làng La Mure, và giờ đây đang bén rễ sâu trong Eymard. Đó chính là Đức Trinh Nữ Maria, người mà Eymard đã trút mọi nỗi đau buồn và cơn hoang mang của cậu trong ngày hôm đó. Mẹ Maria đã nghe và nhận lời cậu. Tinh thần sốt mến này đã lớn lên và càng thêm sâu đậm hơn trong bao năm trời. Đức Mẹ đã đóng một vai trò quan trọng không những chỉ ngay từ những ngày khởi đầu ơn gọi của Eymard, mà còn trong suốt cả cuộc đời của cậu.
Eymard trở về nhà, lòng tràn ngập hạnh phúc và xác tín hơn bao giờ hết rằng mình sẽ tiếp tục theo đuổi giấc mơ trở thành linh mục vào một ngày nào đó. Tuy nhiên cậu vẫn chưa hiểu rõ tại sao cha lại từ chối. Cậu bé mười ba tuổi này không thể hiểu được mối bận tâm của người cha đang đặt hết hy vọng nơi cậu con trai duy nhất để gánh vác công việc làm ăn sinh lợi vật chất cho tương lai của gia đình. Lời từ chối cương quyết của cha chính là trở ngại và mối bận tâm nhất của Eymard. Tuy nhiên, cậu hy vọng với thời gian sự siêng năng làm công việc nhà sẽ khiến cho cha cậu hài lòng hơn. Chỉ bằng cách hành động như vậy mới có thể thuyết phục được cha để ông không có cớ trách cứ và bớt nghi ngờ những toan tính của cậu. Những lúc đi lại trong thị trấn, cậu đã nhìn thấy một số  bạn học tiếng La Tinh ở trường trung học thị trấn. Nhờ sự chỉ dẫn của một cậu bạn nhỏ, Eymard đã biết mình cần phải có những gì để bắt đầu học tiếng La Tinh. Với sự khích lệ của mẹ, cậu đã mua được một quyển sách văn phạm La Tinh cũ.
Hơn hai năm trời, cậu đã cố gắng học tiếng La Tinh cách âm thầm. Trong những ngày nghỉ cậu thường tìm đến thăm các chủng sinh và nhờ họ sửa dùm các bài tập La Tinh. Ngoài ra cậu tự học một mình. Chỉ có mẹ và một vài người thợ làm công trong nhà biết việc cậu học như vậy. Thường thường, chờ lúc cha đi ra khỏi nhà cậu mới dám lấy sách văn phạm La Tinh ra học, làm các bài tập, hay học chia động từ và các biến cách của ngữ pháp. Những người làm công không bao giờ tố cáo cậu cho cha. Cậu cảm thấy thật vất vả khi vừa phải chu toàn công việc nhà vừa phải học La Tinh. Đối với một cậu bé mười ba tuổi như vậy quả là một sự cố gắng phi thường cả về mặt cá tính cũng như ý chí cương quyết và phải có một động lực thúc đẩy thật mãnh liệt mới có thể làm được như vậy. Chẳng có bất cứ sự hỗ trợ tích cực tức thời hay cụ thể nào, Eymard cứ kiên trì như vậy cho đến một ngày thuận tiện, cậu đành thú nhận với cha những điều mình đã làm trong suốt hai năm qua. Một ngày kia, Eymard mạnh dạn xin cha đi học, cha cậu gắt lên: “Đi học à, thật là quá tốn kém!” Eymard biết chắc rằng có bàn luận với cha cũng vô ích thôi, nhất là đụng tới tiền bạc phải kiếm bằng mồ hôi nước mắt. Cậu nghĩ có thảo luận với cha về vấn đề này cũng bằng thừa vì chắc chắn sẽ chẳng có khoản tài trợ nào cho việc đi học.
Tuy nhiên, dù cha khăng khăng từ chối, cậu vẫn một mực kiên trì. Cậu nhất quyết không phí bỏ hai năm đã đầu tư biết bao công sức để học La Tinh, cũng không hề có ý thay đổi chiều hướng theo đuổi một ơn gọi nào khác ngoài ơn gọi linh mục.
Thật đúng là “cha nào con nấy”! Cá tính mạnh mẽ mà người ta thấy nơi ông Eymard chứng tỏ ông là người tự mình cố gắng phấn đấu để trở thành một thương gia lương thiện, bắt đầu sự nghiệp chỉ với đôi bàn tay trắng khi ông bắt đầu đến La Mure, cá tính ấy in đậm nét nơi cậu con trai của ông. Cậu bé tỏ ra là người chăm chỉ và có tài tháo vát như cha. Năm nay cậu đã trở thành một thiếu niên mười sáu chững chạc. Cậu ý thức cơn giận của cha như là một thử thách.

Trường Học
Một hôm, Eymard đã tự ý đến hỏi thăm vài người bạn quen biết với ông thị trưởng La Mure cách thức xin một trong số ba học bổng dành cho học sinh nghèo của thị trấn. Cậu đã nộp đơn và nhận được học bổng. Nhưng việc cậu đi học bằng trợ cấp học bổng dành cho học sinh nghèo đã làm cho ông hiệu trưởng không hài lòng. Ông phản ứng: “Họ là thương gia, tại sao phải cấp học bổng cho con cái họ?” Mặc dù bị thua kém nhiều khi bắt đầu vào học, nhưng chẳng bao lâu cậu đã theo kịp các bạn, và trong một thời gian ngắn đã vượt qua được nhiều bạn.
Ông hiệu trưởng không hề ủng hộ cậu chút nào. Thực ra, ông quá bực mình vì Eymard đã đi học bằng tiền học bổng dành cho học sinh nghèo. Ông không để cho cậu được yên và cứ lải nhải mãi với cậu về việc này. Điều đó đã để lại một vết thương lòng không bao giờ xóa được trong đời cậu. Những năm sau, khi nhớ lại những kỷ niệm đau thương ngày đầu tiên đi học như vậy, cậu đã thừa nhận: “Tôi đã phải trả một giá quá đắt. Người ta khinh khi và làm nhục tôi. Ông hiệu trưởng tìm đủ mọi cách ép tôi phải trả tiền học phí. Ông không cho tôi rảnh rang trong giờ giải lao, thay vào đó, ông luôn bắt tôi phải đốt lò sưởi, quét dọn phòng làm việc, phòng ngủ và làm hàng trăm công việc khác cho ông. Việc đó nhắc nhở tôi mỗi ngày rằng mình là một trong ba học sinh khốn khổ nhất.”
Không chỉ Eymard là người chịu nhục, cha của cậu cũng chẳng thể chịu đựng mãi nỗi nhục khi bị coi là kẻ bần cùng. Trong một thị trấn nhỏ như  La Mure, chẳng bao lâu tin đồn lan khắp nơi rằng con trai của một thương gia lại đi học trường công. Chịu không nổi, cho đến một ngày cha của Eymard đã phải lên trường để gặp ông hiệu trưởng. Ông hiệu trưởng la lên: “Vâng, đơn giản là ông cứ đem cậu con trai ra khỏi trường, nếu ông cảm thấy như vậy”. Thế là cậu phải từ giã trường học, trở về nhà bên chiếc cối ép dầu, tiếp tục công việc ở nhà kho, và đi phân phát dầu cho các khách hàng quen thuộc như trước.
Một hôm, có một vị linh mục đến La Mure thăm gia đình Eymard với mục đích là muốn tìm một người phụ công việc trong bệnh viện. Cậu đã đi thăm dò và lập tức xin cha cho đi Grenoble ở với vị linh mục đó để đổi lấy chỗ ăn ở và học La Tinh. Linh mục này là người có uy tín đã thuyết phục được cha của Eymard cho phép con mình đi, vì chắc chắn ơng vẫn thích cho cậu con trai ở bn cạnh mình để học nghề buôn bán dầu mà ông hy vọng rằng một ngày kia Eymard sẽ nối tiếp sự nghiệp của ơng.

Thất Vọng Và Mất Mát
Tất cả những gì xảy ra ở Grenoble không giống như những điều người ta đã hứa với Eymard và cũng chẳng giống với những gì cậu dự đoán. Bệnh viện mà vị linh mục làm tuyên uý lại là một bệnh viện tâm thần. Eymard phụ giúp những việc vặt, nhưng bởi vì công việc tuyên uý chỉ là một phần trong số những công việc của vị linh mục, cho nên dẫn tới kết quả là ông chẳng có thì giờ để dạy La Tinh cho Eymard như cậu mong ước. Cuối cng Eymard phải tự xoay nhờ vào tài khéo của mình.
Như mọi lần, sau khi làm xong các việc chung quanh khu nhà tâm thần, cậu thường mở cuốn sách văn phạm La Tinh cũ mà cậu đã nhặt được trong thư viện để học. Lúc đầu cậu thiếu niên mười bảy tuổi này còn cảm thấy hứng thú, nhưng chẳng bao lâu cậu chán ngấy với thời khoá biểu và cảm thấy hoàn toàn cô độc vì không có ai chia sẻ vui buồn và nhất là giúp cậu sửa những bài tập La Tinh. Môi trường của khu nhà tâm thần chẳng có gì làm cho tinh thần cậu phát triển. Eymard cảm thấy không hạnh phúc trong hoàn cảnh đó, nhưng động lực thúc đẩy cậu tiếp tục học La Tinh là vì để chuẩn bị cho việc làm linh mục trong tương lai. Eymard quyết tâm theo đuổi con đường tìm kiếm đó và xác tín rằng Thiên Chúa đã chọn gọi cậu bằng con đường như vậy để phục vụ Ngài. Cậu sẵn sàng hy sinh những thoải mái và cả những người bạn đồng hành để theo đuổi con đường đã chọn, con đường mà Cha Touche đã khẳng định và khích lệ cậu mấy năm trước lúc gặp cậu trong đền thờ Đức Mẹ Laus. Kỷ niệm êm đẹp đó luôn nâng đỡ Eymard và cậu thường sống lại những hồi ức này mỗi lần cầu nguyện.
Ngày kia, khi Eymard đi ngang qua văn phòng giám đốc bệnh viện, trông thấy cậu ông buột miệng la lên: “Này anh bạn, tôi nghe nói mẹ anh vừa mới qua đời.” Eymard không thể tin những lời vừa mới nghe vì cậu không hề được biết trước. Tin mẹ qua đời làm cho cậu chết điếng, toàn thân tê dại. Cậu chỉ còn biết vào trong nhà nguyện khóc cho vơi đi nỗi đau buồn. Kể từ giây phút đó Eymard nài xin Đức Mẹ làm mẹ thay cho mẹ của mình.
Eymard lập tức lên đường trở về nhà. Khi đến nơi, người ta đã chôn cất mẹ cậu xong rồi. Thế là cậu chẳng có cơ hội để nói lời từ biệt mẹ. Cha cậu ra đón cậu trong dòng lệ buồn thảm vì ông đã phải trải qua quá nhiều lần chôn cất những người thân yêu của mình. Bây giờ, Eymard biết rằng thật khó mà cha cho cậu ra đi trong lúc này. Thế là một lần nữa, cậu phải trở lại làm việc với cha trong nhà kho chứa dầu. Mặc dầu cả hai cha con cùng mang tang, nhưng chẳng ai chia sẻ cho ai. Mỗi người giữ lấy nỗi buồn cho riêng mình. Mặc d Eymard biết rằng việc cậu xin trở thành linh mục kể như chấm dứt từ đây, nhưng trong thâm tâm, cậu vẫn tin rằng việc theo đuổi mục đích của cậu mới chỉ tạm bị gián đoạn, chứ không phải bị hủy bỏ hoàn toàn.
Cuộc sống tiếp tục êm trôi nơi gia đình ông Eymard, với Giulianô Eymard, chị Marianne và chị Nanette. Tháng ngày dần qua và cha của Eymard quen với cuộc sống có cậu con trai ở bên cạnh, ông nghĩ rằng cậu con trai giờ đây đã thật lòng muốn làm hoà với ông và chấp  nhận tiếp tục nối gót cha mình. Nhưng ông vô cùng sửng sốt và buồn bã khi một đêm nọ, một linh mục Dòng Oblats, người đã có lần đến giảng tĩnh tâm Mùa Chay ở nhà thờ xứ, đến xin phép ông cho Eymard vào nhà tập của Dòng. Ông Eymard đã lấy hết sức để chiến đấu lần cuối mong giữ được đứa con trai ở bên cạnh mình. Tuy nhiên, cuối cùng thì ông hiểu rằng, trận chiến này đã quá dai dẳng và ông chẳng còn có cơ hội để thắng cuộc. Con trai của ông bây giờ đã mười tám tuổi, và cậu biết mình muốn gì. Cậu đã luôn ấp ủ giấc mộng, không thể có cách nào kháng cự lại tiếng gọi hiển nhiên này của Thiên Chúa. Chàng thanh niên có lý tưởng đã tỏ ra rất kiên trì, và còn hơn thế dám chấp nhận những đòi hỏi quá sức để đạt được ước muốn của mình. Cha của Eymard vẫn chưa nguôi được nỗi đau vì người vợ mới qua đời, giờ đây Chúa lại muốn ông dâng người con trai duy nhất của mình cho Chúa. Sự  tình là như thế.
Sau chuyến hành hương ngắn đến đền thờ Đức Mẹ Laus, Eymard trở về nhà để từ  biệt cha già và các chị. Vào ngày 7-6-1829, cậu khoác bộ tu phục của Dòng tại nhà tập ở Marseilles, niềm hạnh phúc trào dâng. Cậu tin rằng sau cùng mình cũng sẽ tiến tới thiên chức linh mục. Tuy nhiên khơng phải như thế là đã ổn, vì kế hoạch của Thiên Chúa lại hoàn toàn  khác với toan tính của con người.
Ở nhà tập chưa dầy 5 tháng, Eymard đã ngã bệnh. Lúc đầu cậu thấy đau đầu, rồi đột nhiên lên cơn đau bụng ghê gớm. Sau hai lần thử máu, bác sĩ không thể tìm ra nguyên nhân căn bệnh và cho rằng bệnh tình của cậu vô phương cứu chữa. Eymard được cho về nhà để chờ chết. Cậu được bó chặt lại và đặt trên một cỗ xe ngựa rong ruổi trên con đường trở về làng quê La Mure 250 cây số dài thăm thẳm, gập ghềnh giữa tuyết trời mùa đông.
Về đến nhà, trong tình trạng mệt lả và tuyệt vọng cậu đã nằm liệt giường. Cha cậu thì quẫn trí, còn các chị thì miệt mài chăm sóc cậu đêm ngày, dần dần sức khỏe của cậu có phần khả quan. Trong thời gian dưỡng bệnh, cậu đã học chơi vĩ cầm cho khuây khỏa, và vì thế, nhiều năm sau này trong những lúc căng thẳng cậu thường chơi đàn để thư giãn. Khi cậu bình phục thì sinh hoạt của gia đình cũng trở lại bình thường. Cậu bắt đầu tập đi lại chậm chậm và tự mình làm các việc cá nhân. Khi Eymard ở trong tình trạng thập tử nhất sinh, hai chị Marianne và Nanette đã chăm sóc cậu như người mẹ chăm sóc con mình. Chính sự chăm sóc quá đáng đó đã hình thành nên trong cậu một lối sống lệ thuộc, thiếu trưởng thành, mà sau này cậu đã phải chiến đấu rất nhiều để tự giải thoát mình khỏi nỗi ám ảnh đó.
Một hôm, cha của cậu đột nhiên ngã bệnh và tình trạng sức khỏe của ông sa sút mau lẹ. Eymard và các chị đã cố gắng chăm sóc người cha kính yêu trước đây rất khỏe mạnh mà nay đã ngã bệnh trong sự đau đớn đến tột cùng. Sức khỏe của ông mỗi ngày một suy sụp. Ngày 3-3-1831, ông đã vĩnh viễn ra đi trong vòng tay của người con trai, lúc đó ông được 65 tuổi. Nỗi buồn mất mẹ hai năm trước vẫn chưa nguôi ngoai, nay lại đến cái chết của cha, làm cho niềm đau nỗi buồn côi cút của Eymard và các chị Marianne, Nanette chất chồng khôn nguôi.
CUỘC HÀNH TRÌNH BẮT ĐẦU

“Hôm nay Thiên Chúa gọi tôi.

Ngày mai e rằng quá trễ.”


L.M  GIUSE TRẦN ĐÌNH LONG, SSS
 chuyển ngữ

Chủng Viện Và Làm Linh Mục
Sau cái chết của cha, Eymard đương nhiên thừa kế ngôi nhà và công việc buôn bán của gia đình, nhưng cậu chẳng màng chi những thứ đó. Điều mà cậu quan tâm là được tiếp tục việc học để làm linh mục. Thế là cậu giao tất cả mọi sự lại cho chị Marianne, lúc đó chị đã ba mươi hai tuổi.
Eymard đã nộp đơn xin gia nhập chủng viện giáo phận Grenoble, vì nghĩ rằng chương trình học của chủng viện giáo phận sẽ nhẹ hơn chương trình của dòng, và như thế sẽ đỡ hơn cho sức khỏe yếu ớt của cậu. Ban giám đốc chủng viện đòi phải có giấy giới thiệu của cha sở, vì cậu không theo các giai đoạn đào tạo thường lệ của chủng viện. Điều mà Eymard cho là vấn đề đơn giản thì lại biến thành nỗi trắc trở làm hỏng việc của cậu. Khi cậu trở về nhà xứ để xin giấy giới thiệu, thì cha sở không những tỏ ra vẻ mặt lạnh lùng, khó chịu mà còn nói rằng viết một lá thư như vậy phải mất nhiều thời gian suy nghĩ và cân nhắc, nên cha bảo cậu về nbà chờ rồi sẽ gửi thư đến sau. Từ sự việc như vậy, Eymard và các chị kết luận rằng giấy giới thiệu của cha sở sẽ chẳng có gì là thuận lợi, vì cha đâu cần phải mất quá nhiều thời gian để nhận xét một cậu thanh niên mà cha đã biết quá rõ về gia đình, hơn nữa, cha vừa làm lễ an táng cho cha mẹ của họ. Vì thế khi lá thư đến nhà, Eymard lập tức cho vào bếp lửa. Không có thư giới thiệu của cha sở, Eymard đành phải tự mình thử vận may.

      Đặt tất cả niềm phó thác nơi Thiên Chúa và nơi Đức Trinh Nữ Maria, cậu bắt đầu lên đường đến Grenoble để  vào chủng viện. Trên đường đi, cậu đã ghé vào viếng nhà thờ chính tòa ở gần chủng viện. Trong suốt thời gian cầu nguyện, cậu băn khoăn không biết mình đã hành động đúng hay sai khi hủy đi lá thư của cha sở. Cậu tự hỏi ban giám đốc có thể cứu xét đơn xin nhập chủng viện mà không cần thư giới thiệu của cha sở không? Cuộc hành trình dài của cậu đến chủng viện thật gian khổ và đầy thử thách. Phải chăng đây là trở ngại cuối cùng? Phải chăng cậu sẽ trở về nhà trên một chuyến xe ngựa khác cùng với giấc mộng vỡ tan thêm một lần nữa? Cậu đặt tất cả mọi sự dưới chân Đức Mẹ.
Rời nhà thờ chính tòa trong lòng đầy những lo lắng, nhưng cậu vẫn cương quyết không bỏ cuộc. Đang lầm lũi bước đi, cậu gặp Đức Giám Mục Mazenod, vị sáng lập Dòng Oblats, người đã nhận cậu vào nhà tập ở Marseilles hai năm trước. Ngài rất đỗi kinh ngạc khi gặp Eymard vẫn còn sống và lưu lạc một mình ở Grenoble. Eymard kể lại mọi sự đã xảy ra từ lúc còn ở Marseilles cho đến bây giờ cậu đang trên đường tìm đến chủng viện giáo phận. Sau khi nghe xong, Đức Cha mỉm cười và nói: “Nào, đi với cha, cha cũng đang trên đường đi đến đó. Cha sẽ kể cho chủng viện biết những điều không may đã xảy đến cho con.” Nhờ sự giới thiệu của vị Giám Mục, cậu đã được nhận vào chủng viện. Từ thâm tâm, cậu tin rằng chính Đức Mẹ đã nghe lời cầu xin của cậu.
Phêrô Eymard đã theo học các môn thần học ở Đại Chủng Viện Grenoble cùng với các chủng sinh khác có cùng một ý hướng như cậu. Cậu không tự ti vì mình chưa hoàn thành các môn học cơ bản trước, nhưng cậu cố gắng học hành chăm chỉ và đã đạt điểm trung bình trong các môn học. Cậu đã học để biết cách làm chủ chính mình và để kiềm chế những ý nghĩ muốn trổi vượt. Tự bản chất của người thành niên trẻ này đã có sự nhiệt tâm và tài khéo. Tuy nhiên, chính sự nhiệt tâm đó đã nhiều lần ảnh hưởng đến sức khỏe vốn yếu ớt của cậu, và vì thế mà cậu đã phải cố gắng chiến đấu và chịu đựng suốt cả cuộc đời. Nhưng ít ra, trong thời gian học ở chủng viện cậu đã cố sống quân bình trong việc học và nghỉ ngơi để không gây nguy hại cho việc lãnh tác vụ linh mục sau này vì nguy cơ chứng bệnh cũ có thể tái phát.
Sau ba năm được đào tạo về thần học và tâm linh, thầy Eymard đã được thụ phong linh mục vào ngày 20-7-1834 do Đức Cha Bruillard, Giám Mục giáo phận Grenoble truyền chức. Ngay sau ngày thụ phong, cha Eymard đã một mình đến đền thờ Đức Mẹ L’Osier cách thành phố 20 cây số về phía Tây Nam. Ngày hôm sau, nhằm ngày thứ ba, cha dng thnh lễ tạ ơn tại đền thờ Đức Mẹ. Nhiều người thắc mắc tại sao cha Eymard lại chọn nơi này để dâng lễ tạ ơn? Sở dĩ như vậy là vì đây là nơi mà hơn 10 năm trước, cha Eymard đã bắt đầu cuộc hành trình đi theo ơn gọi làm linh mục, lúc mà cha đã quỳ dưới chân Đức Mẹ và đã được cha Touche thừa sai Dòng Oblats khuyến khích, giúp cha tìm được con đường dấn thân dứt khoát.
Rõ ràng vì ân nghĩa ấy mà cha Eymard đã chọn Đền thờ Đức Mẹ L’Osier để cử hành thánh lễ đầu tiên. Đền thờ này được trao cho dòng Oblats coi sóc, và vị linh mục trước kia là cha giáo tập của Eymard ở Marseilles bây giờ lãnh bài sai đến đó cùng với một cha dòng Oblats khác trước kia cùng lớp tập sinh với Eymard. Cha Eymard quyết định đến L’Osier không chỉ với mục đích là khơi lại tình bạn hữu, hay vì thích nơi đó, nhưng mục đích là hy vọng được nhận lại vào dòng Oblats và mong được sự hỗ trợ của các bạn trong cộng đoàn. Cha Eymard không mời các chị của mình đến dự ngày lễ hôm đó vì cha cảm thấy chắc chắn mình khơng chống lại sự ni nỉ của các chị để trở về phục vụ tại giáo phận, và đương nhiên với nh mắt từ mẫu của các chị, họ sẽ biết ngay ý định cha muốn gia nhập dòng Oblats.
Nhiều tuần lễ trôi qua, cha Eymard không trở lại La Mure. Chị Marianne rất hiểu cha Eymard nên bắt đầu nghi ngờ về ý định của cha. Vì vậy chị đã viết thư cho Đức Giám Mục tỏ bày mối quan tâm của chị. Dĩ nhiên là vị Giám Mục chấp nhận ý nguyện của chị Marianne, vì chị luôn quan tâm đến sức khỏe mong manh của em trai mình. Ngày 23-8, một tháng sau ngày lễ tạ ơn, cha Eymard nhận được thư Đức Giám Mục gửi đến yêu cầu phải về nhà quê nghỉ một thời gian trước khi lãnh bài sai đi xứ.
Tuy nhiên, các bề trên dòng Oblats không có ý muốn nhận cha Eymard vào lại cộng đoàn. Thế là cha đành thu xếp hành trang trở về La Mure và chờ bài sai của Giám Mục. Cha Eymard đón nhận những biến cố xảy đến cho mình như là thánh ý Thiên Chúa. Cha ở nh cho đến tháng 10 thì Đức Giám Mục viết thư lại và đề nghị cha đến làm cha phó ở Chatte, một làng cách L’Osier không xa lắm. Cha Eymard đã đến nhận nhiệm sở mới để kịp cử hành thánh lễ trong nhà thờ xứ vào ngày Chúa Nhật 26-10.

Chatte và Monteynard
Chatte là một giáo xứ có khoảng 2000 dân, nằm về phía Nam của Grenoble gần với con sông Isere, dòng sông này đổ về phía Tây ra con sông Rhôn. Những người dân ở đó rất ngoan đạo. Là một linh mục mới được chịu chức, cha Eymard nhiệt tình làm tất cả mọi công việc mà cha xứ trao phó. Cha giảng dạy, giải tội, dạy giáo lý và cử hành thánh lễ thường xuyên tại bàn thờ Đức Mẹ. Những người làm chứng đã kể lại rằng họ thường gặp cha Eymard quỳ cầu nguyện lâu giờ trong nhà thờ và soạn bài giảng trước bàn thờ. Khi hướng dẫn giáo dân đi đàng thánh giá, cha Eymard thật sự bị xúc động. Thậm chí có một lần cha phải bước xuống khỏi bục giảng và không thể kết thúc buổi cầu nguyện.
Trong thời gian ở Chatte, sức khỏe của cha Eymard thật bấp bênh. Có nhiều lần cha bị bệnh liệt giường đến nỗi ho ra máu. Nhìn thấy tình trạng thể lý suy sụp của cha Eymard như vậy, người chị của cha xứ cũng là người làm bếp không muốn chứa chấp một người bệnh tật như cha trong nh. Cơ bếp e ngại cha Eymard đã bị chứng vim phổi mà cha đã một lần mắc phải lúc còn ở Marseilles và sau đó đã gần như trong cơn thập tử nhất sinh khi trở về La Mure. Cơ cũng sợ cha Eymard sẽ làm ô nhiễm chiếc giường mà cha đang sử dụng. Cha sở khơng thể chịu nổi sự m nheo lin tục của cơ bếp, v rốt cuộc bị p lực phải giải quyết vấn đề l chiều theo ý cơ ta. Thế là sau hai năm rưỡi lm cha phĩ xứ Chatte, cha Eymard đã nhận được bài sai của giám mục vào tháng 7 - 1837 để làm cha sở của một nhà thờ nhỏ cách La Mure không xa. Trong thư, Đức Giám Mục viết :
“Cha sở La Mure yêu cầu tôi bổ nhiệm cha về xứ Monteynard. Tôi đã đồng ý với thỉnh nguyện đó. Cha thân mến, hy coi sức khỏe của cha cĩ gì trở ngại khơng? Khí hậu ở đó không lạnh như ở La Mure, và tôi nghĩ rằng chị của cha sẽ có dịp đến để chăm sóc sức khỏe cho cha. Nếu cha chấp nhận việc thuyên chuyển này, hãy đi thông báo cho cha sở Chatte rằng sẽ có người khác thay thế cha ngay.”
Cc b chị của cha Eymard luôn quan tâm đến tình trạng sức khỏe yếu ớt của em trai mình. Chính họ đã chủ đđộng giật giây với cha sở xin Đức Giám Mục bổ nhiệm em mình về gần nhà để có thể săn sóc sức khỏe cho em. Ngày 2-7 nhận được bài sai của giám mục, cha Eymard thu xếp hành trang chuẩn bị lên đường. Cha trở về La Mure, sau đó đi tĩnh tâm ít ngày tại đền thờ Đức Mẹ Laus, trước khi đến nhiệm sở mới ở Monteynard vào ngày cuối tháng.

Cha Sở
Vừa đến Monteynard cha Eymard đã được giáo dân đón tiếp thật nồng nhiệt. Cách La Mure hơn 10 cây số về phía Bắc, Monteynard là một giáo xứ nhỏ nằm vắt vẻo trên sườn đồi với một quang cảnh thật đẹp nhìn xuống thung lũng phì nhiêu phía dưới với con sông Drac uốn khúc chảy ngang qua. Vo lc đó, xứ Monteynard có khoảng 450 gio dn, và từ lâu họ đã không có cha sở. Nhà thờ thì đổ nát, cho nên cha xứ mới về liền bắt tay vào công việc trùng tu. Cha Eymarđ viết thư xin những người bạn ở Grenoble giúp đỡ. Nhờ sự giúp đỡ của họ, cha đã mua được những bộ áo lễ mới và các đồ dùng trong nhà thờ, trong đó có cả một cái chuông. Nhờ lòng hảo tâm của các đan sĩ dòng Thnh Brunơ ở Grand Chartreuse gần Grenoble, cha đã có thể thay bàn thờ chính bằng một bàn thờ gỗ sơn son thiếp vàng. Cha Eymard cũng mua được một tượng Đức Mẹ của cha xứ cũ của mình ở La Mure với giá rẻ. Cha đ gy một ấn tượng khó phai trong lịng gio dn ở đó. Còn hai b chị của cha Eymard lo thu xếp việc quản gia trong nhà xứ, họ mang đến từ nhà ring của họ tất cả những đồ dùng cần thiết.
Trong thời gian phục vụ tại xứ Chatte, cha Eymard tiếp tục sống hết sức quảng đại, giúp đỡ người nghèo bằng tiền mà cha có được, cũng như bằng số tiền buơn bn tạp phẩm m các chị nghĩ rằng đ cất dấu an toàn cũng không thoát khỏi tay cha. Họ trách móc cha Eymard đã cho những người hnh khất lang thang  trước cửa nhà xứ cả những quần áo họ còn đang sử dụng. Nhiều lần, họ thấy đồ ăn mà họ để dành cho bữa sau cũng bị mất sạch.
Cha Eymard thích đi thăm các bệnh nhân và thăm hỏi bệnh tình của họ. Cha cũng có một chút ít kiến thức về y khoa nên thường chỉ cho những người ham học hỏi cách thức nhận ra và sử dụng những dược thảo tại địa phương ny.
Có một lần cha Eymard giúp một người câm điếc chuẩn bị rước lễ lần đầu. Rất nhạy bén trong việc tông đồ, vì thế cha thường giúp đỡ những người đàn ông lao động vất vả suốt ngày bằng cách kêu mời họ đến xưng tội tại nhà xứ vào buổi tối. Thậm chí có người ở lại mãi đến 9 hay 10 giờ đêm. Những lúc mệt mỏi sau công việc mục vụ, cha thường chơi vĩ cầm hoặc ht thuốc để thư gin.
Cha Eymard cũng đã giúp cho một đôi bạn chưa cưới đang sống trong một túp lều lụp xụp có được mái nhà tương đối tươm tất. Cha cũng dành riêng một nhà nguyện nhỏ ở tận phía Bắc của ngôi làng để giúp cho những người sống cách xa trung tâm thị trấn có thể đến tham dự phụng vụ gần hơn thay vì phải đến nhà thờ xứ. Cha tổ chức phụng vụ ở nhà nguyện nhỏ này đặc biệt trong suốt mùa chay, và việc tôn sùng Đức Mẹ trong cả tháng năm. Gio dân xứ Monteynard rất yêu quí cha xứ, và cha cảm thấy hạnh phúc được sống ở giữa họ. Một công việc mục vụ mà cha ưa thích nhất đó là chương trình dạy giáo lý cho trẻ em bằng cách kể những mẩu chuyện kinh thánh mà chúng rất say mê nghe, đồng thời cũng giới thiệu những bài gio lý quan trọng cho những người lớn đi theo cc em.
Người ta tưởng cha Eymard đã yên phận làm một cha sở giữa đoàn chiên mới hồi sinh, cho đến một hôm nọ, cha Touche là bạn cũ và cũng là cha giải tội cho cha Eymard từ đền thờ Đức Mẹ Laus đến và kể cho cha về một cộng đoàn tu mới sắp được thành lập mang tên là Dòng Đức Mẹ. Nguồn tin đó làm cho cha bừng phấn khởi. Sau hai lần thất bại với Dòng Oblats, giờ đây giấc mơ được gia nhập đời sống tu dòng như được hâm nóng lại. Cha Eymard không muốn để lỡ cơ hội. Cha liền đi Lyons để gặp cha Colin, là bề trên và là người sáng lập dòng Đức Mẹ. Trên đường trở lại Monteynard, cha Eymard viết cho Đức Cha Bruillard xin phép được nghỉ công việc của giáo phận để có thể gia nhập dòng tu mới này. Trong khi chờ đợi thư trả lời của giám mục, cha Eymard viết cho một người bạn là cha Dumolard, lá thư đề ngày 4-10-1838:
Bây giờ tôi tin tưởng vào ơn gọi của mình và dường như không có điều gì sẽ ngăn cản tôi. Ít nhất đã hai lần tôi quyết định dâng hiến nhưng không thành. Lần thứ ba tôi hy vọng là sẽ thành công. Cho dù tôi biết rằng mình có thể chết giữa đường, tôi vẫn thấy hạnh phúc biết bao. Cho dù tôi chẳng được lợi lộc gì từ đó, ngoại trừ đuợc kết nghĩa huynh đệ với anh: được chết trong nhà dòng.”
Tiếp đó là thư trả lời của giám mục:
Người anh em yêu quí, tôi tin rằng Thiên Chúa nhân lành muốn cha phục vụ trong giáo phận của tôi dưới sự bảo trợ của thánh Phanxico Regis. Hãy suy nghĩ kỹ, cầu nguyện với lòng khiêm tốn, và xa rời thế gian để chỉ dành cho công việc quan trọng là vinh quang Thiên Chúa. Cha nhớ giữ sức khỏe. Công việc truyền giáo đòi chúng ta phải có một tâm hồn quảng đại và thể lực tốt để phục vụ.”
Vị giám mục cứ nhấn mạnh mãi với cha Eymard rằng nếu muốn làm công việc truyền giáo, cha có thể hoạt động ở ngay trong giáo phận. Trong khi đó, cha Colin lại viết cho cha Eymard: “Tôi chấp nhận thỉnh nguyện của cha, và coi như cha đã vào nhà tập.”
Bây giờ cha Eymard ở trong tình thế khó xử, không biết phải làm thế nào. Cha muốn gia nhập dòng Đức Mẹ nhưng giám mục lại không tha cho cha khỏi công việc giáo phận. Cha không muốn tỏ ra bướng bỉnh với bề trên của mình, tuy nhiên ơn gọi của đời sống tu dòng quá mạnh và cha không thể chống lại sức thu hút đó. Trong khi đó ngày 4-5 cha Colin lại viết cho cha Eymard :
Những trở ngại mà Thiên Chúa cho phép xảy ra càng gây đau khổ cho cha bao nhiêu, thì nó cũng làm cho cha thêm mạnh mẽ bấy nhiêu để giải quyết vấn đề... Cứ kiên nhẫn xin giám mục nữa đi. Thiên Chúa sẽ nghe cha mà.”
Trước khi hành động theo lời khuyên này, cha Eymard đã khôn ngoan chuẩn bị bằng cách xin cha phó tổng quyền can thiệp. Sau đó cha viết cho Đức Giám Mục:
Xin Đức Cha hy sinh dâng người con linh mục hèn mọn này cho Dòng Đức Mẹ như của lễ đầu tiên của giáo phận, vì nó chẳng có ích gì cho Đức Cha và lại còn yếu ớt như cây sậy. Chắc Đức Trinh Nữ sẽ vui lòng chấp nhận của lễ còm cõi và vô dụng này.”
Ngày 4-7 Đức Giám Mục Bruillard trả lời :
 “Cuộc thử thách đã đủ rồi. Hãy đi theo con đường mà Thiên Chúa đã gọi Cha, và ở đó hãy làm việc để thánh hóa chính bản thân và người khác nữa. Tôi sẽ tìm người thay thế Cha.”
Trong khi đó, nghĩ rằng cậu em trai mình đang chuẩn bị lên đường thi hành công việc truyền giáo của giáo phận cho nên chị Marianne đã vội vã đi Grenoble xin giám mục đừng sai em trai mình đi, nhưng vị giám mục giải thích rằng sự việc không phải như thế. Thực ra nó còn tệ hơn chị nghĩ. Lúc chị Marianne có mặt ở Grenoble thì cha Eymard đang chuẩn bị đón tiếp người thay thế mình. Vị đó sẽ đến vào tối ngày Chúa Nhật 18-8. Không một ai ở Monteynard biết kế hoạch ra đi của cha Eymard. Cha cố ý dàn xếp mọi chuyện cách âm thầm để cuộc ra đi không ai biết được.
Để tránh cảnh chia ly buồn thương chắc chắn sẽ không tránh khỏi, cha Eymard nhờ một người nhạc công đến chơi đàn ngay lối vào nhà thờ sau thánh lễ chủ nhật để thu hút sự chú ý của mọi người, và nhờ vậy cha Eymard có thể trốn đi khỏi thị trấn. Cha Eymard đã lợi dụng lúc chị gái vắng nhà để thu xếp hành trang và mang nó ra khỏi nhà thờ đêm hôm trước. Nhờ thế mà ngay sau thánh lễ, cha đi vào nhà xứ và từ đó theo cửa sau đón xe ngựa đi thẳng lên Grenoble để thăm vị giám mục lần cuối.
Trên đường đi, bất ngờ cha đã gặp chị Marianne và mấy người bạn đang trên đường trở về từ Grenoble. Chị đã nghe vị giám mục kể hết sự tình cho nên chẳng còn biết làm gì hơn là năn nỉ em trai mình nán ở lại với chị ít nhất là một ngày nữa. Thế nhưng cha Eymard chỉ đáp lại lời năn nỉ đó bằng một câu làm chị cảm thấy rất đau khổ: “Chị à, hôm nay Thiên Chúa gọi em. Ngày mai e rằng quá trễ. Chị Marianne ngất lịm đi trong cánh tay của người bạn khi nhìn thấy em trai mình tránh sang một bên và vượt lên phía trước để bước lên xe và không hề liếc nhìn lại, không nói thêm một lời. Cha Eymard phải làm như thế vì sợ mình bị xúc động, không đủ can đảm để dứt khoát thực hiện quyết định của mình. Những năm sau này, một người bạn của cha Eymard, cha Mayet kể lại rằng cuộc chia tay hôm ấy làm cho cha Eymard quá đau đớn đến nỗi cha phải cố nén xúc động để bước lên xe.
Ngay hôm sau, từ Grenoble, cha Eymard viết cho chị:
 “Đức giám mục đã khuyên em ra đi như vậy để tránh khơi lên nỗi buồn đau cho chị, và khỏi phải chứng kiến những giọt nước mắt tiễn đưa của giáo dân Monteynard. Em đã không dấu giếm tình cảm của em đối với chị nhưng nếu em trở lại Monteynard có thể em sẽ ngã bệnh, hoặc rủi em sẽ đánh mất ơn gọi của mình. Xin cho thánh ý Thiên Chúa được thể hiện. Nếu như cái chết đang chờ đợi em, cả chị và em sẽ có cùng một công trạng… Việc chị chia sẻ những hy sinh với em thật là cần thiết, như Đức Mẹ đã chia sẻ hy sinh với Chúa Giêsu vậy. Nguyện danh Chúa được chúc tụng. Chị đừng có khóc nữa nhé.”
Những người giáo dân Monteynard kiên quyết đấu tranh để đòi cha xứ của mình trở lại. Họ làm đơn gửi cho giám mục và thậm chí còn cử người đại diện lên tận Lyons để thuyết phục cha Eymard trở về với họ. Vị giám mục khẳng định với giáo dân Monteynard rằng nếu họ có thể thuyết phục được cha Eymard trở về với họ, thì đích thân giám mục sẽ đến tiếp đón cha tại giáo xứ. Tuy nhiên, chẳng bao lâu họ nhận ra rằng không gì có thể lay chuyển được ý định của cha Eymard.
Những người đại diện giáo dân xứ Monteynard đã đến gặp cha Eymard tại nhà tập ở Lyons. Cha rất ngạc nhiên khi gặp họ, và xúc động khi họ bày tỏ tình cảm, nhất mực nài ép cha trở về làm cha sở của họ. Những tình cảm đơn sơ chân thành đó làm cha Eymard xúc động mãnh liệt và bị lung lay. Tuy nhiên cha cố gắng giải thích cho họ hiểu rằng Thiên Chúa gọi cha ra đi cho nên cha phải trung thành với ơn gọi đó,  vì vậy cha không thể về với họ được.
Trong lòng tràn ngập thất vọng buồn chán, những người đại diện đành quay trở về Monteynard và giải thích cho những người giáo dân rằng hình như Chúa đối xử không công bằng với họ. Đã từ lâu họ không có linh mục thế rồi Chúa gửi cha Eymard đến với họ để quan tâm chăm sóc họ, lắng nghe họ, giải tội cho họ. Họ đã quá gắn bó với cha Eymard, thế mà giờ đây Chúa nỡ lòng giật cha ra khỏi tay họ. Họ lại bị mồ côi, nhưng họ biết lần này mình hoàn toàn không giống như trước, vì cha Eymard đã đi vào cuộc sống của họ, đã chỉ cho họ thấy được tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa trong suốt thời gian cha sống và làm việc với họ.
CUỘC HÀNH TRÌNH TIẾP TỤC

“Đời tôi như dòng nước lũ chảy mạnh và cuồn cuộn.”
Ơn Gọi Làm Tu Sĩ  Dòng Đức Mẹ (1839-1855)
Ngày thứ ba 20-8-1839 cha Eymard bắt đầu vào nhà tập dưới sự hướng dẫn của cha tập sư Phêrô Colin, là anh của đấng sáng lập dòng này. Cha đã tham dự cuộc tĩnh tâm năm cùng với 40 thành viên của cộng đoàn Maria dưới sự hướng dẫn của cha Gioan Claude Colin, bề trên sáng lập dòng. Trong lá thư viết cho một người bạn, cha Eymard bày tỏ cảm xúc như sau: “Tôi ở đây hai tháng mà tưởng như mới được hai ngày. Tôi cảm thấy hài lòng ngay khi vừa đến đây. Cuối cùng, tôi cũng đến được nơi tôi muốn.” Cuối tháng 11, trong khi vẫn còn là tập sinh, cha Eymard đã được gửi tới làm linh hướng cho trường trung học Đức Mẹ tại Belley. Tháng 2-1840 cha khấn lần đầu tại nhà nguyện Dòng Đức Mẹ và được giữ lại để lo công tác đào tạo tại trường trung học Belley.

 
Cuộc ra đi bất ngờ khỏi giáo xứ Monteynard của cha Eymard đã làm tổn thương mối liên hệ tình cảm giữa cha với các chị. Họ cảm thấy đau đớn, không thể hiểu nổi cách đối xử của cậu em trai mình. Cha Eymard cố gắng chuộc lại những tổn thương tình cảm do cha gây ra bằng cách viết thư cho một người bạn là cha Brun xin vị linh mục ấy đến thăm và an ủi các chị, thế nhưng nỗi đau vẫn còn dai dẳng. Vào ngày 6-9, hai tuần lễ kể từ khi vào nhà tập, cha Eymard viết cho các chị, và nói rằng sự hy sinh của các chị còn lớn hơn cả sự hy sinh của cha khi phải lìa bỏ các chị và những người giáo dân Monteynard. Tuy nhiên, các chị vẫn không hề xúc động trước những lời năn nỉ của cha, vì vậy trong một thời gian dài họ không viết thư trả lời cha. Đến tháng tám năm sau, cha Eymard lại viết thư xin các chị hồi âm, và cũng nói cho các chị biết cha quyết định không về thăm họ vì sợ sẽ khơi dậy tất cả những nỗi đau buồn cũ. Dĩ nhiên là với thời gian, vết thương lòng ấy sẽ dần dần được chữa lành nhưng cũng để lại vết thẹo không dễ nhanh chóng phai mờ.
Trong thời gian này, cha Eymard chú tâm vào các bổn phận thiêng liêng trong ơn gọi mới và dành nhiều thời gian cho đời sống cầu nguyện. Trong nhật ký thiêng liêng, cha  viết: “Chúa cho tôi biết rằng tôi đã cầu nguyện không hết lòng, tôi đã lý luận quá nhiều; và tôi muốn mình được dẫn dắt trong sự an toàn như một em bé để chỉ làm những điều tốt mà tôi biết, lúc này và ngay tức khắc, không có gì hơn.” Chính trong việc cầu nguyện, cha đã tìm thấy niềm an ủi mà cha đã kiếm tìm nơi các chị của mình: “Sáng nay, Chúa đã ban cho tôi một niềm vui trong lúc cám ơn sau thánh lễ. Chúa hỏi tôi cách cương quyết nhưng thật trìu mến: “Con có ngại trao phó bản thân cho cha, để cha lo lắng cho tương lai của con không?“ Từ đó cha Eymard đã tìm được sức mạnh để tiếp tục con đường dâng hiến.
Một lần nữa, sức khỏe của cha Eymard lại rơi vào tình trạng tệ hại như trước kia. Lần này, cha bị chứng viêm phổi trầm trọng. Cha Colin đã đến bên cạnh bệnh nhân và quả quyết rằng cha Eymard sẽ không chết, vì nếu cha Eymard chết, căn bệnh đó cũng sẽ lấy luôn sinh mạng của cha Colin. Nhưng cuối cùng, chẳng có ai chết non cả. Cha Eymard đã bình phục và cha Colin còn sống thọ hơn cha Eymard nữa.

Bề Trên Tỉnh
 Những lúc rảnh rang, cha Eymard thường chơi vĩ cầm hoặc đàn pianô những khúc nhạc quân hành. Tháng 11-1844 cha Collin đề cử cha Eymard giữ chức vụ Bề Trên tỉnh, và với nhiệm vụ mới này cha phải bỏ trường trung học Belley và chuyển về Lyons đến nhà mẹ gọi là Puylata. Nhiệm vụ mới này không để cha có thì giờ nghỉ ngơi thư giãn chơi đàn như thói quen lúc còn làm linh hướng ở trường trung học. Cha phải đảm trách bao nhiêu việc, và thường phàn nàn rằng sao ngày lại ngắn thế: “Là Bề Trên tỉnh, tôi có trách nhiệm với các cộng đoàn ở Pháp và ở nước ngoài, và đối với tôi mặt trời đi ngủ sớm quá.”
Một lần, trong tư cách Bề Trên tỉnh, cha Eymard đến miền Bắc Le Havre để chủ tọa buổi lễ sai 13 tu sĩ dòng Đức Mẹ đi truyền giáo ở khu vực Thái Bình Dương. Cha Eymard bày tỏ lòng ước ao mãnh liệt muốn đi theo những tu sĩ này: 
“Hạnh phúc biết bao nếu tôi được đi truyền giáo ở nước ngoài, dù ở đó tôi không làm được những việc gì lớn lao. Chí ít tôi có thể dâng lên Thiên Chúa sự hy sinh trọn vẹn bản thân mình – quê hương, họ hàng, bạn bè, người quen biết, tiếng mẹ đẻ của mình và những điều tôi đã học được. Tôi phải bỏ lại và bắt đầu mọi sự từ đầu… Giây phút vinh dự biết chừng nào khi một người chân này còn trên đất liền, chân kia đã ở trên thuyền sắp sửa rời bỏ mọi sự phía sau và hy sinh tất cả, hiến dâng chính bản thân cho một mình Thiên Chúa. Đó chính là chết đi. Điều ấy làm cho lòng tôi tràn ngập niềm vui.”
Thầy Mayer là bạn đồng liêu nhận xét rằng cha Eymard rất có lòng nhiệt thành truyền giáo; tuy nhiên, Thiên Chúa không bao giờ cho phép cha thực hiện ước mơ ấy. Sức khỏe của cha không kham nổi những khó khăn của cuộc đời truyền giáo. Với thể trạng yếu như vậy cha chỉ đủ sức chịu đựng những mùa đông ở Pháp. Về khía cạnh này, cha không cần phải cho rằng công việc truyền giáo ở hải ngoại mới là một việc nặng nhọc và hy sinh, vì trong thực tế cha đã luôn luôn dấn thân phục vụ đến cạn kiệt sức khỏe yếu ớt của mình rồi. Sau hai năm làm Bề Trên tỉnh, cha Colin giao cho cha Eymard chức vụ Tổng Kinh Lý với nhiều trách nhiệm nặng nề mới.


       Trong suốt mấy năm sau đó, cha Eymard liên tục đi kinh lý nhiều cộng đoàn dòng Đức Mẹ ở Pháp. Cha cũng thường được mời giảng Mùa Chay cho những nhà thờ trong vùng. Rõ ràng tuy nhận trách nhiệm điều hành nhưng nhiệt tình tông đồ của cha không hề suy giảm. Cha được nhiều người biết đến không chỉ vì việc giảng dạy có hiệu quả nhưng còn vì cách thức cha giúp đỡ mọi người.
        Một lần kia khi đi thăm bệnh viện, cha lại bên một cụ già thường khoe mình quen biết Napoléon, và đã từng là một người lính đánh trống trong quân đội của Napoléon. Cha chú ý nghe ông ta nói, và chợt nhớ lại “thành tích” đánh trống của chính mình khi còn ở trường trung học Belley. Thời đó cha hay đi tới đi lui hành lang của hội trường, vừa đi vừa đánh trống để giúp các bạn giải khuây xua đi nỗi buồn. Phêrô Giulianô nói với người lính già: “Tôi cũng là một tay trống.” Người lính già đáp lại:“Hay thật! một linh mục đánh trống.”  Vị linh mục hỏi: “Ông biết đánh bao nhiêu hành khúc?” Người lính nhanh nhẩu thưa: “Mười bốn.” Phêrô Giulianô đáp lại: “Tốt quá, thế thì cụ hơn tôi, tôi chỉ biết có mười thôi.”
        Từ đó, hai người thường chia sẻ với nhau những câu chuyện về hoàng đế Napoléon và cha Phêrô Giulianô kể lại cho người lính già cách nào cha đã thấy hoàng đế đi bộ qua làng La Mure khi ông từ chỗ lưu đày trở về. Rồi với sự khéo léo, cha lái câu chuyện về cuộc lưu đày cuối cùng của Napoléon ở đảo St. Helena và tế nhị thuật lại việc hoàng đế hoán cải. Nghe đến đó, dòng lệ thống hối chảy dài xuống những nếp nhăn trên khuôn mặt già nua, người lính già xưng tội, và theo gương vị anh hùng của mình, ông cũng đã hoán cải.
        Bạo lực và những xáo trộn xảy ra khắp nơi trên nước Pháp trong thời kỳ cuộc cách mạng 1848. Ở Lyons, những biến động xã hội và chính trị được cảm nhận một cách sâu sắc. Ngành công nghiệp tơ lụa bị tác động xấu do nạn thất nghiệp cao và thường xuyên phải ngừng hoạt động. Một vài cộng đoàn tu quan tâm đến số người thất nghiệp đông đúc ấy, và đã góp phần giải quyết vấn đề xã hội này bằng cách thành lập các xưởng tơ lụa để các công nhân nghiệp dư nghèo kiếm được tiền lương mỗi ngày. Thế nhưng những công nhân chuyên ngành tơ lụa nhận thấy nỗ lực đóng góp  của các dòng tu như là cách làm suy giảm công việc của họ bằng việc cung cấp những lao động tiền công rẻ. Họ giận điên lên và kéo nhau đi phá phách các cửa hiệu mới mở ra trong một số tu viện. Bạo động nổ ra gây cảnh hỗn loạn về kinh tế và lan rộng khắp thành phố.
        Các cộng đoàn tu với những ngôi nhà rộng lớn và có nhiều tài sản đã trở thành mục tiêu của những vụ phá hoại. Nguy hiểm rình rập các tu sĩ còn trầm trọng hơn bởi sắc lệnh của Chính Phủ Lâm Thời ban hành tháng ba năm ấy đặt các dòng tu ra ngoài vòng pháp luật. Hậu quả của hành động ấy là các bề trên dòng phải đóng cửa nhà tập và bỏ trống các tu viện. Những thành viên tu viện được gởi trả về nhà hoặc các giáo xứ địa phương cho đến khi mọi biến động lắng dịu.
        Ở nhà chính dòng Đức Mẹ, một ít linh mục quyết định ở lại, trong số đó có cha Eymard. Một ngày kia trong lúc đi dạo dọc theo các con phố, cha rơi vào tay những kẻ gây rối. Khi nhận ra đó là một linh mục, họ gào lên: “Đây là một người thuộc nhóm các linh mục đó. Chúng ta hãy ném ông ta xuống sông.” Đám đông điên cuồng vì bị kích động tưởng sẽ tìm được sự thỏa mãn khi làm nhục một người mà họ cho là đại diện những kẻ đã phản bội họ. Họ tóm lấy cha và trước khi kịp quăng cha xuống sông để thỏa mãn lòng căm tức của ho, may mắn thay một người trong đám đông hét to: “Không, không, ông này không phải là các linh mục ấy! Đây là cha Eymard, là người bạn của các công nhân.” Một  phút lưỡng lự trôi qua, tiếng gào thét ngừng lại. Cha Eymard nhận thấy những cặp mắt nhìn đăm đăm vào mình, và những cái đầu chậm rãi gật gù vì đã nhận ra cha là bạn của họ, nhờ đó cha thoát nạn!
        Đám đông này không thả cha ra, nhưng đổi hướng, từ bờ sông họ bắt đầu đi ngược lên nhà chính của dòng, giờ đây những lời nhạo báng thành những lời hoan hô. Họ tháp tùng cha về tu viện, vừa đi vừa hát những bài ca “cách mạng”. Khi đặt cha ở ngưỡng cửa tu viện, họ hứa bảo đảm sự an toàn cho cha và cho các linh mục khác trong dòng với việc treo cờ tam tài trước cổng tu viện.
        Ít ngày sau, khi đã được hồi phục từ sự cố ấy rồi, cha lại can đảm ra phố, lần này cha tìm gặp đám đông đang làm việc trên công trường và cám ơn họ đã bảo vệ cha. Cha Eymard viết về sự cố ấy cho người chị:
           “Em nghe nói chị lo lắng vì những biến cố xảy ra ở Lyons và xảy ra cho em, nhưng xin chị yên tâm vì em luôn được bình an; em chưa bao giờ gặp nguy hiểm. Em và các bạn còn được cấp cho một lính gác trước cổng nhà, và chúng em có thể ra ngoài trong chiếc áo dòng mà không sợ sự cố gì.”

         Điều kiện thể chất của cha Eymard tiếp tục cần được theo dõi. Công việc thường tác động đến sức khỏe của cha. Cha nói với các chị của mình: “Em không ngờ thời gian trôi đi nhanh quá, mỗi đêm em tự hỏi làm sao em có thể làm được một việc nào đó. Chứng đau đầu của em bắt đầu trở lại, và có lúc em bị nó hành hạ. Các chị biết đấy, thực tế không có thuốc gì trị dứt nó được.” Do những cuộc giao tranh năm 1848, dường như một bên tai của cha đã bị tổn thương vì tiếng đại bác nổ. Qua nhiều năm, tổn thương ấy càng trầm trọng và sau cùng cha hoàn toàn bị điếc bên tai ấy. 
       Những tháng đầu năm 1849, công việc lần đầu tiên đưa cha đến Paris. Ở đó làm việc trong nhà dòng Đức Mẹ nhưng cha cũng nhân cơ hội ấy đi thăm cung điện Versailles đã mở cửa cho công chúng vào xem sau vụ hành quyết vua Louis XVI. Giống như phần lớn các giáo sĩ, trong và sau thời kỳ cách mạng, cha luôn có thiện cảm với phái bảo hoàng, nhưng đồng thời cảm thấy đau buồn vì có quá nhiều người nghèo và điều kiện sống của giai cấp công nhân thật tồi tệ. Vì thế người ta không có gì ngạc nhiên khi thấy cha quỳ gối cầu nguyện ngay tại nơi vua Louis XVI bị hành quyết, và sau này cha kể lại ngày hôm đó cha đã buồn bã và cầu nguyện thế nào cho “vua thánh Louis XVI”. Cũng trong thời gian đi thăm Paris, lần đầu tiên cha gặp gỡ Raymond de Cuers là người sau này đã cùng cha chia sẻ cơn đau sinh nở ra cộng đoàn mới để tôn sùng Thánh Thể. De Cuers sống ở Paris với nhạc sĩ dương cầm Hermann Cohen mới trở lại đạo, cả hai đều tham gia Hội Chầu Đêm, một tổ chức có mục đích động viên việc cầu nguyện ban đêm trước Thánh Thể. Cha Eymard thật cảm động khi chứng kiến việc thực hành và tôn sùng Thánh Thể ở Paris.
        Năm sau, cha được đề cử đứng ra xin phép tổng giáo phận Lyons cho một nhóm giáo dân muốn thành lập một tổ chức chầu đêm trong thành phố ấy. Một năm sau cha chủ động đến gặp và mời Mẹ Dubouché thuộc Dòng Ba các chị em phạt tạ thiết lập cộng đoàn tại Lyons. Ngày 29 tháng 1 năm 1851, cha Eymard khánh thành hội dòng mới thành lập này ở Lyons và cung hiến hội dòng cho Thánh Thể trong thánh lễ cử hành ngay trong nhà nguyện của họ.

FOURVIÈRE
        Ngày 21 tháng giêng, cha Eymard đã có một kinh nghiệm tôn giáo trong đền Đức Bà Fourvière ở Lyons. Từ thời điểm đó, cha bắt đầu theo đuổi một ý tưởng mà ít lâu nay cha đã quan tâm: đó là thành lập một nhóm người nam chuyên tâm lo việc chầu Thánh Thể như Mẹ Dubouché đã làm cho nữ giới. Cha đã cầu nguyện cho dự án này trong một thời gian khá dài. Cha phác họa ý tưởng ấy trong một bức thư trình bày dự án cho cha Colin, đề ngày 3 tháng 2 năm 1851: 
“Sau khi suy nghĩ kỹ, cầu nguyện nhiều và nghe những lời khuyên bảo, cuối cùng tôi quyết định bày tỏ với cha một suy nghĩ mà tôi đã chống lại lâu nay; suy nghĩ ấy luôn theo đuổi tôi, trách cứ tôi cứ giả điếc trước tiếng gọi của Thiên Chúa. Đó là một ngày nọ ở Fourvière (21 tháng 1) tôi đã bị tác động mạnh mẽ bởi ý nghĩ:...”
  Bức thư tiếp tục thuật lại mối quan tâm sâu xa của cha đối với nhu cầu phát triển dân Chúa, và Thánh Thể có thể đáp ứng cách hiệu quả cho những nhu cầu ấy như thế nào. Nhận thức sâu sắc của cha đối với Thánh Thể ngày càng tăng cùng với tính mẫn cảm trong việc tông đồ càng làm nổi bật những lý do phải thành lập một nhóm người chuyên tâm chầu Thánh Thể. Đó chính là lời giải đáp cho những thực trạng tôn giáo sau đây mà cha nhận thấy cần phải có một giải pháp: (1) Sự thờ ơ về tâm linh của các linh mục triều; (2) Giáo dân thiếu sự hướng dẫn về tâm linh; (3) Thiếu lòng sùng kính Thánh Thể và có sự xúc phạm đến Thánh Thể. Ý tưởng thành lập một nhóm người để phục vụ Thánh Thể được thúc đẩy mạnh mẽ bởi những lo lắng về việc tông đồ vì cha Eymard nhận thấy Thánh Thể chính là phương tiện hiệu quả nhất đáp ứng đầy đủ nhu cầu tâm linh của giáo sĩ và giáo dân. Cha cũng nhấn mạnh rằng Thánh Thể phải được thờ phượng và trở thành nguồn sức mạnh cho việc phát triển tâm linh con người.


 Dòng Ba Đức Mẹ
        Cho đến thời điểm ấy, cha Eymard luôn hoạt động tích cực cho Dòng Ba Đức Mẹ mà cha Colin đã giao phó cho cha. Đó là một nhóm giáo dân liên kết và cùng chia sẻ linh đạo với Cộng Đoàn Đức Mẹ. Cha Eymard nhận trách nhiệm với thái độ rất nghiêm túc. Mối quan tâm và dự kiến của cha về sự phát triển Dòng Ba bao gồm việc thành lập những nhóm riêng biệt cho các ông đã lập gia đình, các ông sống độc thân, cho các phụ nữ. Cha dành phần lớn thời gian cho việc phát triển tâm linh của mỗi nhóm với các cuộc họp hàng tháng.
        Cha cũng nhiệt tình chăm lo cho sự tiến bộ tâm linh của các thành viên trong Dòng Ba Đức Mẹ mà cha đã xin được sự chấp thuận chính thức của Rô-ma. Đức Giáo Hoàng Pi-ô IX đã chính thức phê chuẩn Dòng Ba này. Cha Eymard rất vui mừng trước tin ấy, nhưng hết sức bối rối khi trình bày “sự việc đã rồi” cho cha Colin, Bề Trên Tổng Quyền. Cha Colin tức giận vì “sáng kiến” của cha Eymard đã xin sự phê chuẩn của Đức Thánh Cha mà không cho mình biết hoặc xin phép mình trước. Điều mà xem ra cha Eymard chỉ coi như sáng kiến của lòng nhiệt thành đơn sơ, lại thường bị giải thích là một hành động do người khác xúi giục. Tuy nhiên, không còn nghi ngờ gì nữa, lần này cha đã vượt qua những giới hạn của sự chừng mực. Hậu quả là sự cố ấy hầu như phá vỡ mối quan hệ của cha với Bề Trên Tổng Quyền.
        Sau đó ít lâu, cha Eymard thôi đảm nhiệm Dòng Ba Đức Mẹ và được bổ nhiệm làm giám đốc trường trung học Đức Mẹ ở La Seyne sur Mer. Mùa thu 1851 cha rời Lyons, để lại phía sau nhiều bạn bè và những thành viên yêu quý của Dòng Ba Đức Mẹ và khởi hành đi xuống miền Nam nước Pháp.
 LA SEYNE-SUR-MER

      Trường trung học Đức Mẹ ở La Seyne-sur-Mer thuộc về giáo phận địa phương, nhưng việc quản lý được giao cho các cha dòng Đức Mẹ. Nó nằm trên bờ biển Địa Trung Hải trong miền đất của Côte d’Azur, khoảng giữa đường từ Marseilles đi St. Tropez. Ngay khi đến nhiệm sở, cha Eymard thi hành nhiệm vụ mới với cùng một nghị lực và tính kiên định như khi đảm nhận những trách nhiệm khác. Nhiệm vụ mới này đòi hỏi gắt gao nghị lực và tài năng của cha vì trường học hoạt động ì ạch và gần như sắp đóng cửa; tuy nhiên lòng nhiệt thành năng nổ của cha đã vực nó dậy. Cha viết về những ngày ấy như sau:
 “Đời tôi là một cuộc sát tế liên tục. Từ sáng sớm tới khuya mọi người đều chạy đến tôi. Lúc nào cũng có tiếng gõ cửa với hàng ngàn việc khác nhau. Tôi không có lấy một giây để mở cuốn sách hoặc cầm bút lên. Tôi không thể đọc sách thiêng liêng. Công việc của tôi rất nặng nề...Ôi, tôi bị cám dỗ muốn phản ứng cách hấp tấp vội vàng, cộc cằn, và tỏ thái độ nghiêm khắc; nếu cắt ngang câu chuyện và tránh né vấn đề thì sẽ nhẹ nhàng cho tôi. Nhưng nếu tôi hành động như thế thì không hay và cũng chẳng bác ái gì cả.”

 Sự tận tâm không mệt mỏi của cha đã được đáp lại. Cuối cùng cha đã có thể ổn định hoạt động của nhà trường trên cơ cấu tổ chức vững chắc.
          Không lâu sau khi đến La Seyne, cha Eymar đã phải đối đầu với một hoàn cảnh thử thách tài lãnh đạo của cha. Hoàn cảnh xảy ra là hậu quả trực tiếp của cuộc đảo chính tháng 12 năm 1851 đưa Louis Napoleon lên cầm quyền. Nhiều nơi dân chúng đã phản ứng bằng những hành động bạo lực lẻ tẻ. Miền Toulon nơi La Seyne tọa lạc cũng không tránh khỏi việc phản kháng ấy.
     Vào một đêm kia, có một đám đông tập họp lại dự định gây rối ở Toulon, nhưng âm mưu của họ không thành vì có sự canh phòng của một đội quân hùng hậu ở đó, bực tức họ đổi hướng để trút sự giận dữ của họ lên trường trung học Đức Mẹ cách thành phố không xa. Được báo trước cuộc tấn công nhà trường sẽ xảy ra, cha Eymard cho các học sinh rút lui êm thắm mà không hề nói với họ một lời nào về nguy cơ sắp xảy đến. Sau đó, cha mời các giáo viên cùng nhau canh thức và cầu nguyện trước Thánh Thể. Chính cha Eymard đã thuật lại sự cố ấy cho các chị của cha: 

 “Người ta đã báo động cho chị về hoàn cảnh của chúng em ở đây. Quả thật chúng em đứng trước một nguy hiểm lớn. Em sắp bị giết và thiêu cháy cùng với ngôi trường mà em có trách nhiệm. Những kẻ tàn bạo ấy định triệt hạ những người đứng đầu các học sinh. Một giờ sáng ngày 7 tháng 12, hai ngàn người tiến về trường học, và chưa đầy nửa giờ sau họ bỏ đi khi nhận thấy một trong các thủ lĩnh của họ vắng mặt. Họ quyết định hoãn việc ấy qua ngày hôm sau. Ngày hôm sau chúng em được cứu thoát. Một cha xứ sợ hãi đã báo động cho em biết âm mưu của họ. Thiên Chúa nhân từ đã ban cho em lòng cậy trông vào sự Quan Phòng của Người và em đã đứng vững. Ba ngày trước đây bốn mươi phụ nữ trong nhóm nổi dậy bị bắt giam. Thật khủng khiếp khi thấy... 2000 người nổi dậy đã bị bắt giữ, ít nhất như em đã nói.


“Thiên Chúa tốt lành biết bao khi cứu thoát khu vực của chúng em. Những người đe dọa là những người xấu. Em được chọn làm một tuyên úy của họ, chí ít đối với những người trên chiếc tàu Genereux (tàu chở tù) mà thuyền trưởng là phụ huynh của một học sinh trong trường. Ngày Chúa Nhật em đến đó dâng thánh lễ, giảng dạy và thăm nom khoảng chừng ba trăm con người bất hạnh đáng thương ấy. Chúng em đã cho họ những huy hiệu (Đức Mẹ). Một số người đã thay đổi và nhiều người đã hối cải. Em đi vào giữa họ và họ quây quần chung quanh em, nghe em nói. Than ôi, em buồn biết bao khi tự nhủ: trong số này có những kẻ sát nhân, thề dối, những người nhúng tay vào máu. Những thủ lĩnh và ông chủ của họ đáng bị khiển trách hơn cả vì đã lợi dụng những người dân dốt nát và bồng bột ở phương Nam.”
       Những lo lắng của cha chưa hết. Vào mùa xuân, một trận dịch bệnh sởi xuất hiện trong trường. Nhiều học sinh bị mắc bệnh, chỉ có một số ít người không bị sởi trong đó có cha thì lại ngã gục vì bệnh cúm.
 Trong thư gởi bà Jordan, người mà cha Eymard đã kết nghĩa bạn bè khi còn làm giám đốc Dòng Ba ở Lyons và cha đã duy trì sự trao đổi tâm linh này suốt đời, cha đã mô tả cuộc sống ở nhà trường lúc đó như thế nào. Bức thư đề ngày 22 tháng 2 năm 1852:
       “Bà muốn tôi nói cho bà  biết về tôi; đời tôi như dòng nước lũ chảy mạnh và cuồn cuộn với tiếng sóng ầm ầm gào thét. Một cơ sở giáo dục có quá nhiều biến cố xảy ra. Nguyện danh Chúa được chúc tụng! Hàng ngày tôi phải hy sinh những nhu cầu của mình.
       “Mặt khác, khí hậu trong lành, bầu trời đẹp, cảnh quang chung quanh phong phú, và màu xanh tươi mát của cỏ cây luôn nhắc con người nhớ đến một mùa xuân vĩnh cửu. Tôi không thể nói nhiều với bà về những cách sống ở phương Nam mà tôi hầu như không biết. Thiên Chúa đã chúc lành cho vùng này với những tâm hồn quảng đại. Ở đây có nhiều lý do hơn ở miền đất của chúng ta để thán phục quyền năng của ân sủng, vì những người phương Nam này bản chất nhiệt thành, phong cách vui vẻ, tâm hồn dịu dàng như những vị thánh, nơi đó đã có những vị thánh lớn. Những người đến từ phương Bắc như chúng ta không thể đánh giá đúng về họ. Nhưng khi Thiên Chúa gởi họ đến với chúng ta thì Người cũng ban cho ân sủng.”
Ít năm sau, dưới sự hướng dẫn của cha, trường trung học bắt đầu phát triển. Số học sinh gia tăng và chương trình học được mở rộng. Tuy nhiên cha Eymard phải trả giá cho việc phát triển ấy. Chi phí cho sức khỏe của cha đôi khi tốn kém khá nhiều. Có lúc cha kiệt sức vì sưng phổi và bác sĩ đã yêu cầu cha không được ra khỏi giường. Lúc khác bác sĩ buộc cha phải đi nghỉ một thời gian xa trường học. Chứng viêm phổi của cha dường như do một sự cố theo lời thuật lại của cha Mayet:

“Một ngày kia, cha Eymard đi bằng xe ngựa đến nghỉ ngơi tại căn nhà miền quê của ông Mulsant, lúc đó là một nhà tự nhiên học nổi tiếng. Hai người rất quý mến nhau. Khi đến gần thị trấn, cha Eymard nói người chạy xe ngựa dừng lại chờ cha ít phút, anh ta đồng ý. Nhưng khi cha vừa đi khỏi thì anh ta cho xe chạy đi. Cha Eymard đuổi theo và phải chạy ba dặm mới đuổi kịp chiếc xe ngựa trong lúc nó đang leo lên đồi. Ít lâu sau khi thuật lại câu chuyện ấy, có người đã hỏi: cha đã nói gì với người lái xe? Không nói gì cả, tôi chỉ thấy rất hạnh phúc khi vào lại trong xe.”
Một lần khác khi nhớ lại sự cố ấy, cha thú nhận: “Tôi thấy ngay rằng tôi đã điên rồ làm sức khỏe mình bị tổn hại. Nhưng tôi có thể làm gì được? Đó không phải lỗi của tôi, và không có cách nào để sửa chữa tình trạng đó. Thay vì buồn bực và nổi giận, tôi cười với các bạn đồng hành như thể không có gì chuyện gì xảy ra; tuy nhiên vì thế mà tôi mắc bệnh nặng.”
Mặc dù công việc dồn dập và sức khỏe yếu kém, cha Eymard vẫn tìm được thời gian cho mọi tác vụ khác. Khoảng cuối năm 1854, khi cuộc chiến tranh ở bán đảo Crimea lên cao điểm, binh lính và thủy thủ Pháp đến đồn trú ở La Seyne. Trung đoàn 43 phải hoãn lại việc xuất quân vì bệnh  kiết lỵ bùng phát. Không để mất thời gian cha Eymard liền tận dụng cơ hội này để làm việc tông đồ như một cha tuyên úy quân đội. Cha mời các sĩ quan và ban y tế đến dùng bữa tối ở nhà trường, rồi nhờ sự quen biết đó, cha được phép đến thăm quân đội. Trong hai tuần lễ, mỗi ngày cha đến thăm các binh sĩ, nói với họ về đức tin và thỉnh thoảng cho vài người nhận “của ăn đàng”. Đến cuối cuộc đóng trại, cha tổ chức ba ngày tĩnh tâm cho họ và kết thúc với khoảng hai trăm binh sĩ nhận lãnh Thánh Thể, có một vài người rước lễ lần đầu.
Lần khác cha đến giúp cho một giáo xứ địa phương và trở thành bạn của cha xứ đó. Khổ nỗi, cha xứ thình lình bị bệnh và qua đời sau một cơn đau tim. Do những tình cảm quý mến mà giáo dân dành cho cha Eymard, Đức Giám Mục yêu cầu cha tiếp tục chăm lo giáo xứ cho đến khi tìm được người thay thế. Với lòng nhiệt thành và sốt sắng lo cho lợi ích thiêng liêng của giáo dân, cha chấp nhận lời đề nghị của giám mục mà không nghĩ đến bản thân mình. Chính vì vậy mà sức khỏe cha suy yếu dần, chứng nhức đầu tái phát và cha gần như hoàn toàn suy sụp. Có những lúc bác sĩ buộc cha phải về miền quê để nghỉ ngơi. Trong bức thư đề ngày 25 tháng 4 năm 1855 cha viết cho bề trên dòng Đức Mẹ:
“Tôi vẫn cứ thế, lúc này thì đang yếu, rồi sẽ khá hơn đôi chút. Chứng ho xem ra không chịu dứt. Tôi có thể làm gì bây giờ? Thôi thì cứ để mặc kệ nó. Tôi hy vọng cha không quên lời tôi yêu cầu là cử một người nào đó đến thay tôi. Năm học vừa kết thúc và tôi cũng kiệt sức, nhưng tôi thấy hài lòng vì không lâu nữa sẽ hết trách nhiệm. Nếu có thể, thỉnh thoảng tôi muốn đến Maubel. Tôi tin rằng cha sẽ không coi lời yêu cầu của tôi như dấu chỉ của sự nản lòng. Không. Ở đây các đồng nghiệp của tôi làm tốt đến nỗi tôi sẽ bất công nếu than phiền về họ. Họ đều tử tế và rất tận tâm.”
Trong thời gian phụ trách ở trường học, và trước đó ít lâu, sợi chỉ Thánh Thể một cách tinh tế vẫn luôn dệt nên tấm vải đời sống tâm linh của cha. Thỉnh thoảng Thiên Chúa cho cha thấy thoáng qua nơi mà Người định dẫn cha đến. Trong một loạt thư từ gởi chị Maguerite Guillot, một người bạn và một thành viên sốt sắng của Dòng Ba Đức Mẹ, cha tiết lộ mình đã để cho Thánh Thể cuốn hút như thế nào, và dù phải đi một đoạn đường dài, cha cũng sẵn sàng để theo đuổi lời mời gọi của Thiên Chúa: “Tôi phải nói với chị rằng tôi không muốn chết trước khi nhìn thấy ý tưởng cao cả và kỳ diệu mà Thiên Chúa đã làm trỗi dậy trong lòng tôi được thực hiện, đó là thờ phượng Chúa Giêsu trong Thánh Thể.” Trong một bức thư kế tiếp, cha phác họa chi tiết để bằng cách nào “ý tưởng cao cả và kỳ diệu ấy” từ lòng sùng tín cá nhân và riêng tư được thể hiện thành việc “sáng lập một Hội Dòng Thánh Thể”.
       Sau này cha còn mô tả “ý tưởng cao cả” ấy đã đến với cha như thế nào trong một buổi sáng, lúc cha đọc Kinh Cám Ơn sau thánh lễ:

“Thình lình tôi cảm thấy bị tràn ngập bởi một cảm xúc mạnh mẽ về lòng tri ân và yêu mến Chúa Giêsu, và tôi nói với Người: ‘Lạy Chúa, không có điều gì cao cả mà con có thể làm cho Chúa sao?’ Và một ý tưởng dịu dàng, bình an, nhưng cũng mạnh mẽ và rõ ràng làm tôi sung sướng đó là nếu có thể hiến dâng chính mình để phục vụ Thánh Thể.”

       Những soi sáng tâm linh ấy càng trở nên mạnh mẽ và rõ ràng hơn trong suốt mười hai đến mười tám tháng sau đó. Sức cuốn hút của Thánh Thể đối với cha rất mạnh, nhưng trong một thời gian dài cha nghĩ rằng tất cả ý tưởng ấy có thể hội nhập vào ơn gọi của cha như một tu sĩ trong dòng Đức Mẹ. Tuy nhiên, điều đang thực sự xảy ra là sức mạnh của ân sủng rốt cuộc muốn kéo cha rời bỏ dòng Đức Mẹ sau khi chịu đựng quá nhiều đau khổ. Cha chiến đấu để giải quyết ơn gọi mới này đến từ Thiên Chúa với nhiều nỗi hồ nghi và lo lắng.

CUỐI CUỘC HÀNH TRÌNH


“Thiên Chúa luôn thúc giục tôi.” 
“Trước Hết Cha Là Tu Sĩ Dòng Đức Mẹ”
       Suốt mười bảy năm kể từ lúc gia nhập Cộng Đoàn Đức Mẹ, cha Eymard nổi tiếng trong dòng là một thành viên có trách nhiệm và sống hy sinh hãm mình. Dòng Đức Mẹ đã giao cho cha nhiều vị trí quan trọng trong gia đình hội dòng. Ở những thời điểm khác nhau, cha phục vụ như Tập sư, Bề trên tỉnh, Tổng kinh lý, giám đốc trường trung học ở La Seyne, và giám đốc Dòng Ba Đức Mẹ.
       Trong lúc cha toàn tâm toàn ý với ơn gọi dòng Đức Mẹ thì Thiên Chúa đến gõ cửa lòng cha với một lời mời gọi khác. Thiên Chúa gọi cha đến với ơn gọi Thánh Thể.
       Nguồn gốc của ơn gọi Thánh Thể này đã được định hình qua hai kinh nghiệm tôn giáo mạnh mẽ. Kinh nghiệm thứ nhất xảy ra ngày 25 tháng 5 năm 1845 lúc cha tham dự cuộc cung nghinh Thánh Thể trong nhà thờ Thánh Phaolô ở Lyons. Trong suốt cuộc cung nghinh ấy, cha xúc động sâu xa khi suy tư về ngôi vị Đức Kitô, và cha quyết tâm tập trung bài giảng về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Kinh nghiệm thứ hai xảy ra ngày 21 tháng 1 năm 1851 tại Đền Đức Bà ở Fourvière, nơi ấy cha được thúc giục mạnh mẽ bởi ý định thành lập một nhóm người nam chuyên tâm thờ phượng Chúa Giêsu trong Thánh Thể để đáp ứng một số nhu cầu mục vụ trong Giáo Hội. Mặc dù những ân sủng đặc biệt ấy ghi dấu sâu đậm trong tâm hồn, tuy nhiên cha Eymard luôn thận trọng và chưa có quyết định dứt khoát về bất cứ kế hoạch nào tập trung linh hứng của cha về Thánh Thể một cách cụ thể, khiến cha phải một mình đảm nhận trách nhiệm trong cuộc phiêu lưu ấy.

       Ở mức độ rộng lớn hơn, cha Eymard nhận được sự động viên của vị sáng lập dòng Đức Mẹ cho sứ vụ Thánh Thể của cha, đặc biệt trong những năm cuối ở La Seyne và ở Toulon nơi mà Hội Chầu Đêm đã hoạt động. Mỗi tối thứ sáu, cha đến vương cung thánh đường Đức Mẹ Maria để giảng về lòng sùng kính Thánh Thể cho một nhóm người ngày càng đông kéo đến từ Hội Chầu Thánh Thể.
       Trong thời gian làm giám đốc trường trung học ở La Seyne (1851-1855), cha Eymard cộng tác với cha De Cuers với hy vọng thành lập Dòng Thánh Thể. Mặc dù chính cha De Cuers có sáng kiến tuyển lựa hội viên mới với ý định thành lập một dòng của các linh mục chuyên tâm chầu Thánh Thể liên tục, nhưng chính cha Eymard được kêu gọi để giúp đỡ xúc tiến dự án với việc viết ra bản dự thảo đầu tiên luật sống hướng dẫn hoạt động của nhóm. Trong thực tế, cha còn đi xa hơn khi tích cực khuyến khích một số học sinh trong trường trung học Đức Mẹ tìm hiểu ơn gọi Thánh Thể. Một khi người ta khám phá ra rằng cha Eymard, giám đốc trường trung học ở La Seyne đang tuyển những ứng sinh trong dòng cho một thứ ơn gọi khác, các đồng nghiệp của cha trong trường sửng sốt, và những bề trên của cha ở Lyons tìm cách đưa cha vào kỷ luật.
       Tháng sáu năm 1855, cha bề trên Favre loan báo muốn đến thăm cha Eymard ở trường trung học La Seyne, nhưng cùng lúc ấy cha được cảnh báo rằng hội dòng Đức Mẹ không thể khuyến khích cho một dự án Thánh Thể, và hơn thế nữa cha Favre đã ra lệnh cho cha Eymard phải chấm dứt mọi dấn thân trong cuộc phiêu lưu Thánh Thể ấy. 
“Trước hết cha là tu sĩ dòng Đức Mẹ; và hội dòng Đức Mẹ là con thuyền cứu độ cha. Cha phải xử sự thật khôn ngoan để không một bóng đen phê bình nào có thể nhắm vào cha liên quan đến dự án Thánh Thể. Ttrong bất cứ trường hợp nào dự án này không nên là mối bận tâm của cha, vì cha đã là một tu sĩ được thánh hiến của dòng Đức Mẹ.”
       Với những nhận xét ấy, cha Favre có ý định hạn chế sự dấn thân của cha Eymard vào dự án Thánh Thể. Bàng hoàng trước  quyết định ấy, cha Eymard cố biện minh cho trường hợp của mình, nhưng không thành. Cha không được phép theo đuổi việc thiết lập một dự án Thánh Thể trong khi còn là thành viên của hội dòng Đức Mẹ. 
       Chán nản trước cái tin ấy, cha Eymard quay về tìm sức mạnh và an ủi trong việc cầu nguyện. Lần đầu tiên cha nhận thấy rằng sự đánh cuộc này trở nên quá cao nếu cha phải theo đuổi ơn linh hứng mà hiện nay cha mạnh mẽ tin rằng nó đến từ Thiên Chúa. Cha không chắc mình sẽ có thể tìm ra giải pháp thích hợp trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan này như thế nào. Khi đối diện với sự chống đối của các bề trên và những nỗi băn khoăn trong lòng, cha cảm thấy quyết tâm hơn bao giờ hết phải luôn trung thành với lý tưởng Thánh Thể này. Ý tưởng này ngày càng định hình rõ nét trong tâm hồn, và cha chia sẻ cảm nhận ấy với một người bạn là cha Mayet: 
“Thiên Chúa đang thúc giục tôi. Ý nghĩ về việc thiết lập một công trình cho Thánh Thể cuốn hút tôi; nó đang làm cho tôi nên tốt hơn. Ý tưởng đó dịu dàng, mạnh mẽ, bình an và làm tôi vui thỏa. Tôi biết mình phải trả giá cho tất cả điều ấy. Không người nào thiết lập một công trình mới mà không bị đóng đinh. Tôi từ bỏ một hoàn cảnh an toàn và sẽ hứng chịu sự nghèo khó, khinh khi và cơ cực. Nếu việc này không thành công, người ta sẽ chế giễu tôi. Tôi thấy tất cả điều đó. Tôi cảm nhận hết. Nhưng tôi chỉ tìm kiếm thánh ý  của Thiên Chúa.”
       Tuy bị các bề trên khước từ, nhưng được khích lệ bởi ý thức cao cả và trách nhiệm nhiệt thành với điều mà cha nhận biết là ý Chúa, nên cha Eymard đã cầu cứu Tòa Thánh  Rôma.
       Đúng là ý Chúa quan phòng, cha Touche là bạn cũ và là cố vấn tâm linh của cha Eymard, tình cờ ghé lại La Seyne trên đường đi Marseilles để đáp tàu qua Rôma. Cha Eymard có dịp giải bày sự việc với người bạn thân này, và cha Touche đã khuyên: “Dự án của cha là một công trình của Thiên Chúa, nhưng phải đệ trình lên Tòa Thánh để xem xét.” Vì thế cha Touche đồng ý trình thư thỉnh nguyện do cha Eymard viết lên Đức Thánh Cha. Cha Touche đáp thuyền từ cảng Marseilles ngày 12 tháng 8 để đến kinh thành vĩnh cửu Rôma.

Thư Thỉnh Nguyện Đến Rôma
 Sau đó cha Eymard rời La Seyne để đi dưỡng bệnh theo yêu cầu khẩn thiết của bác sĩ. Từ suối nước nóng Mount Doré, cha viết: “Đây là một nơi lạnh lẽo. Tôi không gặp một người quen nào. Tôi hoàn toàn cô độc như tôi mong muốn. Nhưng thiên đàng ở trên đầu và bên cạnh tôi là nhà tạm: Tôi có mọi thứ tôi cần.”
 Ít lâu sau cha viết:
“Việc trị liệu bằng nước rất tốt cho tôi. Thiên Chúa nhân hậu dường như đã ban cho tôi phương tiện chữa trị này để yêu cầu tôi tận tụy hơn nữa trong việc phục vụ Người. Vì thế tôi ước ao làm việc nhiều hơn vì vinh quang Người, và đem nhiều tâm hồn về cho Người. Thiên Chúa tốt lành dường bao khi muốn sử dụng một người khốn khổ và bất hạnh như thế. Thiên Chúa không cần chúng ta. Nhưng khi Người quyết định sử dụng nỗi bất hạnh và sự trống rỗng của chúng ta cho vinh quang Người, khi Người cho chúng ta vinh dự được đau khổ vì danh Người, đương nhiên chúng ta sẽ bị tổn thương.”
Cha Touche đến Rôma ngày 27 tháng 8 và ít ngày sau trình thư thỉnh nguyện của cha Eymard lên Đức Thánh Cha. Trong thư viết: 
“Kính thưa Đức Thánh Cha: Cho phép đứa con kém cỏi nhất của cha, một tu sĩ dòng Đức Mẹ, hoàn toàn đơn sơ đặt dưới chân cha suy nghĩ của tâm hồn mình. Vì con không thể đến Roma lúc này, nên cha Touche đồng ý đại diện cho con, và là người giải thích những cảm nghĩ của con. 
“Trong bốn năm qua chính con đã cảm thấy ân sủng thúc giục mạnh mẽ đi xin phép bề trên của con để hoàn toàn chuyên tâm làm sáng danh và phục vụ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta trong Thánh Thể. Trong ba năm con đã chống lại sự thúc giục nội tâm ấy vì sợ rằng đó chỉ là một sự lôi cuốn tự nhiên hoặc sự lừa lọc của ma quỷ. Tuy nhiên vì sợ chống lại tiếng gọi của Thiên Chúa nên con đã giải bày tâm trí con cho cha Alphonsus, Bề trên tỉnh dòng Capuchins, và bây giờ làm Phụ Tá Bề Trên Tổng Quyền ở Rô-ma. Cha Alphonsus khuyên con hãy trắc nghiệm ý tưởng ấy một thời gian lâu hơn nữa, và nếu nó còn dai dẳng, hãy trình bày vấn đề cho Bề Trên Tổng Quyền. Con đã làm như thế. Cha bề trên Colin, sau khi nghe con trình bày, đã đáp lại: ‘Tôi tin ý tưởng mà cha có kinh nghiệm lâu như thế đến từ Thiên Chúa, và sẽ đem lại vinh quang cao cả hơn cho Người. Một ngày nào đó cha sẽ thực hiện được ý tưởng ấy.’ 
   “Kính thưa Đức Thánh Cha, [...] ý tưởng mạnh mẽ và dịu dàng này đã đi vào tâm trí con: Tại sao mầu nhiệm cao cả nhất lại không có dòng tu riêng của nó như những mầu nhiệm khác đã có; tại sao không có những người với sứ mạng cầu nguyện liên tục dưới chân Chúa Giêsu trong Bí Tích thần thiêng của Người? [...] 
“Hội dòng Thánh Thể sẽ không tự giới hạn trong sứ mạng cầu nguyện và chiêm niệm. Đường lối tông đồ của hội dòng là chăm lo việc cứu độ các linh hồn bằng cách sử dụng mọi phương tiện được linh hứng bởi lòng nhiệt thành, sáng suốt, cẩn thận và đức ái thần thiêng của Đức Giêsu Kitô. Hội dòng sẽ làm việc để đem đến dưới chân Chúa Giêsu trong Thánh Thể những người thờ phượng với con số lớn nhất qua việc thành lập hiệp hội những người chầu Thánh Thể trên thế giới.” 
       Sau đó cha Eymard giải thích việc tông đồ Thánh Thể có thể phát triển như thế nào. Bức thư viết tiếp: 
“Đã có sáu linh mục và sáu sinh viên ban triết sốt sắng ước muốn tuyên khấn theo ý tưởng Thánh Thể ấy... 
“Còn lại vấn đề cá nhân liên quan đến con. Cha bề trên đáng kính Favre, người thừa kế cha Colin, khi xem xét ý tưởng của con đã  thấy sự khích lệ con của người tiền nhiệm, nhưng không tán thành ý tưởng ấy bên ngoài hội dòng Đức Mẹ, cũng không cho phép con làm việc cho ý tưởng ấy. Cha Favre nói rằng cha không có thẩm quyền giải quyết vấn đề và giao con cho Đức Thánh Cha quyết định. Đối với con, dường như Đức Thánh Cha không lấy đi vinh quang nào của Đức Mẹ khi đem một người con khốn khổ của Đức Mẹ cho Đức Giêsu. Trong suốt mười sáu năm làm tu sĩ, con đã giữ những nhiệm vụ Bề Trên tỉnh và Phụ tá Bề Trên Tổng Quyền. Bây giờ con đã từ nhiệm mọi chức vụ ấy, và việc con rút lui không hề làm hại đến hội dòng Đức Mẹ.
Thưa Đức Thánh Cha, con đặt trường hợp của con ở trong tay cha.”
       Bức thư được ký tên: Phêrô Eymard, linh mục dòng Đức Mẹ và ghi ngày 2 tháng 8 năm 1855.
        Đức Thánh Cha chúc lành và khuyến khích dự án, nhưng ghi thêm rằng phải có phép của Bề Trên Tổng Quyền và giám mục địa phận thì dự án mới được tiến hành.
       Trong khi đó, cha bề trên Favre và ban cố vấn không nhìn sự việc theo cách đó. Trái lại, một lần nữa họ bác bỏ kế hoạch của cha Eymard về một dự án Thánh Thể. Cha Favre cảm thấy một cách mạnh mẽ rằng, một định hướng Thánh Thể không phù hợp với những mục tiêu của Dòng Đức Mẹ. Bề trên dòng Đức Mẹ sợ những nguy hại mà cuộc phiêu lưu ấy có thể gây ra cho hội dòng Đức Mẹ còn non trẻ. Có lẽ cha Bề Trên cũng buồn vì đột nhiên mất đi một thành viên có năng lực, thánh thiện và được hội dòng quý trọng. Cha Eymard không bao giờ từ chối một sự bổ nhiệm nào, và được kêu gọi đảm nhận nhiều trách nhiệm mà nhiều khi là những nhiệm vụ khó khăn nhất trong dòng Đức Mẹ. Tuy nhiên, giờ đây việc ủy nhiệm đã khác nhưng không kém phần đòi hỏi. Eymard phải lựa chọn một trong hai: hoặc bỏ qua ý tưởng về một dự án Thánh Thể, hoặc rời bỏ dòng Đức Mẹ.
       Khoảng cuối tháng chín, cha Eymard rời khỏi chức vụ giám đốc trường trung học La Seyne và được sai đi nghỉ ngơi một thời gian ở tập viện của dòng Đức Mẹ Chaintre. Cha viết cho cha Touche: “Tôi ở nơi này, không dám nói là ở trên Can-va-ri-ô, vì tôi không xứng đáng điều đó, nhưng trong một tình trạng thử thách, trong một vị trí chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào một mình Thiên Chúa. Xin Cha cầu nguyện cho tôi.”
       Vì vâng lời, cha Eymard đã bỏ hết mọi tiếp xúc trực tiếp liên quan đến dự án Thánh Thể, dù cha luôn xác tín mạnh mẽ rằng ơn linh hứng Thánh Thể của mình chắc chắn là một lời mời gọi Chúa gởi đến. Nhưng làm thế nào để có thể tiến hành dự án đó khi không có sự tán thành của các bề trên? Năm 1855 rồi cũng khép lại với tâm trạng dày vò của cha trước tình cảnh nan giải ấy.
“Với Tôi, Rôma Là Đức Thánh Cha”
Dường như không có giải pháp nào tiến triển cho đến một ngày vào tháng hai, cha Favre báo cho cha Eymard biết sắp đi công tác ở Rôma và muốn bàn bạc vấn đề với Đức Thánh Cha.
“Tôi sẽ trình bày sự việc của cha lên Đức Thánh Cha, và tôi hy vọng cha sẽ tuân theo những gì Đức Thánh Cha yêu cầu.”
Cha Eymard đáp lại: “Tôi hoàn toàn sẵn sàng.”
Cha biết rằng Đức Piô IX đã chúc lành cho dự án, và chắc chắn không có việc xét lại vấn đề. Dự án Thánh Thể coi như đã được bảo đảm. 
       Cha Favre lên đường đi Rôma vào cuối tháng hai. Từ Chantré cha Eymard viết; “Tôi đau khổ và tôi hy vọng”. Cha so sánh mình với một người đang lênh đênh trên biển “người ấy chỉ có một tấm ván để bám vào trong niềm tín thác vào Thiên Chúa nhân từ, mặc cho sóng gió dập vùi. Ở Chantré tôi cầu nguyện, thậm chí có thể nói rằng chưa bao giờ tôi đã cầu nguyện và đau khổ nhiều như thế để Thiên Chúa cho tôi hiểu được thánh ý Người.” 
       Sau cùng mãi đến ngày 22 tháng 4, từ Rôma trở về cha Favre đã đến Chaintre gặp cha Eymard. Lúc 9 giờ sáng, cha Favre mời cha Eymard đi dạo ngoài vườn với mình để nói chuyện. Sau khi biến cố này xảy ra, cha Eymard thuật lại một cách vắn gọn: 
“Cha Favre nói: Rôma gợi ý rằng tôi không nên để cha ra đi đảm nhận dự án Thánh Thể này.”
Cha Eymard không ngập ngừng đáp lại: “Thưa cha, thế thì tốt quá, vấn đề coi như đã giải quyết xong.” 
       Toàn bộ sự việc đã dày vò cha chỉ kéo dài trong ít phút. Rôma đã nói và cha phải tuân theo. Cha lại tiếp tục theo ơn gọi dòng Đức Mẹ và dứt khoát bỏ cuộc dấn thân cho dự án Thánh Thể. Bỗng nhiên mọi sự có vẻ quá đơn giản. Mọi việc đã được giải quyết quá nhanh. Cả hai đều cảm thấy nhẹ nhõm.
       Họ tiếp tục đi dạo trong vườn và nói về cách mà cha Eymard có thể bắt đầu lại công việc. Sau khi một vài việc đã được thu xếp ổn thỏa, cha Favre bắt đầu chia sẻ cảm tưởng của mình về Rôma và lần thăm viếng Đức Thánh Cha. Cha Eymard tò mò muốn biết chính xác những gì Đức Thánh Cha đã nói về dự án Thánh Thể cho nên yêu cầu cha Favre nói cho biết mọi việc đã xảy ra thế nào.
       Cha Favre đáp: 
“Tôi đã gặp các bạn và cố vấn của cha, đó là cha Alphonsus, giám mục Luquet, và cha Jandel Bề Trên Tổng Quyền dòng Đa Minh, các vị ấy đều nói với tôi rằng không nên để cha đi khỏi dòng Đức Mẹ, và hơn thế nữa tôi không nên để cha tiếp tục hoạt động cho một dự án Thánh Thể.”
Cha Eymard hỏi: “Và Đức Thánh Cha cũng khuyên cha điều đó?”
Bề Trên Tổng Quyền ngập ngừng, tỏ ra bối rối và chậm rãi thú nhận:
“Khi được tiếp kiến Đức Thánh Cha, tôi quá xúc động đến nỗi hoàn toàn quên mất việc trình lại trường hợp của cha.” Và nói thêm, “Chắc chắn đó là do ý Chúa.”
       Cha Eymard sững sờ nhìn chằm chằm vào vị Bề Trên. Cha không thể tin nổi điều tai mình vừa nghe thấy, nhưng cha hiểu ngay những hàm ý trong lời thú nhận của cha Favre. Đức Thánh Cha không gạt bỏ đề nghị về dự án Thánh Thể của cha. Đối với cha điều này đã rõ ràng và rất quan trọng trong toàn bộ sự việc.
Cha Eymard kêu lên: “Ồ! Nếu thế thì chưa có gì được giải quyết. Với tôi Rôma là Đức Thánh Cha.” 
Cha Favre vắn tắt đáp lại: “Trong trường hợp này, cha phải ra khỏi dòng Đức Mẹ. Tôi không thể và không muốn để cha lơi lỏng với những lời cha đã khấn.” 
Cha Eymard sửng sốt trước phản ứng của cha bề trên, và khi lấy lại bình tĩnh, cha xin bề trên cho phép mình được ở trong dòng để thực hiện dự án Thánh Thể trong ít năm cho đến khi nó được thành hình. Cha Favre dứt khoát từ chối. Không thể có giải pháp thỏa hiệp cho dự án Thánh Thể.
Cha Eymard biện bạch: 
“Thiên Chúa đã lôi kéo tôi mạnh mẽ vào công trình này, đặc biệt trong hai năm cuối đây. Hơn bốn năm trời, ân sủng này đã làm việc trong linh hồn tôi. Tôi sợ hãi và đã chiến đấu chống lại nó. Tôi sợ thập giá và đau khổ; tất cả điều tôi ao ước là chờ đợi dự án này trong một thời gian nữa; tôi không muốn cắt đứt dây liên kết tôi với dòng Đức Mẹ mà tôi yêu mến; mặt khác tôi không muốn dại dột rời bỏ chỗ trú ẩn an toàn này.  
  “Giờ đây tôi biết Thiên Chúa muốn tôi phải hoàn toàn dứt bỏ, kể cả việc phải đốt bỏ chiếc cầu thoát thân sau lưng mình. Sự hy sinh phải triệt để. Thiên Chúa đòi tôi phải hoàn toàn phó thác vào ân sủng của Người.”
       Trong cuộc gặp gỡ khó khăn và khổ tâm nhất phải có giữa hai cha, cha Eymard đã có thể tập trung nghị lực cần thiết để đương đầu với thử thách quan trọng đầu tiên. Cha tìm kiếm ở nơi sâu thẳm của lòng mình và chỉ thấy một Thiên Chúa không thỏa hiệp. Nhưng thay vì bị vùi dập bởi điều Thiên Chúa đòi hỏi, cha nhận ra lời mời gọi đi theo một lộ trình khác. Ân sủng Thiên Chúa sẽ nâng đỡ cha bất chấp những hy sinh không thể tránh khỏi. Chưa bao giờ điều ấy rõ ràng như bây giờ. Con đường mở ra phía trước dẫn cha đến Thánh Thể. Từ trước đến nay cha vẫn ngập ngừng khi đi theo con đường ấy, nhưng đây là lần đầu tiên cha nhận ra rằng mình không thể quay lại được vì Thiên Chúa đã chọn cha. Vì thế, cha đáp gọn: “Thế là xong. Tôi đã quyết định.”
       Khi nói những lời đơn sơ ấy với cha Favre, cha Eymard đã đem số mệnh mình đánh cuộc với Chúa. Cha sẽ dứt bỏ hội dòng Đức Mẹ thân yêu nơi cha được quý mến, nơi cha biết mình có thể sống an toàn hết cuộc đời trong cộng đoàn với sự quý mến chiều chuộng của các bạn.
Cha Favre kêu lên: “Cha sẽ rời bỏ dòng Đức Mẹ?
Cha Eymard đáp lại: “Vâng, tôi đã cầu nguyện nhiều ngày. Tôi đã cầu xin Chúa, Đức Mẹ và Thánh Giu-se thà để tôi chết đi còn hơn để tôi bị lừa dối hoặc lạc đuờng. Tôi luôn luôn cảm thấy mình bị thúc giục, bị thập giá và đau khổ lôi kéo.”
Cha Favre nói: “Trong trường hợp này tôi chỉ còn cách để cha đi. Tôi sẽ gỡ cho cha khỏi mọi lời khấn.” 
       Hai cha chia tay nhau, mỗi người tin chắc mình đã hành động theo ý Chúa; người này theo lợi ích tốt nhất của hội dòng Đức Mẹ, người kia theo tiếng gọi không thể thoái thác của Chúa Thánh Thần.
       Trở về phòng mình, cha Eymard lập tức viết cho cha De Cuers, bạn đồng nghiệp của mình: “Khi cha Favre nói với tôi: ‘Tôi sẽ gỡ cho cha khỏi mọi lời khấn’, tôi xúc động đến rơi lệ và nói: ‘Cám ơn cha.’ Chúng tôi im lặng một lúc. Vấn đề đã được giải quyết; bản tính tự nhiên bị đóng đinh nhưng ân sủng đã chiến thắng. Lập tức tôi cảm thấy một sự bình an ngọt ngào mạnh mẽ đi vào tâm hồn tôi; trái tim tôi tràn ngập niềm vui; Thiên Chúa đã an ủi tôi.” 
       Sau đó có lúc cha viết, “Không ai biết tôi phải trả giá thế nào để quyết định như vậy và để nói với Thiên Chúa, ‘Lạy Chúa, này con đây; con đã rời bỏ gia đình tự nhiên và sinh quán của con. Con cũng sẽ rời bỏ gia đình thiêng liêng là dòng Đức Mẹ để phục vụ Chúa trong Thánh Thể.”
       Trước khi ra đi, cha Favre yêu cầu cha Eymard đến Lyons để nhận giấy phép chính thức rời khỏi dòng do chính tay cha Favre cấp. Tiên cảm những phản ứng tiêu cực mạnh mẽ không tránh khỏi từ các bạn đồng tu dòng Đức Mẹ. Cha Eymard đã viết cho cha De Cuers ngày 25 tháng 4: “Tôi sợ cảnh tượng ở Lyons trong giờ phút chia tay.”
       Quả thật nỗi sợ hãi của cha Eymard là có cơ sở. Khi đến Lyons, người ta không tiếc lời buộc tội cha là bất trung với ơn gọi, là để cho lòng tự mãn và tham vọng tác động. Bị các bạn đồng tu tấn công như thế, cha rất bối rối và thức trắng đêm, vì vậy sáng sớm hôm sau việc đầu tiên là cha phải đi gặp cha Favre. Sự tấn công của các bạn trong dòng về những động lực khiến cha rời bỏ dòng Đức Mẹ đã làm lung lay quyết định của cha. Trong trường hợp đặc thù này, cha quyết định dùng cách duy nhất để giải quyết tình trạng khó xử này là trình bày vụ việc cho sự phân định của một thẩm phán độc lập. Khi gặp cha Favre, cha Eymard trao đổi sự việc xảy ra, và ước muốn đặt trường hợp của mình cho sự phán xét của một người vô tư, và xin cha Favre không đưa ra giấy xá miễn các lời khấn cho đến khi nào việc phán xét ấy được thực hiện. Cha Favre sẵn lòng chấp nhận lời yêu cầu của cha Eymard.
Phán Quyết Ở Paris 
       Bị tổn thương bởi những đả kích bất công của một số bạn tu dòng Đức Mẹ làm cho cha Eymard một lần nữa phải đặt lại vấn đề động cơ thúc đẩy mình. Cha đáp tàu hỏa đến Paris để tìm kiếm sự bảo đảm. Ở kinh đô cha tìm được chỗ trọ trong một dòng tu nhỏ sắp giải thể. Cha viết cho một người bạn: “Người ta cho tôi một căn phòng không có lò sưởi mở ra hướng gió và còn ẩm thấp. Ban đêm các khăn trải giường thì ẩm ướt như bị phơi sương. Thức ăn thì tồi tệ. Nhưng Thiên Chúa đã nâng đỡ tôi.”
Rồi cha bắt đầu tĩnh tâm vào ngày 1 tháng 5 năm 1856 lễ Thăng Thiên. Với sự giới thiệu của một người bạn là Đức Cha Bouillerie ở Carcassonne, cha Eymard đến gặp Đức Cha Sibour là Giám Mục phụ tá ở Paris và là anh họ của Tổng Giám Mục cùng tên để giải thích những khó khăn của mình. Đức Giám Mục yêu cầu cha Eymard trình bày sự việc bằng văn bản để ngài có thể nghiên cứu và tham khảo ý kiến Đức Tổng Giám Mục.
Eymard trở về căn phòng lạnh lẽo và bắt đầu viết:
“Con xin phép bày tỏ tâm hồn cho quý Đức Cha về một ý tưởng mà con tin là do Thiên Chúa gởi đến. Nhưng xin đừng tin vào sự yếu đuối và những ảo tưởng của lòng tự phụ của con. Con cần sự  khuyên bảo khôn ngoan của Đức Cha để có thể hành động hợp với đường lối thông thường, có nghĩa là bằng sự vâng phục.”
       Kế đó cha tuần tự giải thích hoàn cảnh của cha, và hứa sẽ tuân theo quyết định của giám mục.
       Trong lúc chờ đợi được trả lời, cha viết thư cho một người bạn: 
“ Tôi đã bày tỏ tâm hồn cho một người hiểu biết, có kinh nghiệm và cương quyết mà trước đây tôi chưa từng quen biết. Những lời sau cùng người ấy nói với tôi là: ‘tôi phải cầu nguyện, suy nghĩ và bàn hỏi, ngày thứ ba tôi sẽ trả lời cho cha.’ Tôi không biết câu trả lời sẽ như thế nào. Dù sao tôi cũng được yên tâm với việc tôi chân thành thuật lại những điều mà ở Lyons tôi bị chống đối. Tôi nói thật nhiều để không một điều tâm sự nào bị bỏ sót. Nhưng ý của Thiên Chúa sẽ được cho biết qua câu trả lời của người ấy. Nếu người ấy bảo tôi gạt bỏ ý tưởng ấy thì tôi sẽ làm như thế vì biết rằng tôi đã hành động theo lương tâm mình. Tôi vẫn sống ẩn dật một mình, một mình với Chúa. Cầu nguyện, nhẫn nại và từ bỏ nhiều hơn một chút vì Chúa, tất cả mọi sự rồi sẽ qua thôi.”
       Dù luôn xác tín vào tay Thiên Chúa quan phòng trong vấn đề này, tuy nhiên, cha Eymard vẫn bi quan về kết quả. Cha từng nói với cha De Cuers rằng mình đã thu xếp hành trang và sẵn sàng trở về dòng Đức Mẹ ngay sau khi nhận được câu trả lời phủ quyết của giám mục. Cha không còn việc gì phải làm ngoài việc đóng va-ly và vâng phục. Cha De Cuers đáp lại cùng một kiểu: giống như cha, tôi cũng chỉ đi tìm ý Chúa. Tôi sẽ đi Rô-ma để sống hết đời ở đó.
      Ngày 13 tháng 5, cha Eymard đến tòa tổng giám mục để nhận phán quyết cuối cùng mà cha đã phải chờ đợi khá lâu. Cha de Cuers đã có mặt ở đó trước. Vì thế cả hai cùng ngồi ở tiền sảnh lo lắng chờ đợi được giám mục gọi vào. 
      Cha Eymard đã mô tả lại sự việc diễn tiến như sau: 
“Chúng tôi đang ngồi đợi ở tiền sảnh thì Đức Tổng Giám Mục vốn không có thói quen tiễn khách ra tận cửa, nhưng hôm nay Ngài  buộc phải làm như thế để tỏ lòng tôn kính đối với Đô Đốc Parceval vừa mới cáo lui. Khi quay lại Đức Cha nhìn thấy chúng tôi, đã hỏi chúng tôi là ai và cần việc gì. Chúng tôi nói với Đức Tổng Giám Mục rằng chúng tôi chờ Đức Giám Mục Sibour. ‘Nhưng ở đây điều gì Đức Giám Mục Sibour có thể giải quyết mà tôi lại không thể làm được? Các cha muốn gì?’ Thế là tôi nói với Đức Tổng Giám Mục về quyết định mà chúng tôi phải đến để nhận. ‘Vậy cha là tu sĩ dòng Đức Mẹ?’ ‘Vâng,’ tôi đáp lại. ‘Giám Mục Sibour đã nói với tôi tất cả về dự án lập dòng Thánh Thể. Không, không. Đó là dòng thuần túy chiêm niệm. Tôi không tán thành những việc đó. Không, không.’  
“ Tôi sôi nổi đáp lại: ‘Thưa Đức Cha, điều đó không đúng với mục đích của chúng con. Đây không phải là một nhóm người chỉ chuyên về chiêm niệm. Dĩ nhiên chúng con chầu Thánh Thể, nhưng chúng con muốn hướng dẫn người khác cũng làm như vậy. Chúng con muốn dấn thân trong việc giúp đỡ những người trưởng thành Rước Lễ Lần Đầu. Chúng con muốn khơi dậy nhu cầu rất cần thiết ấy ở bốn phương trời trên nước Pháp và trước tiên là ở mọi nơi của Paris’. Nghe những lời ấy khuôn mặt của Đức Tổng Giám Mục sáng ra. ‘ Rước Lễ Lần Đầu cho người trưởng thành, đó là công việc mục vụ mà tôi chưa làm được, tôi ao ước thực hiện công việc ấy.’ Đức Tổng Giám Mục tỏ ra phấn khởi.”
       Đức Tổng Giám Mục liền nắm tay hai cha dẫn vào phòng hội, ở đó Giám Mục Sibour và cha Carrière, bề trên của dòng Sulpice đang ngồi chờ. Đức Tổng Giám Mục nhấn mạnh rằng vấn đề đó cần phải được bàn cãi thêm. Cha Eymard thuật lại chi tiết những việc đã xảy ra. Đức Tổng Giám Mục ủng hộ chương trình đó với lời khen ngợi. Giám Mục Sibour gọi đó là tột đỉnh của những việc thờ phượng trong thành phố Paris. Cha Carrière tán thành dự án đó. Đức Tổng Giám Mục cho phép thực hiện và chấp thuận dự án đó với lòng nhân từ của một người cha và nói: ‘Giờ thì các cha là con cái của ta.”
       Tuy nhiên cha Eymard xin các giám mục xử lý việc tháo lời khấn của cha như một vấn đề riêng rẽ, thế nên cả ba Đức Giám Mục hẹn gặp lại cha hôm sau để đối chất. Giám Mục De la Bouillerie cũng được mời đến tham dự cuộc tranh luận.
       Sau khi cha Eymard thuật lại chi tiết hành trình tâm linh của cha đến với ơn gọi Thánh Thể,và những bước cha đã thực hiện để kiểm tra tính chất xác thực của ơn gọi ấy, cả ba Giám Mục đều đồng ý rằng Thiên Chúa quan phòng hẳn đã hoạt động trong vấn đề này, và đã hướng dẫn các biến cố để đưa cha Eymard đến đây và được họ quan tâm. Các Giám Mục xác nhận lại sự tán thành của ngày hôm trước, hơn thế nữa còn xác nhận cha Eymard đã liều mình tìm kiếm phương thế để dấn thân toàn tâm toàn ý cho dự án Thánh Thể, đồng thời gạt bỏ hết những nỗi nghi ngờ, do dự và mơ hồ của cha một lần cho xong. Cha Eymard đã nghe được những lời cha muốn nghe khi đến Paris. Phán quyết của ba Giám Mục đã làm cha yên tâm:

“Ý muốn của Thiên Chúa được biểu lộ cách rõ ràng trong công trình Thánh Thể. Chính Thiên Chúa đã giải gỡ những khó khăn. Cha phải toàn tâm cho công việc này. Không có lý do gì mà ngần ngại nữa; cha phải tiến lên.”
       Tối hôm đó cha Eymard viết cho cha Favre: 
“Sau mười hai ngày chờ đợi cầu nguyện trong nước mắt và từ bỏ, sau cùng thử thách đã được vượt qua. Hai lần tôi đã nhận được câu trả lời rằng ý Chúa muốn tôi để hết tâm trí cho công trình Thánh Thể. 
 “Tôi sẽ không thuật lại chi tiết những đau khổ, cám dỗ và thử thách mà Thiên Chúa muốn tôi phải chịu. Tôi cũng không nói tâm trí và mọi cảm xúc của tôi đã phải trả giá đến mức nào khi tôi thực hiện bước đi cao cả này. Dù chỉ thấy thập giá và chén đắng, tuy nhiên tôi vẫn vui sướng nếu Thiên Chúa chấp nhận hy sinh của tôi. Điều tôi có thể nói với cha là tôi luôn luôn như người con biết ơn và yêu quý cha, tôi sẽ luôn là đứa con của dòng Đức Mẹ... Tôi có thể làm được gì hơn là yêu mến hội dòng vì đối xử quá tốt và dịu dàng với tôi như một người mẹ.”
       Cha Favre hồi âm không chậm trễ trong thư đề ngày 20 tháng 5: 
“Cha Eymard thân mến, sau cùng thì công việc đã kết thúc. Nguyện xin thánh ý Thiên Chúa được thực hiện chứ không phải ý muốn của chúng ta! Tất cả điều tôi có thể nói là xin Chúa chúc lành cho cha và công việc của cha... Xin cha tiếp tục cho tôi biết tin tức về cha, đó luôn luôn là điều rất thích thú đối với tôi. Việc chúng ta chia tay sẽ không cản trở lòng yêu mến nhau luôn trong trái tim Chúa Giêsu và Đức Mẹ.”
       Cha Eymard giờ đây bắt đầu cuộc hành trình mới mà trong một thời gian dài xem ra không chắc chắn và rõ ràng. Rời bỏ dòng Đức Mẹ là một nỗi đau. Bắt đầu thiết lập một dòng tu mới sẽ không cho cha có được sự nghỉ ngơi. Thật vậy, bị kiệt sức vì việc dàn xếp căng thẳng với dòng Đức Mẹ để cha được phép ra đi và có được sự phê chuẩn dự án mới về Thánh Thể khiến cha ngã bệnh viêm phổi trầm trọng, và bắt buộc phải nghĩ dưỡng bệnh với bạn bè ở trang viên Leudeville, miền nam Paris.
       Công trình Thánh Thể này đặt cha Eymard vào chiều hướng làm sống lại lòng sùng kính đối với Thánh Thể đang diễn ra trong Giáo Hội Pháp thời kỳ đó. Nói chung, dù người ta vẫn chưa rước lễ thường xuyên, nhưng những hạt giống của việc đề cao giá trị Thánh Thể đã được gieo xuống qua nhiều hoạt động sùng kính. Cha Eymard đã khuyến khích không mệt mỏi việc rước lễ thường xuyên, trái với việc thực hành và suy nghĩ thời đó. Một số người cùng thời với cha bằng nhiều cách đã khuyến khích việc sùng kính Thánh Thể với những hình thức khác nhau: Marie Tamisier vừa mới khai mạc Đại Hội Thánh Thể; Hermann Cohen và Raymond de Cuers cũng đã xúc tiến một hội chầu đêm; Mẹ Dubouche đã thành lập một tu hội nữ chuyên tâm vào việc cầu nguyện trước Thánh Thể.
       Đóng góp đặc biệt của riêng cha Eymard cho sự phát triển nhận thức về giá trị Thánh Thể trong đời sống Kitô hữu được diễn tả tốt nhất trong xác tín của cha: Thánh Thể chính là suối nguồn cho sự phục hưng Giáo Hội Công Giáo. Chính niềm xác tín này giờ đây hướng dẫn đời sống cha, và rõ ràng đã trở thành tảng đá đỉnh vòm trong di sản tâm linh của cha.




No comments:

Post a Comment